Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Họa sĩ Tô Ngọc Vân - Nhân cách lớn của nền hội họa Việt Nam - Designs.vn

Họa sĩ Tô Ngọc Vân - Nhân cách lớn của nền hội họa Việt Nam

Designs.vn
Tô Ngọc Vân (1906-1954) là một trong những họa sỹ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội. Ông được biết đến như một họa sĩ tài năng, uyên bác, mẫu mực trong sự chuyển mình, rực rỡ trong nghệ thuật, hết lòng trong đào tạo lớp trẻ mỹ thuật, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc của đất nước.

Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật Đông Dương, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam và là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu này ở Việt Nam. Tô Ngọc Vân được đánh giá là một tài năng xuất sắc, một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nóng bỏng nhiệt huyết và tình yêu quê hương, đất nước. Ông đã viết những dòng tự sự "...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới...". Ông từng được xếp ở vị trí thứ ba trong câu truyền tụng về “tứ bất tử” của nền hội họa Việt Nam thế kỷ XX: “Nhất Trí” (Nguyễn Gia Trí), “Nhì Lân” (Nguyễn Tường Lân), “Tam Vân” (Tô Ngọc Vân), “Tứ Cẩn” (Trần Văn Cẩn).

Thông qua mỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp duyên dáng của người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ. Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất và gây được nhiều tiếng vang nhất của ông, cả trong nước lẫn quốc tế. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.

Các tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân luôn luôn mang đến cho người xem rất nhiều cảm xúc dâng trào. Ở Tô Ngọc Vân, những tri thức hội họa phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam. Ông là một trong những họa sĩ người Việt hiếm hoi từng vẽ tem ngay trong thời Pháp thuộc. Không chỉ có vẽ để thể hiện và khẳng định tinh thần dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, Tô Ngọc Vân còn tích cực viết báo bày tỏ quan điểm của mình. Ông là một trong số hiếm hoi nhà phê bình mỹ thuật thời đó và đồng thời là một họa sỹ tài danh nên các bài viết của ông gây sự chú ý lớn đối với giới trí thức và những người có thiện cảm với hội họa hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu. Tuy bận bịu đến vậy, ông vẫn không quên tìm hiểu sâu sắc hơn nữa đặc tính của sơn mài Việt Nam để từng bước khẳng định sự phù hợp của chất liệu này với hội họa hiện đại, tạo nên vẻ đẹp độc đáo riêng biệt của hội họa Việt Nam.

Để ghi nhớ công lao của ông, một khóa học của trường Mỹ thuật Việt Nam từ chiến khu trở về thủ đô đã lấy tên ông: Khóa học Tô Ngọc Vân 1955-1957. Toàn bộ tác phẩm của ông được Nhà nước lưu giữ, trưng bày tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ông là một trong tám họa sỹ hàng đầu của đất nước được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), giải thưởng cao quý của Nhà nước ta, ghi dấu tài năng và công lao đóng góp to lớn cho sự phát triển của dân tộc dành cho các nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hóa.

Tên thật: Tô Ngọc Vân
Bút danh: Tô Tử, Ái Mỹ
Ngày sinh: 15 tháng 12 năm 1906 tại Hà Nội
Ngày mất: 17 tháng 6 năm 1954 trong một cuộc dội bom của Pháp tại Km41, Ba Khe, Sơn La.
Giải thưởng:
- Bằng danh dự của triển lãm Thuộc địa Paris năm 1931
- Khen thưởng danh dự tại triển lãm của Hội Họa sỹ Pháp - Salon Paris năm 1932.
- Giải nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1954.
- Huân chương Độc lập Hạng Nhất.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Các tác phẩm chính:

Trước 1945: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé, Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa, Buổi trưa, Bên hoa

Sau 1945: Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ phủ, Nghỉ đêm bên đồi, Con trâu quả thực, Hai chiến sĩ, Nghỉ chân bên đường

Một số tác phẩm tiêu biểu của Họa sĩ Tô Ngọc Vân
Tác phẩm "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương


Tác phẩm "Hai thiếu nữ và em bé" năm 1944


Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ, 1946, sơn dầu


Đốt cuốc đi học, 1954, thuốc nước


Hà Nội vùng đứng lên, 1946, khắc gỗ


Con trâu quả thực, 1954, ký họa màu nước


Hai chiến sĩ, 1949, màu nước


Bộ tem bưu chính Đông Dương do hoạ sỹ Tô Ngọc Vân thiết kế

Thiếu nữ bên hoa sen, 1943


Tranh buổi trưa, 1936

Tranh thiếu nữ ngắm tranh, 1938

Làng quê

Nghỉ chân bên đường

Thiếu nữ


Bản "Số đỏ" có bìa do Tô Ngọc Vân trình bày





Một số hình ảnh về tác giả




Chân dung Họa sĩ Tô Ngọc Vân


Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến.




Designs.vn - Thứ 6, 06/11/2015.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân - Nhân cách lớn của nền hội họa Việt Nam

Designs.vn
Tô Ngọc Vân (1906-1954) là một trong những họa sỹ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội. Ông được biết đến như một họa sĩ tài năng, uyên bác, mẫu mực trong sự chuyển mình, rực rỡ trong nghệ thuật, hết lòng trong đào tạo lớp trẻ mỹ thuật, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc của đất nước.

Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật Đông Dương, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam và là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu này ở Việt Nam. Tô Ngọc Vân được đánh giá là một tài năng xuất sắc, một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nóng bỏng nhiệt huyết và tình yêu quê hương, đất nước. Ông đã viết những dòng tự sự "...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới...". Ông từng được xếp ở vị trí thứ ba trong câu truyền tụng về “tứ bất tử” của nền hội họa Việt Nam thế kỷ XX: “Nhất Trí” (Nguyễn Gia Trí), “Nhì Lân” (Nguyễn Tường Lân), “Tam Vân” (Tô Ngọc Vân), “Tứ Cẩn” (Trần Văn Cẩn).

Thông qua mỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp duyên dáng của người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ. Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất và gây được nhiều tiếng vang nhất của ông, cả trong nước lẫn quốc tế. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.

Các tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân luôn luôn mang đến cho người xem rất nhiều cảm xúc dâng trào. Ở Tô Ngọc Vân, những tri thức hội họa phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam. Ông là một trong những họa sĩ người Việt hiếm hoi từng vẽ tem ngay trong thời Pháp thuộc. Không chỉ có vẽ để thể hiện và khẳng định tinh thần dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, Tô Ngọc Vân còn tích cực viết báo bày tỏ quan điểm của mình. Ông là một trong số hiếm hoi nhà phê bình mỹ thuật thời đó và đồng thời là một họa sỹ tài danh nên các bài viết của ông gây sự chú ý lớn đối với giới trí thức và những người có thiện cảm với hội họa hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu. Tuy bận bịu đến vậy, ông vẫn không quên tìm hiểu sâu sắc hơn nữa đặc tính của sơn mài Việt Nam để từng bước khẳng định sự phù hợp của chất liệu này với hội họa hiện đại, tạo nên vẻ đẹp độc đáo riêng biệt của hội họa Việt Nam.

Để ghi nhớ công lao của ông, một khóa học của trường Mỹ thuật Việt Nam từ chiến khu trở về thủ đô đã lấy tên ông: Khóa học Tô Ngọc Vân 1955-1957. Toàn bộ tác phẩm của ông được Nhà nước lưu giữ, trưng bày tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ông là một trong tám họa sỹ hàng đầu của đất nước được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), giải thưởng cao quý của Nhà nước ta, ghi dấu tài năng và công lao đóng góp to lớn cho sự phát triển của dân tộc dành cho các nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hóa.

Tên thật: Tô Ngọc Vân
Bút danh: Tô Tử, Ái Mỹ
Ngày sinh: 15 tháng 12 năm 1906 tại Hà Nội
Ngày mất: 17 tháng 6 năm 1954 trong một cuộc dội bom của Pháp tại Km41, Ba Khe, Sơn La.
Giải thưởng:
- Bằng danh dự của triển lãm Thuộc địa Paris năm 1931
- Khen thưởng danh dự tại triển lãm của Hội Họa sỹ Pháp - Salon Paris năm 1932.
- Giải nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1954.
- Huân chương Độc lập Hạng Nhất.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Các tác phẩm chính:

Trước 1945: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé, Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa, Buổi trưa, Bên hoa

Sau 1945: Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ phủ, Nghỉ đêm bên đồi, Con trâu quả thực, Hai chiến sĩ, Nghỉ chân bên đường

Một số tác phẩm tiêu biểu của Họa sĩ Tô Ngọc Vân
Tác phẩm "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương


Tác phẩm "Hai thiếu nữ và em bé" năm 1944


Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ, 1946, sơn dầu


Đốt cuốc đi học, 1954, thuốc nước


Hà Nội vùng đứng lên, 1946, khắc gỗ


Con trâu quả thực, 1954, ký họa màu nước


Hai chiến sĩ, 1949, màu nước


Bộ tem bưu chính Đông Dương do hoạ sỹ Tô Ngọc Vân thiết kế

Thiếu nữ bên hoa sen, 1943


Tranh buổi trưa, 1936

Tranh thiếu nữ ngắm tranh, 1938

Làng quê

Nghỉ chân bên đường

Thiếu nữ


Bản "Số đỏ" có bìa do Tô Ngọc Vân trình bày





Một số hình ảnh về tác giả




Chân dung Họa sĩ Tô Ngọc Vân


Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến.




Designs.vn - Thứ 6, 06/11/2015.

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

"Vò lúa" - Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Vò lúa


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Thời gian sáng tác: 1954

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Vò lúa


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Thời gian sáng tác: 1954

"Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ" - Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Khắc gỗ (? sơn dầu)
Kích thước: 59.5 x 41.5 cm.
Thời gian sáng tác: 1946

Tô Ngọc Vân, Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ phủ, 1946, sơn dầu.
Tác phẩm tham dự Triển lãm Tháng Tám năm 1946 (tức MTTQ lần thức II).
Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Khắc gỗ (? sơn dầu)
Kích thước: 59.5 x 41.5 cm.
Thời gian sáng tác: 1946

Tô Ngọc Vân, Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ phủ, 1946, sơn dầu.
Tác phẩm tham dự Triển lãm Tháng Tám năm 1946 (tức MTTQ lần thức II).

"Thiếu nữ dân tộc đứng" - Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thiếu nữ dân tộc đứng


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Thời gian sáng tác: 1954

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thiếu nữ dân tộc đứng


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Thời gian sáng tác: 1954

"Cầm đuốc đi học" - Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Cầm đuốc đi học


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Kích thước: 50 x 30 cm.
Thời gian sáng tác: 1954

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Cầm đuốc đi học


Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Màu nước
Kích thước: 50 x 30 cm.
Thời gian sáng tác: 1954

"Thuyền trên sông Hương" - Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thuyền trên sông Hương



Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Sơn dầu
Kích thước: 50 x 65 cm.
Thời gian sáng tác: 1935

Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thuyền trên sông Hương



Tác giả: Tô Ngọc Vân
Chất liệu: Sơn dầu
Kích thước: 50 x 65 cm.
Thời gian sáng tác: 1935

Thiếu nữ bên hoa huệ - Art Ly

Thiếu nữ bên hoa huệ

Art Ly
“Thiếu nữ bên hoa huệ”


Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) quê ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, Huyện Văn Giang, tỉnh hưng Yên. Ông sinh ra tại Hà Nội ngày 15 tháng 12 năm 1906. Theo học khóa sơn dầu 1926-1931 của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Tô Ngọc Vân được coi là một trong những nghệ sĩ xuất sắc của hội họa Việt Nam trước 1945 với câu so sánh "Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn". Ông bắt đầu có nhiều tác phẩm đáng chú ý từ thập niên 1930, trong đó “Thiếu nữ bên hoa huệ” (sơn dầu -1943) hiện đang được lưu giữ tại Bảo Tàng mĩ thuật Hà Nội (? AM). Đây là một bức tranh mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng bên cạnh lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận của các hoạ sĩ. Với người nghệ sĩ, đó không chỉ là vẻ đẹp của hình sắc mà còn là cái đẹp trong quan niệm. Đó là hình ảnh bất biến nhưng không bất định mà uyển chuyển, biến tấu kỳ diệu trong từng cây cọ, lúc mờ khi tỏ trong vô vàn sắc điệu.

Trong bức tranh “Thiếu Nữ bên hoa huệ”, qua bút pháp tả thực ấn tượng phương Tây với cảm quan phương Đông của Tô Ngọc Vân, người thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách tự nhiên về phía lọ hoa huệ trắng, hiện ra trong dáng vẻ trữ tình, trong sáng, gợi điều gì đó vừa thanh cao, bình lặng. Tô Ngọc Vân không những cho ta thấy được vẻ đẹp của hình và sắc của người thiếu nữ bên hoa huệ mà còn cho chúng ta thấy sự xắp xếp bố cục có chủ ý của mình. Trên bức tranh ta hãy vạch một đường cong tự nhiên theo cơ thể cô gái và qua các điểm: Một ở nhuỵ bông hoa bên phải, một ở đài nụ cong xuống, một ở đầu ngón tay phải và điểm cuối cùng ở trung tâm bố cục có ý nghĩa nhất của bức tranh: nhuỵ bông hoa ở giữa. Đó là Đường xoắn ốc vàng. Chính bố cục Xoắn ốc vàng tạo nên hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm. Tính xoắn ốc của đường cong cho ta cảm nhận tâm trạng ưu tư, day dứt của cô gái; tỉ lệ vàng quy định độ mở của đường xoắn ốc đã cho ta cảm giác hài hoà của bức tranh – mặc dù tư thế của thiếu nữ này có thể nói là đặc biệt. dáng người tạo thành hình vòng cung như ôm lấy những bông hoa trắng, trông tĩnh mà động. Thiếu nữ với trang phục, khuôn mặt, bàn tay được diễn tả bằng những khối được giản lược, trong không gian chan hòa ánh sáng. Tuy theo kỹ thuật tạo hình và chất liệu phương Tây nhưng bức tranh vẫn mang sắc thái Việt Nam qua việc đơn giản hóa khối và màu sắc trong sử lý tác phẩm.

Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ.

Bố cục tranh được quy về hình chữ nhật, hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Tô Ngọc Vân đã rất thành công cho người xem thấy được vẻ đẹp đầy đặn, mặn mà, đằm thắm của thiếu nữ.

Tranh có 3 màu chủ đạo là vàng, xanh, trắng. Sự xăp xếp các mảng màu trắng, xanh, vàng theo những đường lượn phong phú đã tạo nhịp điệu cho bức tranh. sự cân đối giữa các mảng màu vàng, hồng trên má, bàn tay với những mảng màu xanh của lá hoa, xanh của bình và xanh phản phất ở tà áo dài kết hợp với những mảng màu trắng trên trang phục, ở những bông hoa huệ tinh khiết đã tạo nên sự hài hòa về màu sắc.

Trong màu trắng phớt xanh, phớt hồng, một cô gái hơi nghiêng, đầu ngả trên cánh tay đang ngắm hoa. Dáng mềm mại của cô gái đựoc tôn thêm bằng tư thế đặc biệt của hai tay: Cánh tay trái ṿung qua đầu, đặt hờ lên mái tóc; Cánh tay phải co tự hiên, bàn tay hơi khum, ngón tay đỡ lấy cánh hoa nâng niu, gượng nhẹ. Gương mặt cô gái như phảng phất một nỗi buồn man mác. Màu xanh ở các sắc độ cùng với trắng ngả xanh gây cho người xem cảm giác hơi buồn, lạnh. Những bông huệ to, nổi bật bởi màu trắng tinh khiết như mang theo hương thơm thoang thoảng, cùng cái thanh tao, huyền diệu của loài hoa này. Toàn bộ bức tranh như thầm kể với người xem về một cô gái trong trắng, thơ ngây, nhưng cũng đầy ưu tư.

“Thiếu nữ Bên Hoa Huệ” là một kiệt tác nghệ thuật của Tô Ngọc Vân, cũng như là một trong số đại diện tiêu biểu nhất của mĩ thuật việt nam đầu thế kỉ 20. có thể nói những tác phẩm hội họa của Tô ngọc vân để lại là những “viên gạch” đầu tiên tạo dựng nền móng vững chắc cho hh của dân tộc việt nam chúng ta phát triển sau này. Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” là 1 chứng minh cụ thể nhất cho điều đó.



FB Art Ly - 15 Tháng 4, 2016.

Thiếu nữ bên hoa huệ

Art Ly
“Thiếu nữ bên hoa huệ”


Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) quê ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, Huyện Văn Giang, tỉnh hưng Yên. Ông sinh ra tại Hà Nội ngày 15 tháng 12 năm 1906. Theo học khóa sơn dầu 1926-1931 của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Tô Ngọc Vân được coi là một trong những nghệ sĩ xuất sắc của hội họa Việt Nam trước 1945 với câu so sánh "Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn". Ông bắt đầu có nhiều tác phẩm đáng chú ý từ thập niên 1930, trong đó “Thiếu nữ bên hoa huệ” (sơn dầu -1943) hiện đang được lưu giữ tại Bảo Tàng mĩ thuật Hà Nội (? AM). Đây là một bức tranh mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng bên cạnh lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận của các hoạ sĩ. Với người nghệ sĩ, đó không chỉ là vẻ đẹp của hình sắc mà còn là cái đẹp trong quan niệm. Đó là hình ảnh bất biến nhưng không bất định mà uyển chuyển, biến tấu kỳ diệu trong từng cây cọ, lúc mờ khi tỏ trong vô vàn sắc điệu.

Trong bức tranh “Thiếu Nữ bên hoa huệ”, qua bút pháp tả thực ấn tượng phương Tây với cảm quan phương Đông của Tô Ngọc Vân, người thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách tự nhiên về phía lọ hoa huệ trắng, hiện ra trong dáng vẻ trữ tình, trong sáng, gợi điều gì đó vừa thanh cao, bình lặng. Tô Ngọc Vân không những cho ta thấy được vẻ đẹp của hình và sắc của người thiếu nữ bên hoa huệ mà còn cho chúng ta thấy sự xắp xếp bố cục có chủ ý của mình. Trên bức tranh ta hãy vạch một đường cong tự nhiên theo cơ thể cô gái và qua các điểm: Một ở nhuỵ bông hoa bên phải, một ở đài nụ cong xuống, một ở đầu ngón tay phải và điểm cuối cùng ở trung tâm bố cục có ý nghĩa nhất của bức tranh: nhuỵ bông hoa ở giữa. Đó là Đường xoắn ốc vàng. Chính bố cục Xoắn ốc vàng tạo nên hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm. Tính xoắn ốc của đường cong cho ta cảm nhận tâm trạng ưu tư, day dứt của cô gái; tỉ lệ vàng quy định độ mở của đường xoắn ốc đã cho ta cảm giác hài hoà của bức tranh – mặc dù tư thế của thiếu nữ này có thể nói là đặc biệt. dáng người tạo thành hình vòng cung như ôm lấy những bông hoa trắng, trông tĩnh mà động. Thiếu nữ với trang phục, khuôn mặt, bàn tay được diễn tả bằng những khối được giản lược, trong không gian chan hòa ánh sáng. Tuy theo kỹ thuật tạo hình và chất liệu phương Tây nhưng bức tranh vẫn mang sắc thái Việt Nam qua việc đơn giản hóa khối và màu sắc trong sử lý tác phẩm.

Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ.

Bố cục tranh được quy về hình chữ nhật, hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Tô Ngọc Vân đã rất thành công cho người xem thấy được vẻ đẹp đầy đặn, mặn mà, đằm thắm của thiếu nữ.

Tranh có 3 màu chủ đạo là vàng, xanh, trắng. Sự xăp xếp các mảng màu trắng, xanh, vàng theo những đường lượn phong phú đã tạo nhịp điệu cho bức tranh. sự cân đối giữa các mảng màu vàng, hồng trên má, bàn tay với những mảng màu xanh của lá hoa, xanh của bình và xanh phản phất ở tà áo dài kết hợp với những mảng màu trắng trên trang phục, ở những bông hoa huệ tinh khiết đã tạo nên sự hài hòa về màu sắc.

Trong màu trắng phớt xanh, phớt hồng, một cô gái hơi nghiêng, đầu ngả trên cánh tay đang ngắm hoa. Dáng mềm mại của cô gái đựoc tôn thêm bằng tư thế đặc biệt của hai tay: Cánh tay trái ṿung qua đầu, đặt hờ lên mái tóc; Cánh tay phải co tự hiên, bàn tay hơi khum, ngón tay đỡ lấy cánh hoa nâng niu, gượng nhẹ. Gương mặt cô gái như phảng phất một nỗi buồn man mác. Màu xanh ở các sắc độ cùng với trắng ngả xanh gây cho người xem cảm giác hơi buồn, lạnh. Những bông huệ to, nổi bật bởi màu trắng tinh khiết như mang theo hương thơm thoang thoảng, cùng cái thanh tao, huyền diệu của loài hoa này. Toàn bộ bức tranh như thầm kể với người xem về một cô gái trong trắng, thơ ngây, nhưng cũng đầy ưu tư.

“Thiếu nữ Bên Hoa Huệ” là một kiệt tác nghệ thuật của Tô Ngọc Vân, cũng như là một trong số đại diện tiêu biểu nhất của mĩ thuật việt nam đầu thế kỉ 20. có thể nói những tác phẩm hội họa của Tô ngọc vân để lại là những “viên gạch” đầu tiên tạo dựng nền móng vững chắc cho hh của dân tộc việt nam chúng ta phát triển sau này. Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” là 1 chứng minh cụ thể nhất cho điều đó.



FB Art Ly - 15 Tháng 4, 2016.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

THIẾU NỮ HÀ THÀNH NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRANH VẼ PHỤ NỮ VIỆT NAM CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN


THIẾU NỮ HÀ THÀNH NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRANH VẼ PHỤ NỮ VIỆT NAM CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

Nguyễn Tấn Đạt

Con người là sản phẩm cao quý nhất do lao động hình thành nên có cấu trúc tỉ lệ cân đối hoàn chỉnh có cấu tạo hình khối đẹp nhất trong giới tự nhiên. Chính vì vậy từ ngàn xưa cho tới nay hình tượng con người đặc biệt là người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà nghệ sĩ cho dù cơ thể người phụ nữ là đối tượng khó vẽ và phức tạp đối với người học vẽ và sáng tạo mỹ thuật.


Hai thiếu nữ và em bé - Tô Ngọc Vân


Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân


Hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất sớm trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam, từ thuở hồng hoang trên vách đá hang Đồng Nội (Hoà Bình). Người Việt cổ xưa đã phản ánh vẻ đẹp của các cô gái nguyên thuỷ bằng những nét đục khắc thô sơ, ngộ nghĩnh. Có lẽ đây là "tác phẩm" mỹ thuật cổ nhất ở nước ta. Đến thời đồ đồng, người phụ nữ cùng công việc, chức năng của họ đã đi vào đời sống mỹ thuật thực dụng khá độc đáo, phong phú. Từ đầu đến eo, hông của họ được tạo hình thành chuôi dao, cán rìu, rồi đến những công việc như xay thóc, giã gạo, nhảy múa và nhiều động thái vũ đạo đa dạng, phóng khoáng được cách điệu tài tình bằng những nét, mảng kỷ hà khái quát cao độ trên các mặt và tang trống đồng, đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ. Thiên chức làm vợ và sinh nở được đưa lên thành hình tượng nghệ thuật hết sức táo bạo trên nắp thạp đồng Đào Thịnh.

Nếu như nghệ thuật ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng vai trò người đàn bà được sánh ngang hàng với đàn ông trong sinh hoạt bình thường mang nhiều tính nhân văn thì càng dần về sau hình tượng phụ nữ được phân định thứ bậc. Họ đã hoá thân thành Phật Bà linh thiêng với nhiều bàn tay, con mắt đứng ngồi vào hàng tôn nghiêm trong Tam Bảo hoặc được cách điệu đẹp rất "thần linh" trong các nhân vật Thánh Mẫu, Tiên Cô, Bà Chúa... theo quan niệm siêu phàm của tín ngưỡng... qua các tượng và tranh thờ từ miền xuôi lên miền núi. Cái đẹp của thân liễu bồ được các nghệ sĩ cung đình xưa với cách nhìn tinh tế và quan niệm dân gian lành mạnh, khoẻ khoắn, táo bạo đưa lên thành những bố cục chạm khắc bằng chất liệu gỗ, đá vô tri, tạo ra những tác phẩm tuyệt mỹ như "Cung nữ múa hát", "Nữ tỳ dâng hoa", "Làm trò", "Chuốc rượu"... Lúc thịnh nền văn minh châu thổ trong ấm no, hạnh phúc của xóm làng trù mật thì hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất nhiều trong các bức chạm nổi trên gỗ, đá ở đình, chùa, miếu, am; những cảnh "Tắm đầm sen", "Gái trai đùa ghẹo", "Chải tóc", "Bắt cua", "Chèo thuyền"... được các nghệ sĩ nơi dân dã thể hiện tài tình bằng những khoảng "lộng" hay những khối chìm nổi mang lại cho tác phẩm chất thần rất đáng khâm phục.

Với hội họa truyền thống, hình tượng phụ nữ với vẻ đẹp của đôi mắt lá dăm, đôi mày lá liễu, tóc bỏ đuôi gà... cùng những đường cong gợi cảm ẩn trong mảnh yếm thắm, tà áo tứ thân đã khiến các họa sĩ của các dòng tranh dân gian mê đắm, tạo ra nhiều tác phẩm như "Hứng dừa", "Đánh ghen", "Bà Triệu", "Bà Trưng"... (Đông Hồ) và "Tố nữ", "Thuý Kiều", "Hội chùa", "Đi chợ" (Hàng Trống)


Đánh ghen - Tranh dân gian Đông Hồ


Hứng dừa - tranh dân gian Đông Hồ


Khi mỹ thuật hiện đại ra đời (1925) các họa sĩ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được tiếp thu những kiến thức tạo hình hàn lâm, hiện đại, họ nhìn nhận và nghiên cứu hình thể phụ nữ rất kỹ bằng những bài hình họa nghiêm túc và đã đưa vẻ đẹp vĩnh hằng với những đường cong tuyệt mỹ vào những kiệt tác mà cho tới mai sau vẫn là báu vật văn hóa nước nhà. Nổi bật trong số các họa sĩ tiêu biểu trong thời kì này là họa sĩ Tô Ngọc Vân với đề tài đặc sắc là người thiếu nữ hà thành. Từ tác phẩm “Dưới bóng nắng” vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng - tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ. Bức tranh được mọi người biết đến nhiều nhất và cũng được xem là kiệt tác về đề tài người phụ nữ bằng chất liệu sơn dầu nổi bật nhất của mỹ thuật Việt Nam là “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943) cô gái ngồi vén tóc bên những đoá hoa huệ thơm ngát màu chủ đạo trong tranh là màu trắng của áo dài và của những bông hoa huệ. Người phụ nữ được ông thể hiện với lòng trân trọng trước đối tượng, không sa vào khoái cảm nhục thể, hay cũng không quá mơ hồ, ẻo lả, kiêu sa như người phụ nữ trong tranh của các họa sĩ đương thời.

Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu - 1943)



Thiếu nữ Hà Nội xưa



Thiếu nữ Hà Nội mặc yếm



Thiếu nữ bên hoa Sen - Tô Ngọc Vân



Thiếu nữ bên tranh tố nữ - tranh lụa - Tô Ngọc Vân


Thông qua các tác phẩm vẽ phụ nữ Hà thành của ông ta thấy được nét đặc sắc rất riêng của ông không trộn lẫn với các họa sĩ cùng thời và có chổ đứng rất trang trọng trong lịch sử hội họa nước nhà. Vẽ đẹp người phụ nữ Hà thành trong tranh của ông là sự kết hợp trộn lẫn những nét tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong truyền thống ngàn năm và hiện đại với cái nhìn rất riêng rất đặc biệt của một nhà họa sĩ tài ba đáng để cho chúng ta khâm phục và nghiên cứu. Vẽ đẹp và sức sống của người phụ nữ trong tranh ông luôn cùng thời gian sống bước song hành.
Nguyễn Đạt


Blog Nguyễn Đạt - April 07, 2018.


THIẾU NỮ HÀ THÀNH NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRANH VẼ PHỤ NỮ VIỆT NAM CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

Nguyễn Tấn Đạt

Con người là sản phẩm cao quý nhất do lao động hình thành nên có cấu trúc tỉ lệ cân đối hoàn chỉnh có cấu tạo hình khối đẹp nhất trong giới tự nhiên. Chính vì vậy từ ngàn xưa cho tới nay hình tượng con người đặc biệt là người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà nghệ sĩ cho dù cơ thể người phụ nữ là đối tượng khó vẽ và phức tạp đối với người học vẽ và sáng tạo mỹ thuật.


Hai thiếu nữ và em bé - Tô Ngọc Vân


Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân


Hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất sớm trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam, từ thuở hồng hoang trên vách đá hang Đồng Nội (Hoà Bình). Người Việt cổ xưa đã phản ánh vẻ đẹp của các cô gái nguyên thuỷ bằng những nét đục khắc thô sơ, ngộ nghĩnh. Có lẽ đây là "tác phẩm" mỹ thuật cổ nhất ở nước ta. Đến thời đồ đồng, người phụ nữ cùng công việc, chức năng của họ đã đi vào đời sống mỹ thuật thực dụng khá độc đáo, phong phú. Từ đầu đến eo, hông của họ được tạo hình thành chuôi dao, cán rìu, rồi đến những công việc như xay thóc, giã gạo, nhảy múa và nhiều động thái vũ đạo đa dạng, phóng khoáng được cách điệu tài tình bằng những nét, mảng kỷ hà khái quát cao độ trên các mặt và tang trống đồng, đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ. Thiên chức làm vợ và sinh nở được đưa lên thành hình tượng nghệ thuật hết sức táo bạo trên nắp thạp đồng Đào Thịnh.

Nếu như nghệ thuật ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng vai trò người đàn bà được sánh ngang hàng với đàn ông trong sinh hoạt bình thường mang nhiều tính nhân văn thì càng dần về sau hình tượng phụ nữ được phân định thứ bậc. Họ đã hoá thân thành Phật Bà linh thiêng với nhiều bàn tay, con mắt đứng ngồi vào hàng tôn nghiêm trong Tam Bảo hoặc được cách điệu đẹp rất "thần linh" trong các nhân vật Thánh Mẫu, Tiên Cô, Bà Chúa... theo quan niệm siêu phàm của tín ngưỡng... qua các tượng và tranh thờ từ miền xuôi lên miền núi. Cái đẹp của thân liễu bồ được các nghệ sĩ cung đình xưa với cách nhìn tinh tế và quan niệm dân gian lành mạnh, khoẻ khoắn, táo bạo đưa lên thành những bố cục chạm khắc bằng chất liệu gỗ, đá vô tri, tạo ra những tác phẩm tuyệt mỹ như "Cung nữ múa hát", "Nữ tỳ dâng hoa", "Làm trò", "Chuốc rượu"... Lúc thịnh nền văn minh châu thổ trong ấm no, hạnh phúc của xóm làng trù mật thì hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất nhiều trong các bức chạm nổi trên gỗ, đá ở đình, chùa, miếu, am; những cảnh "Tắm đầm sen", "Gái trai đùa ghẹo", "Chải tóc", "Bắt cua", "Chèo thuyền"... được các nghệ sĩ nơi dân dã thể hiện tài tình bằng những khoảng "lộng" hay những khối chìm nổi mang lại cho tác phẩm chất thần rất đáng khâm phục.

Với hội họa truyền thống, hình tượng phụ nữ với vẻ đẹp của đôi mắt lá dăm, đôi mày lá liễu, tóc bỏ đuôi gà... cùng những đường cong gợi cảm ẩn trong mảnh yếm thắm, tà áo tứ thân đã khiến các họa sĩ của các dòng tranh dân gian mê đắm, tạo ra nhiều tác phẩm như "Hứng dừa", "Đánh ghen", "Bà Triệu", "Bà Trưng"... (Đông Hồ) và "Tố nữ", "Thuý Kiều", "Hội chùa", "Đi chợ" (Hàng Trống)


Đánh ghen - Tranh dân gian Đông Hồ


Hứng dừa - tranh dân gian Đông Hồ


Khi mỹ thuật hiện đại ra đời (1925) các họa sĩ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được tiếp thu những kiến thức tạo hình hàn lâm, hiện đại, họ nhìn nhận và nghiên cứu hình thể phụ nữ rất kỹ bằng những bài hình họa nghiêm túc và đã đưa vẻ đẹp vĩnh hằng với những đường cong tuyệt mỹ vào những kiệt tác mà cho tới mai sau vẫn là báu vật văn hóa nước nhà. Nổi bật trong số các họa sĩ tiêu biểu trong thời kì này là họa sĩ Tô Ngọc Vân với đề tài đặc sắc là người thiếu nữ hà thành. Từ tác phẩm “Dưới bóng nắng” vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng - tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ. Bức tranh được mọi người biết đến nhiều nhất và cũng được xem là kiệt tác về đề tài người phụ nữ bằng chất liệu sơn dầu nổi bật nhất của mỹ thuật Việt Nam là “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943) cô gái ngồi vén tóc bên những đoá hoa huệ thơm ngát màu chủ đạo trong tranh là màu trắng của áo dài và của những bông hoa huệ. Người phụ nữ được ông thể hiện với lòng trân trọng trước đối tượng, không sa vào khoái cảm nhục thể, hay cũng không quá mơ hồ, ẻo lả, kiêu sa như người phụ nữ trong tranh của các họa sĩ đương thời.

Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu - 1943)



Thiếu nữ Hà Nội xưa



Thiếu nữ Hà Nội mặc yếm



Thiếu nữ bên hoa Sen - Tô Ngọc Vân



Thiếu nữ bên tranh tố nữ - tranh lụa - Tô Ngọc Vân


Thông qua các tác phẩm vẽ phụ nữ Hà thành của ông ta thấy được nét đặc sắc rất riêng của ông không trộn lẫn với các họa sĩ cùng thời và có chổ đứng rất trang trọng trong lịch sử hội họa nước nhà. Vẽ đẹp người phụ nữ Hà thành trong tranh của ông là sự kết hợp trộn lẫn những nét tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong truyền thống ngàn năm và hiện đại với cái nhìn rất riêng rất đặc biệt của một nhà họa sĩ tài ba đáng để cho chúng ta khâm phục và nghiên cứu. Vẽ đẹp và sức sống của người phụ nữ trong tranh ông luôn cùng thời gian sống bước song hành.
Nguyễn Đạt


Blog Nguyễn Đạt - April 07, 2018.

GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

Nguyễn Tấn Đạt

1. BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ 20




Trong những năm 1920 xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc ở thành thị cuộc sống tư sản hoá đã thắng lợi và ổn định, đời sống về mặt tinh thần cũng được đòi hỏi với nhu cầu tiếp cận với nền văn minh phương tây đặc biệt là Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân thành thị điều đó ảnh hưởng nhiều đến những giá trị truyền thống của người Việt Nam. Cho đến vài năm đầu của những năm 30, thực dân pháp đã thực hiện ở Việt Nam hai cuộc khai thác thuộc địa. Dù cố duy trì phương thức bốc lột phong kiến, khai thác thuộc địa tất nhiên làm nẩy nở những quan hệ tư sản, tầng lớp tiểu tư sản hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đến những năm 20 đông đảo lên chưa từng thấy. Nhiệp độ và tốc độ cuộc sống gấp và nhanh, những mối liên hệ giữa các thành thị và quan hệ giao lưu quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã làm cho thành thị thay đổi mau lẹ. Một lối sống tư sản hoá lan tràn khắp nơi ở thành thị Việt Nam. Trong môi trường ấy, các tầng lớp và giai cấp ở thành thị-tư sản và công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, công chức, dân nghèo thành thị, tri thức tân học và nhà nho cho tới các cô sen, cậu bồi - tuy rất khác nhau về mức sống và khả năng thực hiện ước mơ của mình, rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thái độ đối với chế độ đương thời, vẫn gần nhau về những nét tâm lí và thị hiếu: thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong môi trường náo nhiệt, khao khác cái lạ, cái đang đổi thay. Tầng lớp trên của xã hội này có lối sinh họat thành thị mới theo văn minh phương Tây với những phương tiện sinh họat mới và hiện đại: Họ đi ô tô, ở nhà lầu, dùng quạt điện, mặc áo vét đi giầy bít, đi nghe hòa nhạc và xem phim... Thời trang cũng được thay đổi theo từng năm. Cũng với những thay đổi sinh họat là các thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc.

Văn hóa phương Tây với điện ảnh, các ca khúc Pháp, Mỹ, văn học lãng mạn Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc tới giới trí thức trẻ Việt Nam. Được học ở các trường Pháp như Quốc học Huế, Trường Bưởi, Petrus Ký rồi Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương... các thanh niên này nói được tiếng Pháp, yêu thích văn hóa Pháp. Họ nghe nhạc phương Tây, không thích đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị mà tập chơi mandoline, guitare và hơn nữa là violon, piano.

Nhiều giá trị bền vững của truyền thống bị giới trẻ coi thường, thậm trí còn mang ra chỉ trích. Chính hiện tượng đó ngày càng lớn khiến một số nhà tri thức cũ lo lắng “thế đạo nhân tâm” bị suy sụp do phát triển xã hội không gắn liền với yêu nước.

Trong khi đó thực dân pháp đã thực hiện một chính sách văn hoá nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những truyền thống tốt đẹp đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu trong văn hoá xưa. Pháp muốn cắt dứt mối quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và Trung Quốc đồng thời lại làm sống dậy đạo đức Khổng - Mạnh, Trình - Chu. Pháp khuyến khích đưa văn chương yêu đương uỷ mị của nước Trung Hoa nửa thuộc địa nửa phong kiến, đưa văn hoá phương tây, trước hết là văn hoá Pháp vào Việt Nam nhằm gây sự khiếp phục. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, nếu thực dân pháp khuyến khích chủ nghĩa cải lương tư sản là để phục vụ cho “chính sách hợp tác” thay cho “chính sách đồng hoá” đã bị phá sản trước nhân dân Việt Nam anh dũng, thì việc thực dân Pháp cho những viên chức văn hoá hô hào đổi mới là một bộ phận trong chính sách văn hóa " Lối thoát hơi cần thiết" thay thế cho chính sách đồng hoá, tiêu diệt văn hoá Việt Nam đã thất bại trước ý chí dân tộc của nhân dân ta. Tuy nhiên ngoài những mặt tiêu cực thì ở thành thị nhờ những phương tiện mới những tương tác mới đã mở ra trước mắt không chỉ “thế giới vĩ mô” mà còn “thế giới vi mô”, những xung đột và những mâu thuẩn mới mà công chúng cần khám phá, cũng như những nhận thức tiến bộ những nhu cầu và khoái cảm thẩm mĩ mới cần được đáp ứng.



Phố Tràng Tiền – Hà Nội đầu thế kỷ 20


GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

Nguyễn Tấn Đạt

1. BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ 20




Trong những năm 1920 xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc ở thành thị cuộc sống tư sản hoá đã thắng lợi và ổn định, đời sống về mặt tinh thần cũng được đòi hỏi với nhu cầu tiếp cận với nền văn minh phương tây đặc biệt là Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân thành thị điều đó ảnh hưởng nhiều đến những giá trị truyền thống của người Việt Nam. Cho đến vài năm đầu của những năm 30, thực dân pháp đã thực hiện ở Việt Nam hai cuộc khai thác thuộc địa. Dù cố duy trì phương thức bốc lột phong kiến, khai thác thuộc địa tất nhiên làm nẩy nở những quan hệ tư sản, tầng lớp tiểu tư sản hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đến những năm 20 đông đảo lên chưa từng thấy. Nhiệp độ và tốc độ cuộc sống gấp và nhanh, những mối liên hệ giữa các thành thị và quan hệ giao lưu quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã làm cho thành thị thay đổi mau lẹ. Một lối sống tư sản hoá lan tràn khắp nơi ở thành thị Việt Nam. Trong môi trường ấy, các tầng lớp và giai cấp ở thành thị-tư sản và công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, công chức, dân nghèo thành thị, tri thức tân học và nhà nho cho tới các cô sen, cậu bồi - tuy rất khác nhau về mức sống và khả năng thực hiện ước mơ của mình, rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thái độ đối với chế độ đương thời, vẫn gần nhau về những nét tâm lí và thị hiếu: thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong môi trường náo nhiệt, khao khác cái lạ, cái đang đổi thay. Tầng lớp trên của xã hội này có lối sinh họat thành thị mới theo văn minh phương Tây với những phương tiện sinh họat mới và hiện đại: Họ đi ô tô, ở nhà lầu, dùng quạt điện, mặc áo vét đi giầy bít, đi nghe hòa nhạc và xem phim... Thời trang cũng được thay đổi theo từng năm. Cũng với những thay đổi sinh họat là các thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc.

Văn hóa phương Tây với điện ảnh, các ca khúc Pháp, Mỹ, văn học lãng mạn Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc tới giới trí thức trẻ Việt Nam. Được học ở các trường Pháp như Quốc học Huế, Trường Bưởi, Petrus Ký rồi Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương... các thanh niên này nói được tiếng Pháp, yêu thích văn hóa Pháp. Họ nghe nhạc phương Tây, không thích đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị mà tập chơi mandoline, guitare và hơn nữa là violon, piano.

Nhiều giá trị bền vững của truyền thống bị giới trẻ coi thường, thậm trí còn mang ra chỉ trích. Chính hiện tượng đó ngày càng lớn khiến một số nhà tri thức cũ lo lắng “thế đạo nhân tâm” bị suy sụp do phát triển xã hội không gắn liền với yêu nước.

Trong khi đó thực dân pháp đã thực hiện một chính sách văn hoá nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những truyền thống tốt đẹp đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu trong văn hoá xưa. Pháp muốn cắt dứt mối quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và Trung Quốc đồng thời lại làm sống dậy đạo đức Khổng - Mạnh, Trình - Chu. Pháp khuyến khích đưa văn chương yêu đương uỷ mị của nước Trung Hoa nửa thuộc địa nửa phong kiến, đưa văn hoá phương tây, trước hết là văn hoá Pháp vào Việt Nam nhằm gây sự khiếp phục. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, nếu thực dân pháp khuyến khích chủ nghĩa cải lương tư sản là để phục vụ cho “chính sách hợp tác” thay cho “chính sách đồng hoá” đã bị phá sản trước nhân dân Việt Nam anh dũng, thì việc thực dân Pháp cho những viên chức văn hoá hô hào đổi mới là một bộ phận trong chính sách văn hóa " Lối thoát hơi cần thiết" thay thế cho chính sách đồng hoá, tiêu diệt văn hoá Việt Nam đã thất bại trước ý chí dân tộc của nhân dân ta. Tuy nhiên ngoài những mặt tiêu cực thì ở thành thị nhờ những phương tiện mới những tương tác mới đã mở ra trước mắt không chỉ “thế giới vĩ mô” mà còn “thế giới vi mô”, những xung đột và những mâu thuẩn mới mà công chúng cần khám phá, cũng như những nhận thức tiến bộ những nhu cầu và khoái cảm thẩm mĩ mới cần được đáp ứng.



Phố Tràng Tiền – Hà Nội đầu thế kỷ 20


Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ - Nguyễn Tấn Đạt

Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ - Tô Ngọc Vân


Nguyễn Tấn Đạt

Phân tích giá trị nghệ thuật của tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu-1943)
Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu - 1943)
Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân

Thiếu nữ bên hoa huệ là một bức tranh miêu tả dáng một thiếu nữ Hà thành nghiêng nghiêng thật tự nhiên, uyển chuyển, tay vờn nhẹ cành huệ trắng tinh khiết. Những hòa sắc và đường nét, hình khối giản dị của bức tranh toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng, không duyên cớ. Khi mà mọi người biết đến bức tranh, “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943), một kiệt tác của danh hoạ Tô Ngọc Vân, giá trị thẩm mỹ đã như một liều thuốc hữu hiệu gỡ bỏ một số định kiến xã hội lúc đương thời.Trong những năm 1920 xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc ở thành thị cuộc sống tư sản hoá đã thắng lợi và ổn định, đời sống về mặt tinh thần cũng được đòi hỏi với nhu cầu tiếp cận với nền văn minh phương tây đặc biệt là Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân này điều đó ảnh hưởng nhiều đến những giá trị truyền thống của người Việt Nam.

Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ - Tô Ngọc Vân


Nguyễn Tấn Đạt

Phân tích giá trị nghệ thuật của tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu-1943)
Thiếu nữ bên hoa huệ (sơn dầu - 1943)
Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân

Thiếu nữ bên hoa huệ là một bức tranh miêu tả dáng một thiếu nữ Hà thành nghiêng nghiêng thật tự nhiên, uyển chuyển, tay vờn nhẹ cành huệ trắng tinh khiết. Những hòa sắc và đường nét, hình khối giản dị của bức tranh toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng, không duyên cớ. Khi mà mọi người biết đến bức tranh, “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943), một kiệt tác của danh hoạ Tô Ngọc Vân, giá trị thẩm mỹ đã như một liều thuốc hữu hiệu gỡ bỏ một số định kiến xã hội lúc đương thời.Trong những năm 1920 xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc ở thành thị cuộc sống tư sản hoá đã thắng lợi và ổn định, đời sống về mặt tinh thần cũng được đòi hỏi với nhu cầu tiếp cận với nền văn minh phương tây đặc biệt là Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân này điều đó ảnh hưởng nhiều đến những giá trị truyền thống của người Việt Nam.