Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Hai người tàn tật
11:07 Nghiện
11:07 Nghiện
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Hai người tàn tật
11:07 Nghiện
11:07 Nghiện
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Lỡ quá ga
Những chuyện vui trên xe lửa của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mười phút sau tới ga Đồng Văn, thầy soát vé thân dắt người đàn bà xuống ga. Một lát sau thầy lên toa bảo mọi người:
- Mụ ta không chờ chuyến xe ngược, đòi ra đón ô-tô hàng.
Xe lửa lại chạy. Mấy bà chưa quên được câu chuyện ghê sợ vừa xảy ra, bô bô nói chuyện:
- Bà tính tí nữa mà chả chết à?
- Lắm người rõ dại.
Một người đàn ông vận quần áo nâu, từ nãy vẫn ngồi im, bỗng nói chêm vào:
- Bác ấy chả dại đâu các bà ạ. Lần này là lần thứ ba sở xe lửa mắc mưu bác ấy. Bác ấy đi đến ga Đồng Văn, nhưng chỉ lấy vé đến ga Cầu Guột thôi, để đỡ một hào tiền tàu!
Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, rồi một người hỏi:
- Sao bác biết?
Người kia ung dung đáp:
- Bác ấy người làng tôi chỉ cách ga Đồng Văn có một quãng đường.
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: Viet Messenger
Lỡ quá ga
Toa xe lửa không lấy gì làm đông lắm không thừa một chỗ nào nhưng hành khách ngồi thênh thang, rộng rãi, dễ chịu. Nếu nói tử tế với họ thì họ sẽ sẵn lòng ngồi xích lại nhau để nhường cho mình một chỗ: hành khách hạng tư người mình vẫn dễ dãi và tốt bụng.
Thế mà một người đàn bà cứ nhất định ngồi phệt xuống sàn toa, tuy hai ba hành khách đã hai, ba lần gọi: "Này bác, lại đây, còn rộng chán!" Người đàn bà quê như sợ hãi, rụt rè không dám ngồi cùng ghế với những người cao sang quá, và chỉ lễ phép trả lời: "Con không dám ạ, các bà để mặc con ạ! Con ngồi đây được ạ!" Có bà thương hại đứa con gái chừng năm, sáu tuổi đứng bên cạnh người nhà quê, đến dắt nó lại ngồi với mình, nhưng nó hét lên khóc và níu chặt lấy áo mẹ nọ. Bà kia đành để mặc nó.
Xe lửa đỗ vài phút ở một ga. Rồi lại từ từ bắt đầu chạy. Người đàn hà nhà quê giật mình hỏi:
- Thưa các ông, các bà, ga gì đây ạ?
Một hành khách đáp:
- Dễ ga Cầu Guột.
Người đàn bà hốt hoảng, một tay đặt thúng hành lý lên đầu, một tay dắt con đứng dậy:
- Cầu Guột à? Chết con rồi! Thế thì chết cháu rồi!
Một người âu phục kéo cánh cửa sổ toa, thò đầu ra ngoài nhìn nói:
- Phải ga Cầu Guột thực rồi!
Người kia kêu gần như khóc:
- Thôi chết tôi rồi! Tôi lỡ quá ga rồi!
Và lếch thếch lôi con ra cửa toa. Một bà hành khách vội thét:
- Chớ nhảy mà chết!
Thấy người nhà quê có vẻ liều lĩnh quả quyết lắm, bà ta tiếp luôn:
- Các ông bà giữ người ta lại hộ tí!
Vừa nói bà ta vừa đứng lên chạy theo. Bốn năm hành khách xúm lôi người đàn bà lại, vì người này nhất định giật ra để toan nhảy xuống đường.
Nghe tiếng ồn ào thầy soát vé chạy đến, rồi khi biết đầu đuôi câu chuyện, liền quát mắng:
- Muốn chết à! Sao gần đến ga không hỏi, hử? - Đoạn quay ra nói với mấy bà - Người nhà quê họ dại lắm, không trách được.
Thầy đã toan đi, nhưng lại giận dữ hỏi một câu nữa:
- Ừ, sao ngu thế hử, có mồm để làm gì mà không biết hỏi hử?
Người đàn bà đáng thương vẫn còn ngơ ngác nhìn xuống đường, mếu máo nói một mình:
- Chết tôi rồi! Khổ sở thân tôi!
- Thôi vào trong kia mà ngồi, rồi đến ga Đồng Văn, chờ chuyến xe ngược, người ta sẽ cho về Cầu Guột.
Thế mà một người đàn bà cứ nhất định ngồi phệt xuống sàn toa, tuy hai ba hành khách đã hai, ba lần gọi: "Này bác, lại đây, còn rộng chán!" Người đàn bà quê như sợ hãi, rụt rè không dám ngồi cùng ghế với những người cao sang quá, và chỉ lễ phép trả lời: "Con không dám ạ, các bà để mặc con ạ! Con ngồi đây được ạ!" Có bà thương hại đứa con gái chừng năm, sáu tuổi đứng bên cạnh người nhà quê, đến dắt nó lại ngồi với mình, nhưng nó hét lên khóc và níu chặt lấy áo mẹ nọ. Bà kia đành để mặc nó.
Xe lửa đỗ vài phút ở một ga. Rồi lại từ từ bắt đầu chạy. Người đàn hà nhà quê giật mình hỏi:
- Thưa các ông, các bà, ga gì đây ạ?
Một hành khách đáp:
- Dễ ga Cầu Guột.
Người đàn bà hốt hoảng, một tay đặt thúng hành lý lên đầu, một tay dắt con đứng dậy:
- Cầu Guột à? Chết con rồi! Thế thì chết cháu rồi!
Một người âu phục kéo cánh cửa sổ toa, thò đầu ra ngoài nhìn nói:
- Phải ga Cầu Guột thực rồi!
Người kia kêu gần như khóc:
- Thôi chết tôi rồi! Tôi lỡ quá ga rồi!
Và lếch thếch lôi con ra cửa toa. Một bà hành khách vội thét:
- Chớ nhảy mà chết!
Thấy người nhà quê có vẻ liều lĩnh quả quyết lắm, bà ta tiếp luôn:
- Các ông bà giữ người ta lại hộ tí!
Vừa nói bà ta vừa đứng lên chạy theo. Bốn năm hành khách xúm lôi người đàn bà lại, vì người này nhất định giật ra để toan nhảy xuống đường.
Nghe tiếng ồn ào thầy soát vé chạy đến, rồi khi biết đầu đuôi câu chuyện, liền quát mắng:
- Muốn chết à! Sao gần đến ga không hỏi, hử? - Đoạn quay ra nói với mấy bà - Người nhà quê họ dại lắm, không trách được.
Thầy đã toan đi, nhưng lại giận dữ hỏi một câu nữa:
- Ừ, sao ngu thế hử, có mồm để làm gì mà không biết hỏi hử?
Người đàn bà đáng thương vẫn còn ngơ ngác nhìn xuống đường, mếu máo nói một mình:
- Chết tôi rồi! Khổ sở thân tôi!
- Thôi vào trong kia mà ngồi, rồi đến ga Đồng Văn, chờ chuyến xe ngược, người ta sẽ cho về Cầu Guột.
Mười phút sau tới ga Đồng Văn, thầy soát vé thân dắt người đàn bà xuống ga. Một lát sau thầy lên toa bảo mọi người:
- Mụ ta không chờ chuyến xe ngược, đòi ra đón ô-tô hàng.
Xe lửa lại chạy. Mấy bà chưa quên được câu chuyện ghê sợ vừa xảy ra, bô bô nói chuyện:
- Bà tính tí nữa mà chả chết à?
- Lắm người rõ dại.
Một người đàn ông vận quần áo nâu, từ nãy vẫn ngồi im, bỗng nói chêm vào:
- Bác ấy chả dại đâu các bà ạ. Lần này là lần thứ ba sở xe lửa mắc mưu bác ấy. Bác ấy đi đến ga Đồng Văn, nhưng chỉ lấy vé đến ga Cầu Guột thôi, để đỡ một hào tiền tàu!
Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, rồi một người hỏi:
- Sao bác biết?
Người kia ung dung đáp:
- Bác ấy người làng tôi chỉ cách ga Đồng Văn có một quãng đường.
Khái Hưng
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: Viet Messenger
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Lỡ quá ga
Những chuyện vui trên xe lửa của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07.
Mười phút sau tới ga Đồng Văn, thầy soát vé thân dắt người đàn bà xuống ga. Một lát sau thầy lên toa bảo mọi người:
- Mụ ta không chờ chuyến xe ngược, đòi ra đón ô-tô hàng.
Xe lửa lại chạy. Mấy bà chưa quên được câu chuyện ghê sợ vừa xảy ra, bô bô nói chuyện:
- Bà tính tí nữa mà chả chết à?
- Lắm người rõ dại.
Một người đàn ông vận quần áo nâu, từ nãy vẫn ngồi im, bỗng nói chêm vào:
- Bác ấy chả dại đâu các bà ạ. Lần này là lần thứ ba sở xe lửa mắc mưu bác ấy. Bác ấy đi đến ga Đồng Văn, nhưng chỉ lấy vé đến ga Cầu Guột thôi, để đỡ một hào tiền tàu!
Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, rồi một người hỏi:
- Sao bác biết?
Người kia ung dung đáp:
- Bác ấy người làng tôi chỉ cách ga Đồng Văn có một quãng đường.
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: Viet Messenger
Lỡ quá ga
Toa xe lửa không lấy gì làm đông lắm không thừa một chỗ nào nhưng hành khách ngồi thênh thang, rộng rãi, dễ chịu. Nếu nói tử tế với họ thì họ sẽ sẵn lòng ngồi xích lại nhau để nhường cho mình một chỗ: hành khách hạng tư người mình vẫn dễ dãi và tốt bụng.
Thế mà một người đàn bà cứ nhất định ngồi phệt xuống sàn toa, tuy hai ba hành khách đã hai, ba lần gọi: "Này bác, lại đây, còn rộng chán!" Người đàn bà quê như sợ hãi, rụt rè không dám ngồi cùng ghế với những người cao sang quá, và chỉ lễ phép trả lời: "Con không dám ạ, các bà để mặc con ạ! Con ngồi đây được ạ!" Có bà thương hại đứa con gái chừng năm, sáu tuổi đứng bên cạnh người nhà quê, đến dắt nó lại ngồi với mình, nhưng nó hét lên khóc và níu chặt lấy áo mẹ nọ. Bà kia đành để mặc nó.
Xe lửa đỗ vài phút ở một ga. Rồi lại từ từ bắt đầu chạy. Người đàn hà nhà quê giật mình hỏi:
- Thưa các ông, các bà, ga gì đây ạ?
Một hành khách đáp:
- Dễ ga Cầu Guột.
Người đàn bà hốt hoảng, một tay đặt thúng hành lý lên đầu, một tay dắt con đứng dậy:
- Cầu Guột à? Chết con rồi! Thế thì chết cháu rồi!
Một người âu phục kéo cánh cửa sổ toa, thò đầu ra ngoài nhìn nói:
- Phải ga Cầu Guột thực rồi!
Người kia kêu gần như khóc:
- Thôi chết tôi rồi! Tôi lỡ quá ga rồi!
Và lếch thếch lôi con ra cửa toa. Một bà hành khách vội thét:
- Chớ nhảy mà chết!
Thấy người nhà quê có vẻ liều lĩnh quả quyết lắm, bà ta tiếp luôn:
- Các ông bà giữ người ta lại hộ tí!
Vừa nói bà ta vừa đứng lên chạy theo. Bốn năm hành khách xúm lôi người đàn bà lại, vì người này nhất định giật ra để toan nhảy xuống đường.
Nghe tiếng ồn ào thầy soát vé chạy đến, rồi khi biết đầu đuôi câu chuyện, liền quát mắng:
- Muốn chết à! Sao gần đến ga không hỏi, hử? - Đoạn quay ra nói với mấy bà - Người nhà quê họ dại lắm, không trách được.
Thầy đã toan đi, nhưng lại giận dữ hỏi một câu nữa:
- Ừ, sao ngu thế hử, có mồm để làm gì mà không biết hỏi hử?
Người đàn bà đáng thương vẫn còn ngơ ngác nhìn xuống đường, mếu máo nói một mình:
- Chết tôi rồi! Khổ sở thân tôi!
- Thôi vào trong kia mà ngồi, rồi đến ga Đồng Văn, chờ chuyến xe ngược, người ta sẽ cho về Cầu Guột.
Thế mà một người đàn bà cứ nhất định ngồi phệt xuống sàn toa, tuy hai ba hành khách đã hai, ba lần gọi: "Này bác, lại đây, còn rộng chán!" Người đàn bà quê như sợ hãi, rụt rè không dám ngồi cùng ghế với những người cao sang quá, và chỉ lễ phép trả lời: "Con không dám ạ, các bà để mặc con ạ! Con ngồi đây được ạ!" Có bà thương hại đứa con gái chừng năm, sáu tuổi đứng bên cạnh người nhà quê, đến dắt nó lại ngồi với mình, nhưng nó hét lên khóc và níu chặt lấy áo mẹ nọ. Bà kia đành để mặc nó.
Xe lửa đỗ vài phút ở một ga. Rồi lại từ từ bắt đầu chạy. Người đàn hà nhà quê giật mình hỏi:
- Thưa các ông, các bà, ga gì đây ạ?
Một hành khách đáp:
- Dễ ga Cầu Guột.
Người đàn bà hốt hoảng, một tay đặt thúng hành lý lên đầu, một tay dắt con đứng dậy:
- Cầu Guột à? Chết con rồi! Thế thì chết cháu rồi!
Một người âu phục kéo cánh cửa sổ toa, thò đầu ra ngoài nhìn nói:
- Phải ga Cầu Guột thực rồi!
Người kia kêu gần như khóc:
- Thôi chết tôi rồi! Tôi lỡ quá ga rồi!
Và lếch thếch lôi con ra cửa toa. Một bà hành khách vội thét:
- Chớ nhảy mà chết!
Thấy người nhà quê có vẻ liều lĩnh quả quyết lắm, bà ta tiếp luôn:
- Các ông bà giữ người ta lại hộ tí!
Vừa nói bà ta vừa đứng lên chạy theo. Bốn năm hành khách xúm lôi người đàn bà lại, vì người này nhất định giật ra để toan nhảy xuống đường.
Nghe tiếng ồn ào thầy soát vé chạy đến, rồi khi biết đầu đuôi câu chuyện, liền quát mắng:
- Muốn chết à! Sao gần đến ga không hỏi, hử? - Đoạn quay ra nói với mấy bà - Người nhà quê họ dại lắm, không trách được.
Thầy đã toan đi, nhưng lại giận dữ hỏi một câu nữa:
- Ừ, sao ngu thế hử, có mồm để làm gì mà không biết hỏi hử?
Người đàn bà đáng thương vẫn còn ngơ ngác nhìn xuống đường, mếu máo nói một mình:
- Chết tôi rồi! Khổ sở thân tôi!
- Thôi vào trong kia mà ngồi, rồi đến ga Đồng Văn, chờ chuyến xe ngược, người ta sẽ cho về Cầu Guột.
Mười phút sau tới ga Đồng Văn, thầy soát vé thân dắt người đàn bà xuống ga. Một lát sau thầy lên toa bảo mọi người:
- Mụ ta không chờ chuyến xe ngược, đòi ra đón ô-tô hàng.
Xe lửa lại chạy. Mấy bà chưa quên được câu chuyện ghê sợ vừa xảy ra, bô bô nói chuyện:
- Bà tính tí nữa mà chả chết à?
- Lắm người rõ dại.
Một người đàn ông vận quần áo nâu, từ nãy vẫn ngồi im, bỗng nói chêm vào:
- Bác ấy chả dại đâu các bà ạ. Lần này là lần thứ ba sở xe lửa mắc mưu bác ấy. Bác ấy đi đến ga Đồng Văn, nhưng chỉ lấy vé đến ga Cầu Guột thôi, để đỡ một hào tiền tàu!
Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, rồi một người hỏi:
- Sao bác biết?
Người kia ung dung đáp:
- Bác ấy người làng tôi chỉ cách ga Đồng Văn có một quãng đường.
Khái Hưng
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: Viet Messenger
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.
Mời xem bản đánh máy
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Biển
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.
Mời xem bản đánh máy
Biển
Từ hôm tôi vào Sầm Sơn, sáng nào trời cũng mưa rả rích. Buổi trưa tạnh ráo thì mây lại u ám, và về chiều gió đông nam nổi lên thổi mạnh, làm thời tiết trở lạnh như vào khoảng cuối thu. Tôi buồn rầu nghĩ đến cảnh nghỉ hè trên Sapa. Vào đây mục đích là để tắm biển, để phơi nắng thế mà đã năm sáu hôm nay tôi chỉ khoác áo ngủ dài ra ngoài pull'over đứng vẩn vơ tựa hiên nhìn đường vắng. Chán nản quá đến nỗi sách cũng không đọc được. Rồi sinh ra cáu kỉnh, gắt gỏng ngầm ngấm trong lòng. Tiếng học chữ Hán và quốc ngữ của lũ trẻ ở phía sau nhà càng làm tôi thêm khó chịu, bực tức!
Nhưng sáng nay, lòng tôi vui thích. Nhớ lại tính nết tôi mấy hôm trước, tôi thấy tôi vô lý. Tiếng học chữ Hán vẫn bay sang, lanh lảnh như tiếng tụng kinh của một chú tiểu tốt giọng, đều đều như tiếng niệm phật của các tín nữ lên chùa, và quen quen, thân mật như tự ngàn xưa sống lại. Cả một thời ký vãng của tôi cũng sống lại, cái thời thơ ấu học chữ Nho. Tôi tưởng như chính tôi đương ê a đọc đi đọc lại mãi một câu: "I a phận từ tử hiến i a... i a phận từ tử hiến i a...". Giọng đường trong khiến tôi nhớ tới một bậc đàn anh người xứ Thanh. Ngày xưa không gì thú cho tôi bằng nghe anh đọc thơ và bình văn tuy tôi chẳng hiểu chi hết. Bất giác bắt chước giọng anh, tôi ngâm nga đọc hai câu thơ của anh mà cái trí nhớ thời tám chín tuổi vẫn còn giữ vẹn toàn, tươi mát như rau nguồn vừa mới hái:
Các bạn có hiểu tại sao tôi vui thế không, tại sao hôm nay tôi sung sướng thế không? Mặt trời cuối xuân đã mọc trên từng không xanh ngắt và trong lòng tôi sáng tươi.
Tôi ra bãi biển, mặc sơ sài có một cái áo sát, một cái quần đùi ngắn. Ở đó cố nhiên tôi chỉ gặp toàn những dân chài lưới, người nghỉ mát độc nhất là tôi. Nhưng không vì vắng người tắm biển mà bãi biển kém vẻ hoạt động, dù đây không còn là cái hoạt động thanh lịch, xinh xẻo, cái hoạt động phô bày, dàn xếp từ các nơi thành thị đem về như người ta phô bày, dàn xếp một cảnh hoạt động giả dối ở trên sân khấu nhà hát. Đây là cái hoạt động thiên nhiên, mộc mạc và hùng vĩ.
Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường tráng, nổi từng bắp thịt rắn chắc và rám tía cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát và từ từ lùi lại, từ từ quá đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ, nếu thỉnh thoảng người cuối hàng không tháo dây móc ra để lộn lên đầu hàng, rồi lại lặng lẽ lạnh lùng, không suy nghĩ, ưỡn mình ngả về phía sau giẫm chân từ từ kéo. ánh nắng vàng dịu, trong mát, mong manh, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây xanh, vẽ dài những hình rung động lên cát ướt.
Một cái lưới kéo vào bờ. Yên lặng đứt quãng, yên lặng mà tiếng sóng biển ầm ĩ, đều đều càng làm tăng lên. Một cái mảng từ đâu chở đến vừa vụt hiện ra để hứng lấy từng sải lưới. Đàn trẻ mót cá tua tủa chạy lại, xôn xao cười nói, mỗi đứa tay cầm một cái vợt nhỏ. Một người đánh cá cởi trần quần nâu bện lên tới háng, giơ ra một cái que nứa và dữ tợn dọa nạt: "Chúng mày mà lại gần thì chết đòn bây giờ!". Bọn kia như không thèm nghe, lội cả xuống nước, quây quần lấy cái mảng, đứng sát vào hai bên thành lưới đã kéo gần tới đây. Tiếng que nứa mỏng vun vút trong không, hay đen đét lên đầu, lên mình lũ trẻ nhốn nháo. Những con cá lớn, trắng, sáng loáng như bạc từ dưới nước tự ném mình lên trên không để lại rơi xuống khoảng lưới vẫn đương kéo vào. Những con cá nhỏ, đầu nhọn thân dài và dẹp mắc trong mắt lưới bị người ta dứt mạnh vứt vào cái lồ đặt trên mảng, nếu không bị một thằng bé con nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hắt vào trong vợt của nó.
Chỉ dăm phút, cá đã bỏ hết vào lồ đầy tới hai phần ba. Trộn lộn, lúc nhúc, nào cá thu phơn phớt màu xanh, nào cá chim lấp lánh màu bạc và biết bao nhiêu các thứ cá nhỏ giống nhau mà chỉ dân vùng biển mới có thể phân biệt và thuộc tên. Lẫn vào đó những con mực râu dài, những con cua với đôi khuyên tròn như cặp mắt vẽ trên mai, những con tôm vàng đầu to, uốn mình nhảy tanh tách.
Năm, sáu chị buôn cá xúm lại, vây chặt lấy cái lồ đã khiêng lên bãi. Câu nói thách, câu mặc cả, lời cãi nhau, mắng nhau. Một người đàn bà lôi lấy lồ, một người đàn ông kéo giật lại. Nhưng rồi mua bán cũng xong ngay, và mấy người đàn bà vội vàng cùng nhau chia phần đổ vào thúng, thoăn thoắt gánh đi.
Yên lặng lại trở về trong bầu không khí vẫn sáng dịu. Và những cái bóng yên lặng của những người kéo lưới vẫn nằm dài trên làn cát ướt. Lũ trẻ đã biến đâu mất cả. Ngoài bọn dân chài chỉ còn lại ở dưới bóng rợp cái mảng kê trên nạng, hai đứa bé mà tôi trông thấy ngay từ lúc mới ra bãi biển. Một thằng ngồi bó gối, một thằng nằm sấp, cả hai cùng chăm chú nhìn vào một khoảng đất ở trước mặt, và cùng có vẻ suy nghĩ, tìm tòi.
Tôi lại gần thì đó hai vị tiểu tiên đương ham mải một ván cờ "hoa thị"; những quân cờ là những mẩu que nứa cắm xuống cát. Tôi đứng nhìn qua một lượt, xem xét thế trận của hai bên quân que để nguyên và quân que bẻ gẫy, rồi tôi mỉm cười tuyên bố: "Hòa thôi!". Cả hai đứa trẻ cùng ngửng lên. Một đứa đăm đăm nhìn tôi và chào: "Thầy! Năm nay thầy ra nghỉ mát sớm!". Tôi nghĩ thầm: "Nghĩa là năm ngoái nó đã gặp mình". Tôi hỏi:
- Thế nào? Hòa thôi chứ, em? Hai bên bằng quân mà tướng lại cùng bị vây...
Thằng kia cười đáp:
- Vâng, hòa. Hòa thôi, Tuất ạ. Đánh ván khác nhé?
Tuất lạnh lùng:
- Thôi, chả đánh nữa! Đánh với mày buồn chết, ván nào cũng hòa.
Rồi nó đứng dậy đi bên cạnh tôi.
- Thưa thầy, thầy ở Hà Nội?
- Ừ, sao em biết?
Tôi mỉm cười đáp. Tuất rất tự nhiên trả lời:
- Thưa thầy, con tưởng những người Bắc vào đây toàn là người Hà Nội cả.
- Vậy em đã biết Hà Nội chưa?
Tôi tưởng hỏi đùa, và tôi ngạc nhiên khi nghe Tuất đáp lại:
- Thưa thầy đã.
Nó ngước nhìn tôi, nhìn rất lâu như để tìm cái hình ảnh Hà Nội in trong đôi con ngươi của một người Hà Nội mới đem vào. Lần đầu tôi nhận thấy cặp mắt sáng và trong, cặp mắt hơi xếch lên thái dương nhưng không vì thế mà dữ tợn, không vì thế mà mất vẻ ngây thơ dịu dàng, nhân hậu. Cặp mắt của anh đồ Thanh, của anh "đồ Râu" (vì anh có bộ râu rất đen và đẹp), tác giả hai câu thơ trên kia. Cặp mắt của một người chở phà mà tôi đã gặp năm kia ở một bến đò qua sông Mã trên một con đường hẻo lánh. Hôm ấy ngắm người trai trẻ vạm vỡ tuấn tú và trang nghiêm, không hiểu sao tôi nghĩ ngay tới chú đình trưởng Lưu Bang, nhưng hôm nay nhìn thằng bé xinh xẻo với cũng cặp mắt trong sáng và hơi xếch ấy, tôi lại tưởng tới vua Lê Lợi, thời còn hàn vi, ẩn náu ở một bến đò nào đó bên dòng sông Mã nước chảy phăng phăng ra biển khơi.
Sau một phút im lặng đi cạnh tôi, Tuất hỏi:
- Thầy có biết phố nhà Thương không?
Tôi hỏi lại:
- Có phải phố Phủ Doãn không?
Tuất nhìn tôi, ngẫm nghĩ:
- Dạ, có lẽ phải đó. Con không sao nhớ được cái tên ấy, con chỉ gọi là phố nhà Thương, ở ngay sau nhà thương, rẽ ra phố Tràng Tiền, thẳng lên phố Bônbe có hiệu Gôđa. Con đã vào hiệu Gôđa rồi, to lắm, đẹp lắm...
Nhưng sáng nay, lòng tôi vui thích. Nhớ lại tính nết tôi mấy hôm trước, tôi thấy tôi vô lý. Tiếng học chữ Hán vẫn bay sang, lanh lảnh như tiếng tụng kinh của một chú tiểu tốt giọng, đều đều như tiếng niệm phật của các tín nữ lên chùa, và quen quen, thân mật như tự ngàn xưa sống lại. Cả một thời ký vãng của tôi cũng sống lại, cái thời thơ ấu học chữ Nho. Tôi tưởng như chính tôi đương ê a đọc đi đọc lại mãi một câu: "I a phận từ tử hiến i a... i a phận từ tử hiến i a...". Giọng đường trong khiến tôi nhớ tới một bậc đàn anh người xứ Thanh. Ngày xưa không gì thú cho tôi bằng nghe anh đọc thơ và bình văn tuy tôi chẳng hiểu chi hết. Bất giác bắt chước giọng anh, tôi ngâm nga đọc hai câu thơ của anh mà cái trí nhớ thời tám chín tuổi vẫn còn giữ vẹn toàn, tươi mát như rau nguồn vừa mới hái:
Thuấn hà nhân dã ngã tư tề,
Lạc thiện tâm tùy báo hiểu kê...
Các bạn có hiểu tại sao tôi vui thế không, tại sao hôm nay tôi sung sướng thế không? Mặt trời cuối xuân đã mọc trên từng không xanh ngắt và trong lòng tôi sáng tươi.
Tôi ra bãi biển, mặc sơ sài có một cái áo sát, một cái quần đùi ngắn. Ở đó cố nhiên tôi chỉ gặp toàn những dân chài lưới, người nghỉ mát độc nhất là tôi. Nhưng không vì vắng người tắm biển mà bãi biển kém vẻ hoạt động, dù đây không còn là cái hoạt động thanh lịch, xinh xẻo, cái hoạt động phô bày, dàn xếp từ các nơi thành thị đem về như người ta phô bày, dàn xếp một cảnh hoạt động giả dối ở trên sân khấu nhà hát. Đây là cái hoạt động thiên nhiên, mộc mạc và hùng vĩ.
Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường tráng, nổi từng bắp thịt rắn chắc và rám tía cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát và từ từ lùi lại, từ từ quá đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ, nếu thỉnh thoảng người cuối hàng không tháo dây móc ra để lộn lên đầu hàng, rồi lại lặng lẽ lạnh lùng, không suy nghĩ, ưỡn mình ngả về phía sau giẫm chân từ từ kéo. ánh nắng vàng dịu, trong mát, mong manh, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây xanh, vẽ dài những hình rung động lên cát ướt.
Một cái lưới kéo vào bờ. Yên lặng đứt quãng, yên lặng mà tiếng sóng biển ầm ĩ, đều đều càng làm tăng lên. Một cái mảng từ đâu chở đến vừa vụt hiện ra để hứng lấy từng sải lưới. Đàn trẻ mót cá tua tủa chạy lại, xôn xao cười nói, mỗi đứa tay cầm một cái vợt nhỏ. Một người đánh cá cởi trần quần nâu bện lên tới háng, giơ ra một cái que nứa và dữ tợn dọa nạt: "Chúng mày mà lại gần thì chết đòn bây giờ!". Bọn kia như không thèm nghe, lội cả xuống nước, quây quần lấy cái mảng, đứng sát vào hai bên thành lưới đã kéo gần tới đây. Tiếng que nứa mỏng vun vút trong không, hay đen đét lên đầu, lên mình lũ trẻ nhốn nháo. Những con cá lớn, trắng, sáng loáng như bạc từ dưới nước tự ném mình lên trên không để lại rơi xuống khoảng lưới vẫn đương kéo vào. Những con cá nhỏ, đầu nhọn thân dài và dẹp mắc trong mắt lưới bị người ta dứt mạnh vứt vào cái lồ đặt trên mảng, nếu không bị một thằng bé con nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hắt vào trong vợt của nó.
Chỉ dăm phút, cá đã bỏ hết vào lồ đầy tới hai phần ba. Trộn lộn, lúc nhúc, nào cá thu phơn phớt màu xanh, nào cá chim lấp lánh màu bạc và biết bao nhiêu các thứ cá nhỏ giống nhau mà chỉ dân vùng biển mới có thể phân biệt và thuộc tên. Lẫn vào đó những con mực râu dài, những con cua với đôi khuyên tròn như cặp mắt vẽ trên mai, những con tôm vàng đầu to, uốn mình nhảy tanh tách.
Năm, sáu chị buôn cá xúm lại, vây chặt lấy cái lồ đã khiêng lên bãi. Câu nói thách, câu mặc cả, lời cãi nhau, mắng nhau. Một người đàn bà lôi lấy lồ, một người đàn ông kéo giật lại. Nhưng rồi mua bán cũng xong ngay, và mấy người đàn bà vội vàng cùng nhau chia phần đổ vào thúng, thoăn thoắt gánh đi.
Yên lặng lại trở về trong bầu không khí vẫn sáng dịu. Và những cái bóng yên lặng của những người kéo lưới vẫn nằm dài trên làn cát ướt. Lũ trẻ đã biến đâu mất cả. Ngoài bọn dân chài chỉ còn lại ở dưới bóng rợp cái mảng kê trên nạng, hai đứa bé mà tôi trông thấy ngay từ lúc mới ra bãi biển. Một thằng ngồi bó gối, một thằng nằm sấp, cả hai cùng chăm chú nhìn vào một khoảng đất ở trước mặt, và cùng có vẻ suy nghĩ, tìm tòi.
Tôi lại gần thì đó hai vị tiểu tiên đương ham mải một ván cờ "hoa thị"; những quân cờ là những mẩu que nứa cắm xuống cát. Tôi đứng nhìn qua một lượt, xem xét thế trận của hai bên quân que để nguyên và quân que bẻ gẫy, rồi tôi mỉm cười tuyên bố: "Hòa thôi!". Cả hai đứa trẻ cùng ngửng lên. Một đứa đăm đăm nhìn tôi và chào: "Thầy! Năm nay thầy ra nghỉ mát sớm!". Tôi nghĩ thầm: "Nghĩa là năm ngoái nó đã gặp mình". Tôi hỏi:
- Thế nào? Hòa thôi chứ, em? Hai bên bằng quân mà tướng lại cùng bị vây...
Thằng kia cười đáp:
- Vâng, hòa. Hòa thôi, Tuất ạ. Đánh ván khác nhé?
Tuất lạnh lùng:
- Thôi, chả đánh nữa! Đánh với mày buồn chết, ván nào cũng hòa.
Rồi nó đứng dậy đi bên cạnh tôi.
- Thưa thầy, thầy ở Hà Nội?
- Ừ, sao em biết?
Tôi mỉm cười đáp. Tuất rất tự nhiên trả lời:
- Thưa thầy, con tưởng những người Bắc vào đây toàn là người Hà Nội cả.
- Vậy em đã biết Hà Nội chưa?
Tôi tưởng hỏi đùa, và tôi ngạc nhiên khi nghe Tuất đáp lại:
- Thưa thầy đã.
Nó ngước nhìn tôi, nhìn rất lâu như để tìm cái hình ảnh Hà Nội in trong đôi con ngươi của một người Hà Nội mới đem vào. Lần đầu tôi nhận thấy cặp mắt sáng và trong, cặp mắt hơi xếch lên thái dương nhưng không vì thế mà dữ tợn, không vì thế mà mất vẻ ngây thơ dịu dàng, nhân hậu. Cặp mắt của anh đồ Thanh, của anh "đồ Râu" (vì anh có bộ râu rất đen và đẹp), tác giả hai câu thơ trên kia. Cặp mắt của một người chở phà mà tôi đã gặp năm kia ở một bến đò qua sông Mã trên một con đường hẻo lánh. Hôm ấy ngắm người trai trẻ vạm vỡ tuấn tú và trang nghiêm, không hiểu sao tôi nghĩ ngay tới chú đình trưởng Lưu Bang, nhưng hôm nay nhìn thằng bé xinh xẻo với cũng cặp mắt trong sáng và hơi xếch ấy, tôi lại tưởng tới vua Lê Lợi, thời còn hàn vi, ẩn náu ở một bến đò nào đó bên dòng sông Mã nước chảy phăng phăng ra biển khơi.
Sau một phút im lặng đi cạnh tôi, Tuất hỏi:
- Thầy có biết phố nhà Thương không?
Tôi hỏi lại:
- Có phải phố Phủ Doãn không?
Tuất nhìn tôi, ngẫm nghĩ:
- Dạ, có lẽ phải đó. Con không sao nhớ được cái tên ấy, con chỉ gọi là phố nhà Thương, ở ngay sau nhà thương, rẽ ra phố Tràng Tiền, thẳng lên phố Bônbe có hiệu Gôđa. Con đã vào hiệu Gôđa rồi, to lắm, đẹp lắm...
Tôi mỉm cười ngắt lời nó:
- Vậy ra em đã ở Hà Nội?
- Dạ.
Rồi Tuất kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện đời nó.
Mẹ Tuất chết rồi. Cả cậu Tuất nữa. Tôi không rõ tại sao cậu Tuất lại có một địa vị quan trọng trong đời Tuất và trong câu chuyện của Tuất. Tôi cũng không hỏi kỹ để biết duyên cớ. Trước tôi vẫn tưởng "cậu" là người sinh ra thằng bé, tuy tôi cũng hơi lạ một điều về cách xưng hô của nó: mẹ với cậu. Nhưng không, không phải cậu là cha Tuất, cậu chính là em mẹ Tuất, Tuất nói thêm cho tôi biết thế. "Còn cha Tuất?" Câu hỏi ấy chỉ chực thốt ra, nhưng vẫn bị giữ lại. Tôi như sợ làm buồn hoặc phật lòng thằng bé, vì một thiên tiểu thuyết gia đình vừa phác ra trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy thằng bé mồ côi mẹ, rồi cha nó lấy vợ kế, một người vợ đảm đang và cay nghiệt, và nhiều lời như một số đàn bà tôi thường gặp ở Sầm Sơn. Nhưng trong mấy năm sau khi mất mẹ, thằng bé còn được cậu bênh vực, che chở, chống cự lại người mẹ kế dữ tợn. Rồi người cậu cũng mất. Từ đó thằng bé bỗng thấy mình trơ trọi trong cái gia đình không yêu mến. Tôi cúi nhìn Tuất như để đọc thiên tiểu thuyết của tôi in trong gương mắt ngây thơ, nhưng thằng bé vẫn vui vẻ kể tiếp câu chuyện của nó.
Nó đến ở với bà An Lợi. Bà ta yêu nó lắm. Còn ai không yêu được một thằng bé con kháu khỉnh như nó? Trừ có là dì ghẻ nó. Thế rồi gần hết hè bà ta hỏi nó có muốn theo ra Hà Nội không.
Ra Hà Nội? Tuất chưa từng bao giờ nghĩ tới. Nhưng bắt đầu từ hôm ấy nó nghĩ tới. Nó không thể tưởng tượng được Hà Nội như thế nào. Song nó chắc ở đó có nhiều, rất nhiều nhà gạch vừa to vừa cao, và rất nhiều ô tô vừa đẹp vừa nhanh. Còn người ở Hà Nội thì chắc như tất cả những "thầy", những "cô" vào Sầm Sơn nghỉ mát. Hình ảnh cái thành phố lớn lao, đẹp đẽ ngày đêm hiện ra trong khối óc mười lăm tuổi, hiện ra lờ mờ, xa xăm như hình ảnh thiên đường và địa ngục hiện ra trong óc một người đàn bà tin đạo. Thực ra nó yêu Hà Nội như người ta yêu thiên đường, nhưng nó cũng sợ Hà Nội như người ta sợ địa ngục.
Một hôm nó bảo bà An Lợi:
- Thưa bà, chắc Hà Nội đông người lắm?
Bà kia mỉm cười:
- Đông lắm. Đông như một tổ kiến vậy.
- Thưa bà, nhà cao dễ đến chục từng?
- Không, chỉ hai, ba từng thôi, nhưng mà to và nhiều lắm.
- Còn xe ô tô?
- Ồ! Xe ô tô ư! Đường đi như mắc cửi.
Thằng bé nghĩ ngợi, lo lắng. Về Hà Nội, nó làm thế nào để tránh được ô tô, để khỏi bị đè chết?
Nhưng hôm bà An Lợi sửa soạn ra về nó bỗng quả quyết bằng lòng đi theo hầu. Giọng thằng bé đến đây cất cao lên:
- Thưa thầy quả thực Hà Nội đẹp. Mà có nhiều cái đẹp quá. Hôm mới ra, mỗi lần bà chủ sai con đi đâu có việc gì, lúc về thể nào con cũng bị cốp, vì con đi lâu quá, gặp cái gì con cũng đứng lại xem. Gặp người nào đẹp, ăn mặc hay hay con cũng đứng lại ngắm nghía. Có người thấy con nhìn cũng nhìn lại con, rồi bật lên cười to, làm con xấu hổ cắm đầu chạy. Một hôm bà chủ sai con mua một lạng cà phê ở hiệu Gô đa, con đi mất hết cả buổi sáng. Về, bà con tát cho hai cái nên thân, nhưng mà con cũng hả. Trời ơi, đẹp quá thầy ạ... Thế rồi con cũng quen dần đi. Về sau, con không lạ nữa, bà chủ sai con đi đâu con đi một mạch, chẳng nhìn trước, nhìn sau, bên phải, bên trái nữa.
Thấy Tuất ngừng lại, tôi hỏi:
- Nhưng nay sao em không ở với bà An Lợi?
Thằng bé buồn rầu kể cho tôi nghe đoạn cuối câu chuyện:
Bà An Lợi yêu nó lắm, vì nó ngoan ngoãn nết na. Nhưng không hiểu sao một hôm nó chợt thấy nhớ nhà, nhớ núi Sầm Sơn, nhớ biển Sầm Sơn, nhớ bãi cát Sầm Sơn, nhớ lũ trẻ nô đùa và nhớ cả thầy đồ dạy chữ Hán. Có lẽ lòng háo hức thích Hà Nội đã nhạt. Cái thành phố tráng lệ không còn sức hấp dẫn đối với khối óc ham muốn, không còn đủ mãnh lực để đè át cái tình nhớ quê hương vẫn âm thầm, ẩn náu trong lòng thằng bé con vùng biển.
- Thưa thầy, Tuất kể, suốt một tháng, đêm nào con cũng tưởng đương ở nhà, đương chạy nhảy hay đánh cờ ở ngoài bãi với bạn bè. Bên tai con, tiếng sóng biển réo ầm ầm. Nhưng giật mình tỉnh dậy, con vẫn thấy con nằm ở trên gác nhà bà chủ con. ở dưới đường, đèn điện sáng như ban ngày mà xe ô tô thì chạy rầm rập qua trước cổng nhà thương. Con bưng mặt ngồi khóc, khóc mãi cho tới lúc mệt quá lại ngủ thiếp đi. Mấy hôm đầu, con còn khóc to, nhưng bà chủ con mắng và đánh nữa, nên về sau con chỉ khóc thầm nhét vạt áo vào miệng cho bà chủ khỏi nghe thấy tiếng. Mà người con mỗi ngày một gầy đi. Con gầy quá cơ, thầy ạ. Thầy tính hằng hai, ba ngày liền ăn mỗi bữa một miếng cơm, có khi nhịn đói và chỉ uống nước lã thì làm gì mà không gầy không sút đi. Bà chủ con thương con lắm, cứ hỏi con tại sao con hay buồn hay khóc. Trước con còn giấu quanh; về sau con liền thú thực với bà chủ con rằng con nhớ nhà. Bà chủ con dỗ con: "Rồi lâu quên đi". Nhưng con không quên, thầy ạ. Bà chủ con lại mắng con; "Đã lớn rồi mà còn nhớ nhà!"
Đến đây, tôi ngắt lời Tuất và hỏi:
- Nhưng em nhớ ai? Em đã bảo mẹ em chết rồi, và cả cậu em cũng chết rồi kia mà.
- Thưa thầy, con nhớ nhà. Nhớ biển, nhớ núi, nhớ... nhớ hết cả mọi thứ. Với lại chính vì má con với cậu con nữa. Má con cứ luôn luôn bảo con; "Tuất ơi! Về đi thôi, về đi thôi. Ở đây làm gì, đây không phải nhà mày!" Cả cậu con nữa, cậu con cứ đuổi con "ồi ồi".
- Mẹ em? Cậu em? Tưởng mẹ em và cậu em đều mất rồi kia mà?
- Dạ, má con và cậu con chết rồi. Con nói con nằm chiêm bao đấy chứ. Một tuần lễ trước hôm được về nhà, đêm nào con cũng nằm chiêm bao thấy má con và cậu con hiện lên đuổi con về. Hôm sau cùng má con gắt và mắng con: "Sao tao dạy bảo mày không nghe lời tao, hở Tuất?" Con lên kêu van với bà chủ con. Bà chủ con thấy con gầy rạc, mặt mũi hốc hác, xanh xao thì sợ con chết nên bằng lòng cho phép con về. Nhưng bảo con hãy chờ vài hôm để bà tìm người đưa con vào Sầm Sơn. Con nói liều: "Thưa bà con nhớ đường, bà cứ để con vào một mình". Thế là bà chủ trả tiền công con, lại cho con hai đồng tiền tầu. Chiều hôm ấy con về tới Thanh Hóa, rồi đi bộ vào Sầm Sơn liền. Mãi khuya con mới về tới nhà. Nhân đêm hôm ấy có trăng, con đi thẳng ra bãi biển, và con ngồi xuống cát, con khóc, khóc mãi...
Tuất ngừng hẳn, yên lặng đi bên cạnh tôi. Bỗng một lát sau nó vơ vẩn nhìn lên đường hỏi:
- Thưa thầy, nghe nói tiền tầu nay tăng giá. Năm ngoái con lấy vé mất có một đồng mười ba xu.
Tôi lơ đãng trả lời thằng bé:
- Bây giờ vẫn thế.
Và tôi nghĩ thầm:
"Hay nó còn nhớ tiếc Hà Nội và nghĩ đến món tiền mua vé xe lửa đấy chăng?"
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/bien/61
- Vậy ra em đã ở Hà Nội?
- Dạ.
Rồi Tuất kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện đời nó.
Mẹ Tuất chết rồi. Cả cậu Tuất nữa. Tôi không rõ tại sao cậu Tuất lại có một địa vị quan trọng trong đời Tuất và trong câu chuyện của Tuất. Tôi cũng không hỏi kỹ để biết duyên cớ. Trước tôi vẫn tưởng "cậu" là người sinh ra thằng bé, tuy tôi cũng hơi lạ một điều về cách xưng hô của nó: mẹ với cậu. Nhưng không, không phải cậu là cha Tuất, cậu chính là em mẹ Tuất, Tuất nói thêm cho tôi biết thế. "Còn cha Tuất?" Câu hỏi ấy chỉ chực thốt ra, nhưng vẫn bị giữ lại. Tôi như sợ làm buồn hoặc phật lòng thằng bé, vì một thiên tiểu thuyết gia đình vừa phác ra trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy thằng bé mồ côi mẹ, rồi cha nó lấy vợ kế, một người vợ đảm đang và cay nghiệt, và nhiều lời như một số đàn bà tôi thường gặp ở Sầm Sơn. Nhưng trong mấy năm sau khi mất mẹ, thằng bé còn được cậu bênh vực, che chở, chống cự lại người mẹ kế dữ tợn. Rồi người cậu cũng mất. Từ đó thằng bé bỗng thấy mình trơ trọi trong cái gia đình không yêu mến. Tôi cúi nhìn Tuất như để đọc thiên tiểu thuyết của tôi in trong gương mắt ngây thơ, nhưng thằng bé vẫn vui vẻ kể tiếp câu chuyện của nó.
Nó đến ở với bà An Lợi. Bà ta yêu nó lắm. Còn ai không yêu được một thằng bé con kháu khỉnh như nó? Trừ có là dì ghẻ nó. Thế rồi gần hết hè bà ta hỏi nó có muốn theo ra Hà Nội không.
Ra Hà Nội? Tuất chưa từng bao giờ nghĩ tới. Nhưng bắt đầu từ hôm ấy nó nghĩ tới. Nó không thể tưởng tượng được Hà Nội như thế nào. Song nó chắc ở đó có nhiều, rất nhiều nhà gạch vừa to vừa cao, và rất nhiều ô tô vừa đẹp vừa nhanh. Còn người ở Hà Nội thì chắc như tất cả những "thầy", những "cô" vào Sầm Sơn nghỉ mát. Hình ảnh cái thành phố lớn lao, đẹp đẽ ngày đêm hiện ra trong khối óc mười lăm tuổi, hiện ra lờ mờ, xa xăm như hình ảnh thiên đường và địa ngục hiện ra trong óc một người đàn bà tin đạo. Thực ra nó yêu Hà Nội như người ta yêu thiên đường, nhưng nó cũng sợ Hà Nội như người ta sợ địa ngục.
Một hôm nó bảo bà An Lợi:
- Thưa bà, chắc Hà Nội đông người lắm?
Bà kia mỉm cười:
- Đông lắm. Đông như một tổ kiến vậy.
- Thưa bà, nhà cao dễ đến chục từng?
- Không, chỉ hai, ba từng thôi, nhưng mà to và nhiều lắm.
- Còn xe ô tô?
- Ồ! Xe ô tô ư! Đường đi như mắc cửi.
Thằng bé nghĩ ngợi, lo lắng. Về Hà Nội, nó làm thế nào để tránh được ô tô, để khỏi bị đè chết?
Nhưng hôm bà An Lợi sửa soạn ra về nó bỗng quả quyết bằng lòng đi theo hầu. Giọng thằng bé đến đây cất cao lên:
- Thưa thầy quả thực Hà Nội đẹp. Mà có nhiều cái đẹp quá. Hôm mới ra, mỗi lần bà chủ sai con đi đâu có việc gì, lúc về thể nào con cũng bị cốp, vì con đi lâu quá, gặp cái gì con cũng đứng lại xem. Gặp người nào đẹp, ăn mặc hay hay con cũng đứng lại ngắm nghía. Có người thấy con nhìn cũng nhìn lại con, rồi bật lên cười to, làm con xấu hổ cắm đầu chạy. Một hôm bà chủ sai con mua một lạng cà phê ở hiệu Gô đa, con đi mất hết cả buổi sáng. Về, bà con tát cho hai cái nên thân, nhưng mà con cũng hả. Trời ơi, đẹp quá thầy ạ... Thế rồi con cũng quen dần đi. Về sau, con không lạ nữa, bà chủ sai con đi đâu con đi một mạch, chẳng nhìn trước, nhìn sau, bên phải, bên trái nữa.
Thấy Tuất ngừng lại, tôi hỏi:
- Nhưng nay sao em không ở với bà An Lợi?
Thằng bé buồn rầu kể cho tôi nghe đoạn cuối câu chuyện:
Bà An Lợi yêu nó lắm, vì nó ngoan ngoãn nết na. Nhưng không hiểu sao một hôm nó chợt thấy nhớ nhà, nhớ núi Sầm Sơn, nhớ biển Sầm Sơn, nhớ bãi cát Sầm Sơn, nhớ lũ trẻ nô đùa và nhớ cả thầy đồ dạy chữ Hán. Có lẽ lòng háo hức thích Hà Nội đã nhạt. Cái thành phố tráng lệ không còn sức hấp dẫn đối với khối óc ham muốn, không còn đủ mãnh lực để đè át cái tình nhớ quê hương vẫn âm thầm, ẩn náu trong lòng thằng bé con vùng biển.
- Thưa thầy, Tuất kể, suốt một tháng, đêm nào con cũng tưởng đương ở nhà, đương chạy nhảy hay đánh cờ ở ngoài bãi với bạn bè. Bên tai con, tiếng sóng biển réo ầm ầm. Nhưng giật mình tỉnh dậy, con vẫn thấy con nằm ở trên gác nhà bà chủ con. ở dưới đường, đèn điện sáng như ban ngày mà xe ô tô thì chạy rầm rập qua trước cổng nhà thương. Con bưng mặt ngồi khóc, khóc mãi cho tới lúc mệt quá lại ngủ thiếp đi. Mấy hôm đầu, con còn khóc to, nhưng bà chủ con mắng và đánh nữa, nên về sau con chỉ khóc thầm nhét vạt áo vào miệng cho bà chủ khỏi nghe thấy tiếng. Mà người con mỗi ngày một gầy đi. Con gầy quá cơ, thầy ạ. Thầy tính hằng hai, ba ngày liền ăn mỗi bữa một miếng cơm, có khi nhịn đói và chỉ uống nước lã thì làm gì mà không gầy không sút đi. Bà chủ con thương con lắm, cứ hỏi con tại sao con hay buồn hay khóc. Trước con còn giấu quanh; về sau con liền thú thực với bà chủ con rằng con nhớ nhà. Bà chủ con dỗ con: "Rồi lâu quên đi". Nhưng con không quên, thầy ạ. Bà chủ con lại mắng con; "Đã lớn rồi mà còn nhớ nhà!"
Đến đây, tôi ngắt lời Tuất và hỏi:
- Nhưng em nhớ ai? Em đã bảo mẹ em chết rồi, và cả cậu em cũng chết rồi kia mà.
- Thưa thầy, con nhớ nhà. Nhớ biển, nhớ núi, nhớ... nhớ hết cả mọi thứ. Với lại chính vì má con với cậu con nữa. Má con cứ luôn luôn bảo con; "Tuất ơi! Về đi thôi, về đi thôi. Ở đây làm gì, đây không phải nhà mày!" Cả cậu con nữa, cậu con cứ đuổi con "ồi ồi".
- Mẹ em? Cậu em? Tưởng mẹ em và cậu em đều mất rồi kia mà?
- Dạ, má con và cậu con chết rồi. Con nói con nằm chiêm bao đấy chứ. Một tuần lễ trước hôm được về nhà, đêm nào con cũng nằm chiêm bao thấy má con và cậu con hiện lên đuổi con về. Hôm sau cùng má con gắt và mắng con: "Sao tao dạy bảo mày không nghe lời tao, hở Tuất?" Con lên kêu van với bà chủ con. Bà chủ con thấy con gầy rạc, mặt mũi hốc hác, xanh xao thì sợ con chết nên bằng lòng cho phép con về. Nhưng bảo con hãy chờ vài hôm để bà tìm người đưa con vào Sầm Sơn. Con nói liều: "Thưa bà con nhớ đường, bà cứ để con vào một mình". Thế là bà chủ trả tiền công con, lại cho con hai đồng tiền tầu. Chiều hôm ấy con về tới Thanh Hóa, rồi đi bộ vào Sầm Sơn liền. Mãi khuya con mới về tới nhà. Nhân đêm hôm ấy có trăng, con đi thẳng ra bãi biển, và con ngồi xuống cát, con khóc, khóc mãi...
Tuất ngừng hẳn, yên lặng đi bên cạnh tôi. Bỗng một lát sau nó vơ vẩn nhìn lên đường hỏi:
- Thưa thầy, nghe nói tiền tầu nay tăng giá. Năm ngoái con lấy vé mất có một đồng mười ba xu.
Tôi lơ đãng trả lời thằng bé:
- Bây giờ vẫn thế.
Và tôi nghĩ thầm:
"Hay nó còn nhớ tiếc Hà Nội và nghĩ đến món tiền mua vé xe lửa đấy chăng?"
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/bien/61
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.
Mời xem bản đánh máy
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Biển
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 209 - 25/05/1940, Tr. 16-17.
Mời xem bản đánh máy
Biển
Từ hôm tôi vào Sầm Sơn, sáng nào trời cũng mưa rả rích. Buổi trưa tạnh ráo thì mây lại u ám, và về chiều gió đông nam nổi lên thổi mạnh, làm thời tiết trở lạnh như vào khoảng cuối thu. Tôi buồn rầu nghĩ đến cảnh nghỉ hè trên Sapa. Vào đây mục đích là để tắm biển, để phơi nắng thế mà đã năm sáu hôm nay tôi chỉ khoác áo ngủ dài ra ngoài pull'over đứng vẩn vơ tựa hiên nhìn đường vắng. Chán nản quá đến nỗi sách cũng không đọc được. Rồi sinh ra cáu kỉnh, gắt gỏng ngầm ngấm trong lòng. Tiếng học chữ Hán và quốc ngữ của lũ trẻ ở phía sau nhà càng làm tôi thêm khó chịu, bực tức!
Nhưng sáng nay, lòng tôi vui thích. Nhớ lại tính nết tôi mấy hôm trước, tôi thấy tôi vô lý. Tiếng học chữ Hán vẫn bay sang, lanh lảnh như tiếng tụng kinh của một chú tiểu tốt giọng, đều đều như tiếng niệm phật của các tín nữ lên chùa, và quen quen, thân mật như tự ngàn xưa sống lại. Cả một thời ký vãng của tôi cũng sống lại, cái thời thơ ấu học chữ Nho. Tôi tưởng như chính tôi đương ê a đọc đi đọc lại mãi một câu: "I a phận từ tử hiến i a... i a phận từ tử hiến i a...". Giọng đường trong khiến tôi nhớ tới một bậc đàn anh người xứ Thanh. Ngày xưa không gì thú cho tôi bằng nghe anh đọc thơ và bình văn tuy tôi chẳng hiểu chi hết. Bất giác bắt chước giọng anh, tôi ngâm nga đọc hai câu thơ của anh mà cái trí nhớ thời tám chín tuổi vẫn còn giữ vẹn toàn, tươi mát như rau nguồn vừa mới hái:
Các bạn có hiểu tại sao tôi vui thế không, tại sao hôm nay tôi sung sướng thế không? Mặt trời cuối xuân đã mọc trên từng không xanh ngắt và trong lòng tôi sáng tươi.
Tôi ra bãi biển, mặc sơ sài có một cái áo sát, một cái quần đùi ngắn. Ở đó cố nhiên tôi chỉ gặp toàn những dân chài lưới, người nghỉ mát độc nhất là tôi. Nhưng không vì vắng người tắm biển mà bãi biển kém vẻ hoạt động, dù đây không còn là cái hoạt động thanh lịch, xinh xẻo, cái hoạt động phô bày, dàn xếp từ các nơi thành thị đem về như người ta phô bày, dàn xếp một cảnh hoạt động giả dối ở trên sân khấu nhà hát. Đây là cái hoạt động thiên nhiên, mộc mạc và hùng vĩ.
Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường tráng, nổi từng bắp thịt rắn chắc và rám tía cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát và từ từ lùi lại, từ từ quá đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ, nếu thỉnh thoảng người cuối hàng không tháo dây móc ra để lộn lên đầu hàng, rồi lại lặng lẽ lạnh lùng, không suy nghĩ, ưỡn mình ngả về phía sau giẫm chân từ từ kéo. ánh nắng vàng dịu, trong mát, mong manh, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây xanh, vẽ dài những hình rung động lên cát ướt.
Một cái lưới kéo vào bờ. Yên lặng đứt quãng, yên lặng mà tiếng sóng biển ầm ĩ, đều đều càng làm tăng lên. Một cái mảng từ đâu chở đến vừa vụt hiện ra để hứng lấy từng sải lưới. Đàn trẻ mót cá tua tủa chạy lại, xôn xao cười nói, mỗi đứa tay cầm một cái vợt nhỏ. Một người đánh cá cởi trần quần nâu bện lên tới háng, giơ ra một cái que nứa và dữ tợn dọa nạt: "Chúng mày mà lại gần thì chết đòn bây giờ!". Bọn kia như không thèm nghe, lội cả xuống nước, quây quần lấy cái mảng, đứng sát vào hai bên thành lưới đã kéo gần tới đây. Tiếng que nứa mỏng vun vút trong không, hay đen đét lên đầu, lên mình lũ trẻ nhốn nháo. Những con cá lớn, trắng, sáng loáng như bạc từ dưới nước tự ném mình lên trên không để lại rơi xuống khoảng lưới vẫn đương kéo vào. Những con cá nhỏ, đầu nhọn thân dài và dẹp mắc trong mắt lưới bị người ta dứt mạnh vứt vào cái lồ đặt trên mảng, nếu không bị một thằng bé con nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hắt vào trong vợt của nó.
Chỉ dăm phút, cá đã bỏ hết vào lồ đầy tới hai phần ba. Trộn lộn, lúc nhúc, nào cá thu phơn phớt màu xanh, nào cá chim lấp lánh màu bạc và biết bao nhiêu các thứ cá nhỏ giống nhau mà chỉ dân vùng biển mới có thể phân biệt và thuộc tên. Lẫn vào đó những con mực râu dài, những con cua với đôi khuyên tròn như cặp mắt vẽ trên mai, những con tôm vàng đầu to, uốn mình nhảy tanh tách.
Năm, sáu chị buôn cá xúm lại, vây chặt lấy cái lồ đã khiêng lên bãi. Câu nói thách, câu mặc cả, lời cãi nhau, mắng nhau. Một người đàn bà lôi lấy lồ, một người đàn ông kéo giật lại. Nhưng rồi mua bán cũng xong ngay, và mấy người đàn bà vội vàng cùng nhau chia phần đổ vào thúng, thoăn thoắt gánh đi.
Yên lặng lại trở về trong bầu không khí vẫn sáng dịu. Và những cái bóng yên lặng của những người kéo lưới vẫn nằm dài trên làn cát ướt. Lũ trẻ đã biến đâu mất cả. Ngoài bọn dân chài chỉ còn lại ở dưới bóng rợp cái mảng kê trên nạng, hai đứa bé mà tôi trông thấy ngay từ lúc mới ra bãi biển. Một thằng ngồi bó gối, một thằng nằm sấp, cả hai cùng chăm chú nhìn vào một khoảng đất ở trước mặt, và cùng có vẻ suy nghĩ, tìm tòi.
Tôi lại gần thì đó hai vị tiểu tiên đương ham mải một ván cờ "hoa thị"; những quân cờ là những mẩu que nứa cắm xuống cát. Tôi đứng nhìn qua một lượt, xem xét thế trận của hai bên quân que để nguyên và quân que bẻ gẫy, rồi tôi mỉm cười tuyên bố: "Hòa thôi!". Cả hai đứa trẻ cùng ngửng lên. Một đứa đăm đăm nhìn tôi và chào: "Thầy! Năm nay thầy ra nghỉ mát sớm!". Tôi nghĩ thầm: "Nghĩa là năm ngoái nó đã gặp mình". Tôi hỏi:
- Thế nào? Hòa thôi chứ, em? Hai bên bằng quân mà tướng lại cùng bị vây...
Thằng kia cười đáp:
- Vâng, hòa. Hòa thôi, Tuất ạ. Đánh ván khác nhé?
Tuất lạnh lùng:
- Thôi, chả đánh nữa! Đánh với mày buồn chết, ván nào cũng hòa.
Rồi nó đứng dậy đi bên cạnh tôi.
- Thưa thầy, thầy ở Hà Nội?
- Ừ, sao em biết?
Tôi mỉm cười đáp. Tuất rất tự nhiên trả lời:
- Thưa thầy, con tưởng những người Bắc vào đây toàn là người Hà Nội cả.
- Vậy em đã biết Hà Nội chưa?
Tôi tưởng hỏi đùa, và tôi ngạc nhiên khi nghe Tuất đáp lại:
- Thưa thầy đã.
Nó ngước nhìn tôi, nhìn rất lâu như để tìm cái hình ảnh Hà Nội in trong đôi con ngươi của một người Hà Nội mới đem vào. Lần đầu tôi nhận thấy cặp mắt sáng và trong, cặp mắt hơi xếch lên thái dương nhưng không vì thế mà dữ tợn, không vì thế mà mất vẻ ngây thơ dịu dàng, nhân hậu. Cặp mắt của anh đồ Thanh, của anh "đồ Râu" (vì anh có bộ râu rất đen và đẹp), tác giả hai câu thơ trên kia. Cặp mắt của một người chở phà mà tôi đã gặp năm kia ở một bến đò qua sông Mã trên một con đường hẻo lánh. Hôm ấy ngắm người trai trẻ vạm vỡ tuấn tú và trang nghiêm, không hiểu sao tôi nghĩ ngay tới chú đình trưởng Lưu Bang, nhưng hôm nay nhìn thằng bé xinh xẻo với cũng cặp mắt trong sáng và hơi xếch ấy, tôi lại tưởng tới vua Lê Lợi, thời còn hàn vi, ẩn náu ở một bến đò nào đó bên dòng sông Mã nước chảy phăng phăng ra biển khơi.
Sau một phút im lặng đi cạnh tôi, Tuất hỏi:
- Thầy có biết phố nhà Thương không?
Tôi hỏi lại:
- Có phải phố Phủ Doãn không?
Tuất nhìn tôi, ngẫm nghĩ:
- Dạ, có lẽ phải đó. Con không sao nhớ được cái tên ấy, con chỉ gọi là phố nhà Thương, ở ngay sau nhà thương, rẽ ra phố Tràng Tiền, thẳng lên phố Bônbe có hiệu Gôđa. Con đã vào hiệu Gôđa rồi, to lắm, đẹp lắm...
Nhưng sáng nay, lòng tôi vui thích. Nhớ lại tính nết tôi mấy hôm trước, tôi thấy tôi vô lý. Tiếng học chữ Hán vẫn bay sang, lanh lảnh như tiếng tụng kinh của một chú tiểu tốt giọng, đều đều như tiếng niệm phật của các tín nữ lên chùa, và quen quen, thân mật như tự ngàn xưa sống lại. Cả một thời ký vãng của tôi cũng sống lại, cái thời thơ ấu học chữ Nho. Tôi tưởng như chính tôi đương ê a đọc đi đọc lại mãi một câu: "I a phận từ tử hiến i a... i a phận từ tử hiến i a...". Giọng đường trong khiến tôi nhớ tới một bậc đàn anh người xứ Thanh. Ngày xưa không gì thú cho tôi bằng nghe anh đọc thơ và bình văn tuy tôi chẳng hiểu chi hết. Bất giác bắt chước giọng anh, tôi ngâm nga đọc hai câu thơ của anh mà cái trí nhớ thời tám chín tuổi vẫn còn giữ vẹn toàn, tươi mát như rau nguồn vừa mới hái:
Thuấn hà nhân dã ngã tư tề,
Lạc thiện tâm tùy báo hiểu kê...
Các bạn có hiểu tại sao tôi vui thế không, tại sao hôm nay tôi sung sướng thế không? Mặt trời cuối xuân đã mọc trên từng không xanh ngắt và trong lòng tôi sáng tươi.
Tôi ra bãi biển, mặc sơ sài có một cái áo sát, một cái quần đùi ngắn. Ở đó cố nhiên tôi chỉ gặp toàn những dân chài lưới, người nghỉ mát độc nhất là tôi. Nhưng không vì vắng người tắm biển mà bãi biển kém vẻ hoạt động, dù đây không còn là cái hoạt động thanh lịch, xinh xẻo, cái hoạt động phô bày, dàn xếp từ các nơi thành thị đem về như người ta phô bày, dàn xếp một cảnh hoạt động giả dối ở trên sân khấu nhà hát. Đây là cái hoạt động thiên nhiên, mộc mạc và hùng vĩ.
Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường tráng, nổi từng bắp thịt rắn chắc và rám tía cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát và từ từ lùi lại, từ từ quá đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ, nếu thỉnh thoảng người cuối hàng không tháo dây móc ra để lộn lên đầu hàng, rồi lại lặng lẽ lạnh lùng, không suy nghĩ, ưỡn mình ngả về phía sau giẫm chân từ từ kéo. ánh nắng vàng dịu, trong mát, mong manh, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây xanh, vẽ dài những hình rung động lên cát ướt.
Một cái lưới kéo vào bờ. Yên lặng đứt quãng, yên lặng mà tiếng sóng biển ầm ĩ, đều đều càng làm tăng lên. Một cái mảng từ đâu chở đến vừa vụt hiện ra để hứng lấy từng sải lưới. Đàn trẻ mót cá tua tủa chạy lại, xôn xao cười nói, mỗi đứa tay cầm một cái vợt nhỏ. Một người đánh cá cởi trần quần nâu bện lên tới háng, giơ ra một cái que nứa và dữ tợn dọa nạt: "Chúng mày mà lại gần thì chết đòn bây giờ!". Bọn kia như không thèm nghe, lội cả xuống nước, quây quần lấy cái mảng, đứng sát vào hai bên thành lưới đã kéo gần tới đây. Tiếng que nứa mỏng vun vút trong không, hay đen đét lên đầu, lên mình lũ trẻ nhốn nháo. Những con cá lớn, trắng, sáng loáng như bạc từ dưới nước tự ném mình lên trên không để lại rơi xuống khoảng lưới vẫn đương kéo vào. Những con cá nhỏ, đầu nhọn thân dài và dẹp mắc trong mắt lưới bị người ta dứt mạnh vứt vào cái lồ đặt trên mảng, nếu không bị một thằng bé con nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hắt vào trong vợt của nó.
Chỉ dăm phút, cá đã bỏ hết vào lồ đầy tới hai phần ba. Trộn lộn, lúc nhúc, nào cá thu phơn phớt màu xanh, nào cá chim lấp lánh màu bạc và biết bao nhiêu các thứ cá nhỏ giống nhau mà chỉ dân vùng biển mới có thể phân biệt và thuộc tên. Lẫn vào đó những con mực râu dài, những con cua với đôi khuyên tròn như cặp mắt vẽ trên mai, những con tôm vàng đầu to, uốn mình nhảy tanh tách.
Năm, sáu chị buôn cá xúm lại, vây chặt lấy cái lồ đã khiêng lên bãi. Câu nói thách, câu mặc cả, lời cãi nhau, mắng nhau. Một người đàn bà lôi lấy lồ, một người đàn ông kéo giật lại. Nhưng rồi mua bán cũng xong ngay, và mấy người đàn bà vội vàng cùng nhau chia phần đổ vào thúng, thoăn thoắt gánh đi.
Yên lặng lại trở về trong bầu không khí vẫn sáng dịu. Và những cái bóng yên lặng của những người kéo lưới vẫn nằm dài trên làn cát ướt. Lũ trẻ đã biến đâu mất cả. Ngoài bọn dân chài chỉ còn lại ở dưới bóng rợp cái mảng kê trên nạng, hai đứa bé mà tôi trông thấy ngay từ lúc mới ra bãi biển. Một thằng ngồi bó gối, một thằng nằm sấp, cả hai cùng chăm chú nhìn vào một khoảng đất ở trước mặt, và cùng có vẻ suy nghĩ, tìm tòi.
Tôi lại gần thì đó hai vị tiểu tiên đương ham mải một ván cờ "hoa thị"; những quân cờ là những mẩu que nứa cắm xuống cát. Tôi đứng nhìn qua một lượt, xem xét thế trận của hai bên quân que để nguyên và quân que bẻ gẫy, rồi tôi mỉm cười tuyên bố: "Hòa thôi!". Cả hai đứa trẻ cùng ngửng lên. Một đứa đăm đăm nhìn tôi và chào: "Thầy! Năm nay thầy ra nghỉ mát sớm!". Tôi nghĩ thầm: "Nghĩa là năm ngoái nó đã gặp mình". Tôi hỏi:
- Thế nào? Hòa thôi chứ, em? Hai bên bằng quân mà tướng lại cùng bị vây...
Thằng kia cười đáp:
- Vâng, hòa. Hòa thôi, Tuất ạ. Đánh ván khác nhé?
Tuất lạnh lùng:
- Thôi, chả đánh nữa! Đánh với mày buồn chết, ván nào cũng hòa.
Rồi nó đứng dậy đi bên cạnh tôi.
- Thưa thầy, thầy ở Hà Nội?
- Ừ, sao em biết?
Tôi mỉm cười đáp. Tuất rất tự nhiên trả lời:
- Thưa thầy, con tưởng những người Bắc vào đây toàn là người Hà Nội cả.
- Vậy em đã biết Hà Nội chưa?
Tôi tưởng hỏi đùa, và tôi ngạc nhiên khi nghe Tuất đáp lại:
- Thưa thầy đã.
Nó ngước nhìn tôi, nhìn rất lâu như để tìm cái hình ảnh Hà Nội in trong đôi con ngươi của một người Hà Nội mới đem vào. Lần đầu tôi nhận thấy cặp mắt sáng và trong, cặp mắt hơi xếch lên thái dương nhưng không vì thế mà dữ tợn, không vì thế mà mất vẻ ngây thơ dịu dàng, nhân hậu. Cặp mắt của anh đồ Thanh, của anh "đồ Râu" (vì anh có bộ râu rất đen và đẹp), tác giả hai câu thơ trên kia. Cặp mắt của một người chở phà mà tôi đã gặp năm kia ở một bến đò qua sông Mã trên một con đường hẻo lánh. Hôm ấy ngắm người trai trẻ vạm vỡ tuấn tú và trang nghiêm, không hiểu sao tôi nghĩ ngay tới chú đình trưởng Lưu Bang, nhưng hôm nay nhìn thằng bé xinh xẻo với cũng cặp mắt trong sáng và hơi xếch ấy, tôi lại tưởng tới vua Lê Lợi, thời còn hàn vi, ẩn náu ở một bến đò nào đó bên dòng sông Mã nước chảy phăng phăng ra biển khơi.
Sau một phút im lặng đi cạnh tôi, Tuất hỏi:
- Thầy có biết phố nhà Thương không?
Tôi hỏi lại:
- Có phải phố Phủ Doãn không?
Tuất nhìn tôi, ngẫm nghĩ:
- Dạ, có lẽ phải đó. Con không sao nhớ được cái tên ấy, con chỉ gọi là phố nhà Thương, ở ngay sau nhà thương, rẽ ra phố Tràng Tiền, thẳng lên phố Bônbe có hiệu Gôđa. Con đã vào hiệu Gôđa rồi, to lắm, đẹp lắm...
Tôi mỉm cười ngắt lời nó:
- Vậy ra em đã ở Hà Nội?
- Dạ.
Rồi Tuất kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện đời nó.
Mẹ Tuất chết rồi. Cả cậu Tuất nữa. Tôi không rõ tại sao cậu Tuất lại có một địa vị quan trọng trong đời Tuất và trong câu chuyện của Tuất. Tôi cũng không hỏi kỹ để biết duyên cớ. Trước tôi vẫn tưởng "cậu" là người sinh ra thằng bé, tuy tôi cũng hơi lạ một điều về cách xưng hô của nó: mẹ với cậu. Nhưng không, không phải cậu là cha Tuất, cậu chính là em mẹ Tuất, Tuất nói thêm cho tôi biết thế. "Còn cha Tuất?" Câu hỏi ấy chỉ chực thốt ra, nhưng vẫn bị giữ lại. Tôi như sợ làm buồn hoặc phật lòng thằng bé, vì một thiên tiểu thuyết gia đình vừa phác ra trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy thằng bé mồ côi mẹ, rồi cha nó lấy vợ kế, một người vợ đảm đang và cay nghiệt, và nhiều lời như một số đàn bà tôi thường gặp ở Sầm Sơn. Nhưng trong mấy năm sau khi mất mẹ, thằng bé còn được cậu bênh vực, che chở, chống cự lại người mẹ kế dữ tợn. Rồi người cậu cũng mất. Từ đó thằng bé bỗng thấy mình trơ trọi trong cái gia đình không yêu mến. Tôi cúi nhìn Tuất như để đọc thiên tiểu thuyết của tôi in trong gương mắt ngây thơ, nhưng thằng bé vẫn vui vẻ kể tiếp câu chuyện của nó.
Nó đến ở với bà An Lợi. Bà ta yêu nó lắm. Còn ai không yêu được một thằng bé con kháu khỉnh như nó? Trừ có là dì ghẻ nó. Thế rồi gần hết hè bà ta hỏi nó có muốn theo ra Hà Nội không.
Ra Hà Nội? Tuất chưa từng bao giờ nghĩ tới. Nhưng bắt đầu từ hôm ấy nó nghĩ tới. Nó không thể tưởng tượng được Hà Nội như thế nào. Song nó chắc ở đó có nhiều, rất nhiều nhà gạch vừa to vừa cao, và rất nhiều ô tô vừa đẹp vừa nhanh. Còn người ở Hà Nội thì chắc như tất cả những "thầy", những "cô" vào Sầm Sơn nghỉ mát. Hình ảnh cái thành phố lớn lao, đẹp đẽ ngày đêm hiện ra trong khối óc mười lăm tuổi, hiện ra lờ mờ, xa xăm như hình ảnh thiên đường và địa ngục hiện ra trong óc một người đàn bà tin đạo. Thực ra nó yêu Hà Nội như người ta yêu thiên đường, nhưng nó cũng sợ Hà Nội như người ta sợ địa ngục.
Một hôm nó bảo bà An Lợi:
- Thưa bà, chắc Hà Nội đông người lắm?
Bà kia mỉm cười:
- Đông lắm. Đông như một tổ kiến vậy.
- Thưa bà, nhà cao dễ đến chục từng?
- Không, chỉ hai, ba từng thôi, nhưng mà to và nhiều lắm.
- Còn xe ô tô?
- Ồ! Xe ô tô ư! Đường đi như mắc cửi.
Thằng bé nghĩ ngợi, lo lắng. Về Hà Nội, nó làm thế nào để tránh được ô tô, để khỏi bị đè chết?
Nhưng hôm bà An Lợi sửa soạn ra về nó bỗng quả quyết bằng lòng đi theo hầu. Giọng thằng bé đến đây cất cao lên:
- Thưa thầy quả thực Hà Nội đẹp. Mà có nhiều cái đẹp quá. Hôm mới ra, mỗi lần bà chủ sai con đi đâu có việc gì, lúc về thể nào con cũng bị cốp, vì con đi lâu quá, gặp cái gì con cũng đứng lại xem. Gặp người nào đẹp, ăn mặc hay hay con cũng đứng lại ngắm nghía. Có người thấy con nhìn cũng nhìn lại con, rồi bật lên cười to, làm con xấu hổ cắm đầu chạy. Một hôm bà chủ sai con mua một lạng cà phê ở hiệu Gô đa, con đi mất hết cả buổi sáng. Về, bà con tát cho hai cái nên thân, nhưng mà con cũng hả. Trời ơi, đẹp quá thầy ạ... Thế rồi con cũng quen dần đi. Về sau, con không lạ nữa, bà chủ sai con đi đâu con đi một mạch, chẳng nhìn trước, nhìn sau, bên phải, bên trái nữa.
Thấy Tuất ngừng lại, tôi hỏi:
- Nhưng nay sao em không ở với bà An Lợi?
Thằng bé buồn rầu kể cho tôi nghe đoạn cuối câu chuyện:
Bà An Lợi yêu nó lắm, vì nó ngoan ngoãn nết na. Nhưng không hiểu sao một hôm nó chợt thấy nhớ nhà, nhớ núi Sầm Sơn, nhớ biển Sầm Sơn, nhớ bãi cát Sầm Sơn, nhớ lũ trẻ nô đùa và nhớ cả thầy đồ dạy chữ Hán. Có lẽ lòng háo hức thích Hà Nội đã nhạt. Cái thành phố tráng lệ không còn sức hấp dẫn đối với khối óc ham muốn, không còn đủ mãnh lực để đè át cái tình nhớ quê hương vẫn âm thầm, ẩn náu trong lòng thằng bé con vùng biển.
- Thưa thầy, Tuất kể, suốt một tháng, đêm nào con cũng tưởng đương ở nhà, đương chạy nhảy hay đánh cờ ở ngoài bãi với bạn bè. Bên tai con, tiếng sóng biển réo ầm ầm. Nhưng giật mình tỉnh dậy, con vẫn thấy con nằm ở trên gác nhà bà chủ con. ở dưới đường, đèn điện sáng như ban ngày mà xe ô tô thì chạy rầm rập qua trước cổng nhà thương. Con bưng mặt ngồi khóc, khóc mãi cho tới lúc mệt quá lại ngủ thiếp đi. Mấy hôm đầu, con còn khóc to, nhưng bà chủ con mắng và đánh nữa, nên về sau con chỉ khóc thầm nhét vạt áo vào miệng cho bà chủ khỏi nghe thấy tiếng. Mà người con mỗi ngày một gầy đi. Con gầy quá cơ, thầy ạ. Thầy tính hằng hai, ba ngày liền ăn mỗi bữa một miếng cơm, có khi nhịn đói và chỉ uống nước lã thì làm gì mà không gầy không sút đi. Bà chủ con thương con lắm, cứ hỏi con tại sao con hay buồn hay khóc. Trước con còn giấu quanh; về sau con liền thú thực với bà chủ con rằng con nhớ nhà. Bà chủ con dỗ con: "Rồi lâu quên đi". Nhưng con không quên, thầy ạ. Bà chủ con lại mắng con; "Đã lớn rồi mà còn nhớ nhà!"
Đến đây, tôi ngắt lời Tuất và hỏi:
- Nhưng em nhớ ai? Em đã bảo mẹ em chết rồi, và cả cậu em cũng chết rồi kia mà.
- Thưa thầy, con nhớ nhà. Nhớ biển, nhớ núi, nhớ... nhớ hết cả mọi thứ. Với lại chính vì má con với cậu con nữa. Má con cứ luôn luôn bảo con; "Tuất ơi! Về đi thôi, về đi thôi. Ở đây làm gì, đây không phải nhà mày!" Cả cậu con nữa, cậu con cứ đuổi con "ồi ồi".
- Mẹ em? Cậu em? Tưởng mẹ em và cậu em đều mất rồi kia mà?
- Dạ, má con và cậu con chết rồi. Con nói con nằm chiêm bao đấy chứ. Một tuần lễ trước hôm được về nhà, đêm nào con cũng nằm chiêm bao thấy má con và cậu con hiện lên đuổi con về. Hôm sau cùng má con gắt và mắng con: "Sao tao dạy bảo mày không nghe lời tao, hở Tuất?" Con lên kêu van với bà chủ con. Bà chủ con thấy con gầy rạc, mặt mũi hốc hác, xanh xao thì sợ con chết nên bằng lòng cho phép con về. Nhưng bảo con hãy chờ vài hôm để bà tìm người đưa con vào Sầm Sơn. Con nói liều: "Thưa bà con nhớ đường, bà cứ để con vào một mình". Thế là bà chủ trả tiền công con, lại cho con hai đồng tiền tầu. Chiều hôm ấy con về tới Thanh Hóa, rồi đi bộ vào Sầm Sơn liền. Mãi khuya con mới về tới nhà. Nhân đêm hôm ấy có trăng, con đi thẳng ra bãi biển, và con ngồi xuống cát, con khóc, khóc mãi...
Tuất ngừng hẳn, yên lặng đi bên cạnh tôi. Bỗng một lát sau nó vơ vẩn nhìn lên đường hỏi:
- Thưa thầy, nghe nói tiền tầu nay tăng giá. Năm ngoái con lấy vé mất có một đồng mười ba xu.
Tôi lơ đãng trả lời thằng bé:
- Bây giờ vẫn thế.
Và tôi nghĩ thầm:
"Hay nó còn nhớ tiếc Hà Nội và nghĩ đến món tiền mua vé xe lửa đấy chăng?"
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/bien/61
- Vậy ra em đã ở Hà Nội?
- Dạ.
Rồi Tuất kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện đời nó.
Mẹ Tuất chết rồi. Cả cậu Tuất nữa. Tôi không rõ tại sao cậu Tuất lại có một địa vị quan trọng trong đời Tuất và trong câu chuyện của Tuất. Tôi cũng không hỏi kỹ để biết duyên cớ. Trước tôi vẫn tưởng "cậu" là người sinh ra thằng bé, tuy tôi cũng hơi lạ một điều về cách xưng hô của nó: mẹ với cậu. Nhưng không, không phải cậu là cha Tuất, cậu chính là em mẹ Tuất, Tuất nói thêm cho tôi biết thế. "Còn cha Tuất?" Câu hỏi ấy chỉ chực thốt ra, nhưng vẫn bị giữ lại. Tôi như sợ làm buồn hoặc phật lòng thằng bé, vì một thiên tiểu thuyết gia đình vừa phác ra trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy thằng bé mồ côi mẹ, rồi cha nó lấy vợ kế, một người vợ đảm đang và cay nghiệt, và nhiều lời như một số đàn bà tôi thường gặp ở Sầm Sơn. Nhưng trong mấy năm sau khi mất mẹ, thằng bé còn được cậu bênh vực, che chở, chống cự lại người mẹ kế dữ tợn. Rồi người cậu cũng mất. Từ đó thằng bé bỗng thấy mình trơ trọi trong cái gia đình không yêu mến. Tôi cúi nhìn Tuất như để đọc thiên tiểu thuyết của tôi in trong gương mắt ngây thơ, nhưng thằng bé vẫn vui vẻ kể tiếp câu chuyện của nó.
Nó đến ở với bà An Lợi. Bà ta yêu nó lắm. Còn ai không yêu được một thằng bé con kháu khỉnh như nó? Trừ có là dì ghẻ nó. Thế rồi gần hết hè bà ta hỏi nó có muốn theo ra Hà Nội không.
Ra Hà Nội? Tuất chưa từng bao giờ nghĩ tới. Nhưng bắt đầu từ hôm ấy nó nghĩ tới. Nó không thể tưởng tượng được Hà Nội như thế nào. Song nó chắc ở đó có nhiều, rất nhiều nhà gạch vừa to vừa cao, và rất nhiều ô tô vừa đẹp vừa nhanh. Còn người ở Hà Nội thì chắc như tất cả những "thầy", những "cô" vào Sầm Sơn nghỉ mát. Hình ảnh cái thành phố lớn lao, đẹp đẽ ngày đêm hiện ra trong khối óc mười lăm tuổi, hiện ra lờ mờ, xa xăm như hình ảnh thiên đường và địa ngục hiện ra trong óc một người đàn bà tin đạo. Thực ra nó yêu Hà Nội như người ta yêu thiên đường, nhưng nó cũng sợ Hà Nội như người ta sợ địa ngục.
Một hôm nó bảo bà An Lợi:
- Thưa bà, chắc Hà Nội đông người lắm?
Bà kia mỉm cười:
- Đông lắm. Đông như một tổ kiến vậy.
- Thưa bà, nhà cao dễ đến chục từng?
- Không, chỉ hai, ba từng thôi, nhưng mà to và nhiều lắm.
- Còn xe ô tô?
- Ồ! Xe ô tô ư! Đường đi như mắc cửi.
Thằng bé nghĩ ngợi, lo lắng. Về Hà Nội, nó làm thế nào để tránh được ô tô, để khỏi bị đè chết?
Nhưng hôm bà An Lợi sửa soạn ra về nó bỗng quả quyết bằng lòng đi theo hầu. Giọng thằng bé đến đây cất cao lên:
- Thưa thầy quả thực Hà Nội đẹp. Mà có nhiều cái đẹp quá. Hôm mới ra, mỗi lần bà chủ sai con đi đâu có việc gì, lúc về thể nào con cũng bị cốp, vì con đi lâu quá, gặp cái gì con cũng đứng lại xem. Gặp người nào đẹp, ăn mặc hay hay con cũng đứng lại ngắm nghía. Có người thấy con nhìn cũng nhìn lại con, rồi bật lên cười to, làm con xấu hổ cắm đầu chạy. Một hôm bà chủ sai con mua một lạng cà phê ở hiệu Gô đa, con đi mất hết cả buổi sáng. Về, bà con tát cho hai cái nên thân, nhưng mà con cũng hả. Trời ơi, đẹp quá thầy ạ... Thế rồi con cũng quen dần đi. Về sau, con không lạ nữa, bà chủ sai con đi đâu con đi một mạch, chẳng nhìn trước, nhìn sau, bên phải, bên trái nữa.
Thấy Tuất ngừng lại, tôi hỏi:
- Nhưng nay sao em không ở với bà An Lợi?
Thằng bé buồn rầu kể cho tôi nghe đoạn cuối câu chuyện:
Bà An Lợi yêu nó lắm, vì nó ngoan ngoãn nết na. Nhưng không hiểu sao một hôm nó chợt thấy nhớ nhà, nhớ núi Sầm Sơn, nhớ biển Sầm Sơn, nhớ bãi cát Sầm Sơn, nhớ lũ trẻ nô đùa và nhớ cả thầy đồ dạy chữ Hán. Có lẽ lòng háo hức thích Hà Nội đã nhạt. Cái thành phố tráng lệ không còn sức hấp dẫn đối với khối óc ham muốn, không còn đủ mãnh lực để đè át cái tình nhớ quê hương vẫn âm thầm, ẩn náu trong lòng thằng bé con vùng biển.
- Thưa thầy, Tuất kể, suốt một tháng, đêm nào con cũng tưởng đương ở nhà, đương chạy nhảy hay đánh cờ ở ngoài bãi với bạn bè. Bên tai con, tiếng sóng biển réo ầm ầm. Nhưng giật mình tỉnh dậy, con vẫn thấy con nằm ở trên gác nhà bà chủ con. ở dưới đường, đèn điện sáng như ban ngày mà xe ô tô thì chạy rầm rập qua trước cổng nhà thương. Con bưng mặt ngồi khóc, khóc mãi cho tới lúc mệt quá lại ngủ thiếp đi. Mấy hôm đầu, con còn khóc to, nhưng bà chủ con mắng và đánh nữa, nên về sau con chỉ khóc thầm nhét vạt áo vào miệng cho bà chủ khỏi nghe thấy tiếng. Mà người con mỗi ngày một gầy đi. Con gầy quá cơ, thầy ạ. Thầy tính hằng hai, ba ngày liền ăn mỗi bữa một miếng cơm, có khi nhịn đói và chỉ uống nước lã thì làm gì mà không gầy không sút đi. Bà chủ con thương con lắm, cứ hỏi con tại sao con hay buồn hay khóc. Trước con còn giấu quanh; về sau con liền thú thực với bà chủ con rằng con nhớ nhà. Bà chủ con dỗ con: "Rồi lâu quên đi". Nhưng con không quên, thầy ạ. Bà chủ con lại mắng con; "Đã lớn rồi mà còn nhớ nhà!"
Đến đây, tôi ngắt lời Tuất và hỏi:
- Nhưng em nhớ ai? Em đã bảo mẹ em chết rồi, và cả cậu em cũng chết rồi kia mà.
- Thưa thầy, con nhớ nhà. Nhớ biển, nhớ núi, nhớ... nhớ hết cả mọi thứ. Với lại chính vì má con với cậu con nữa. Má con cứ luôn luôn bảo con; "Tuất ơi! Về đi thôi, về đi thôi. Ở đây làm gì, đây không phải nhà mày!" Cả cậu con nữa, cậu con cứ đuổi con "ồi ồi".
- Mẹ em? Cậu em? Tưởng mẹ em và cậu em đều mất rồi kia mà?
- Dạ, má con và cậu con chết rồi. Con nói con nằm chiêm bao đấy chứ. Một tuần lễ trước hôm được về nhà, đêm nào con cũng nằm chiêm bao thấy má con và cậu con hiện lên đuổi con về. Hôm sau cùng má con gắt và mắng con: "Sao tao dạy bảo mày không nghe lời tao, hở Tuất?" Con lên kêu van với bà chủ con. Bà chủ con thấy con gầy rạc, mặt mũi hốc hác, xanh xao thì sợ con chết nên bằng lòng cho phép con về. Nhưng bảo con hãy chờ vài hôm để bà tìm người đưa con vào Sầm Sơn. Con nói liều: "Thưa bà con nhớ đường, bà cứ để con vào một mình". Thế là bà chủ trả tiền công con, lại cho con hai đồng tiền tầu. Chiều hôm ấy con về tới Thanh Hóa, rồi đi bộ vào Sầm Sơn liền. Mãi khuya con mới về tới nhà. Nhân đêm hôm ấy có trăng, con đi thẳng ra bãi biển, và con ngồi xuống cát, con khóc, khóc mãi...
Tuất ngừng hẳn, yên lặng đi bên cạnh tôi. Bỗng một lát sau nó vơ vẩn nhìn lên đường hỏi:
- Thưa thầy, nghe nói tiền tầu nay tăng giá. Năm ngoái con lấy vé mất có một đồng mười ba xu.
Tôi lơ đãng trả lời thằng bé:
- Bây giờ vẫn thế.
Và tôi nghĩ thầm:
"Hay nó còn nhớ tiếc Hà Nội và nghĩ đến món tiền mua vé xe lửa đấy chăng?"
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/bien/61
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Đăng trên báo Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Nguồn: https://vietmessenger.com
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Đi ra thôi
Truyện vui của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Đi ra thôi
Ăn cơm xong họ ra sân ngồi uống cà-phê. Trời tối, có thể nói như mực được. Một bà khách nhìn ra cổng hỏi bà chủ:
- Ở đây có sẵn cái số ấy không nhỉ?
Bà chủ hình như đang theo đuổi cùng một ý nghĩ, nên hiểu ngay và trả lời:
-Thưa chị, ở đây sẵn trộm lắm, đêm nào chúng nó cũng vào sân...
- Ồ! Tôi có cách đuổi trộm tài tình lắm.
Ai nấy lắng tai chờ nghe. Và một bà sốt ruột hỏi dồn:
- Cách gì? Cách gì thế anh? Anh làm thế nào?
Ông chủ chậm rãi nói:
- Tôi để sẵn cái đàn ở đầu giường, hễ nghe thấy động rạng, tôi lại vớ lấy gẩy vài tiếng như để bảo anh trộm: "Tôi vẫn thức đây mà!" Thế là anh ta hiểu và sẽ để mình được ngủ yên.
Khách cất tiếng cười, có người vì thấy cách đuổi trộm hơi ngộ nghĩnh, nhưng cũng có người vì khoa xã giao cười để câu chuyện của chủ nhân đỡ nhạt.
Một ông không cười, ngồi như suy nghĩ, rồi chờ ai nấy im lặng, ông ta nói:
- Kể cách đuổi trộm của anh cũng khá đấy. Nhưng chưa thấm vào đâu với cách của tôi.
"Dạo ấy, nhà tôi mất trộm luôn xoành xoạch. Mất cũng chả đáng là bao, lần thì vài cái quần áo cũ ngâm trong châu để mai giặt sớm; lần thì vài cái bát đĩa rếch mà người nhà tôi lười biếng quẵng bên vại nước, chưa kịp rửa. Có lần không lấy được gì, anh trộm nậy cả một mẩu ống máng, hay bẻ một đoạn ống chì bọc dây điện thoại. Lần cuối cùng anh ta chặt ống dẫn nước nhưng quên không khóa compteur thành thử nước vọt mạnh vào mặt, làm anh ta sợ hãi bỏ chạy. May lúc bấy giờ đã gần sáng nên số nước bị thiệt hại cho tôi cũng chẳng đáng là bao.
Tôi bực mình lắm. Vẫn biết anh trộm kia là một tay trộm đói, bạ cái gì cũng lấy, chẳng nề hà vật nhỏ mọn, nhưng anh ta coi nhà tôi như nơi không người, mặc sức hành động thì tôi chịu sao nổi. Vợ tôi giục trình cẩm. Tôi không nghe theo. Không phải tôi ngờ vực sự mẫn cán, sự tài giỏi của sở cảnh sát, tôi chỉ thấy việc đó là một việc làm phiền cho tôi. Trình cẩm, rồi hôm sau xem báo sẽ thấy đăng tên mình với các đồ mất trộm đáng giá độ hai ba đồng bạc chẳng hạn. Còn gì khôi hài bằng! Vả - không phải tôi đạo đức rởm đâu nhé! - Vả tôi thấy cái cách dùng oai quyền với mấy anh trộm đói nó thế nào ấy. Tôi gàn, phải không? Nhưng tôi gàn thực thì còn biết làm thế nào?..."
Mọi người phá lên cười. Họ đều thấy câu chuyện hay hay, ngồ ngộ. Và họ đua nhau hỏi:
- Thế rồi sao? Anh làm thế nào?
- Tôi rình.
- Anh rình bắt trộm?
- "Phải, tôi giận lắm. Tôi cáu quá rồi. Nhất là tôi không bằng lòng cái cách làm việc của anh trộm một tí nào. Sao có người ngu ngốc đến thế? Định lấy trộm một khúc ống chì đáng giá vài hào bạc để làm phí đến dăm thước khối nước của người ta. Nước lại vừa tăng giá! Anh ta chẳng chịu suy trước nghĩ sau. Vì thế tôi nhất đinh cho anh ta một bài học.
Tôi rình. Tôi rình luôn hai hôm. Và chẳng lâu la gì, ngay đêm thứ hai, vào khoảng bốn giờ sáng, tôi tóm được..."
- Ở đây có sẵn cái số ấy không nhỉ?
Bà chủ hình như đang theo đuổi cùng một ý nghĩ, nên hiểu ngay và trả lời:
-Thưa chị, ở đây sẵn trộm lắm, đêm nào chúng nó cũng vào sân...
- Ồ! Tôi có cách đuổi trộm tài tình lắm.
Ai nấy lắng tai chờ nghe. Và một bà sốt ruột hỏi dồn:
- Cách gì? Cách gì thế anh? Anh làm thế nào?
Ông chủ chậm rãi nói:
- Tôi để sẵn cái đàn ở đầu giường, hễ nghe thấy động rạng, tôi lại vớ lấy gẩy vài tiếng như để bảo anh trộm: "Tôi vẫn thức đây mà!" Thế là anh ta hiểu và sẽ để mình được ngủ yên.
Khách cất tiếng cười, có người vì thấy cách đuổi trộm hơi ngộ nghĩnh, nhưng cũng có người vì khoa xã giao cười để câu chuyện của chủ nhân đỡ nhạt.
Một ông không cười, ngồi như suy nghĩ, rồi chờ ai nấy im lặng, ông ta nói:
- Kể cách đuổi trộm của anh cũng khá đấy. Nhưng chưa thấm vào đâu với cách của tôi.
"Dạo ấy, nhà tôi mất trộm luôn xoành xoạch. Mất cũng chả đáng là bao, lần thì vài cái quần áo cũ ngâm trong châu để mai giặt sớm; lần thì vài cái bát đĩa rếch mà người nhà tôi lười biếng quẵng bên vại nước, chưa kịp rửa. Có lần không lấy được gì, anh trộm nậy cả một mẩu ống máng, hay bẻ một đoạn ống chì bọc dây điện thoại. Lần cuối cùng anh ta chặt ống dẫn nước nhưng quên không khóa compteur thành thử nước vọt mạnh vào mặt, làm anh ta sợ hãi bỏ chạy. May lúc bấy giờ đã gần sáng nên số nước bị thiệt hại cho tôi cũng chẳng đáng là bao.
Tôi bực mình lắm. Vẫn biết anh trộm kia là một tay trộm đói, bạ cái gì cũng lấy, chẳng nề hà vật nhỏ mọn, nhưng anh ta coi nhà tôi như nơi không người, mặc sức hành động thì tôi chịu sao nổi. Vợ tôi giục trình cẩm. Tôi không nghe theo. Không phải tôi ngờ vực sự mẫn cán, sự tài giỏi của sở cảnh sát, tôi chỉ thấy việc đó là một việc làm phiền cho tôi. Trình cẩm, rồi hôm sau xem báo sẽ thấy đăng tên mình với các đồ mất trộm đáng giá độ hai ba đồng bạc chẳng hạn. Còn gì khôi hài bằng! Vả - không phải tôi đạo đức rởm đâu nhé! - Vả tôi thấy cái cách dùng oai quyền với mấy anh trộm đói nó thế nào ấy. Tôi gàn, phải không? Nhưng tôi gàn thực thì còn biết làm thế nào?..."
Mọi người phá lên cười. Họ đều thấy câu chuyện hay hay, ngồ ngộ. Và họ đua nhau hỏi:
- Thế rồi sao? Anh làm thế nào?
- Tôi rình.
- Anh rình bắt trộm?
- "Phải, tôi giận lắm. Tôi cáu quá rồi. Nhất là tôi không bằng lòng cái cách làm việc của anh trộm một tí nào. Sao có người ngu ngốc đến thế? Định lấy trộm một khúc ống chì đáng giá vài hào bạc để làm phí đến dăm thước khối nước của người ta. Nước lại vừa tăng giá! Anh ta chẳng chịu suy trước nghĩ sau. Vì thế tôi nhất đinh cho anh ta một bài học.
Tôi rình. Tôi rình luôn hai hôm. Và chẳng lâu la gì, ngay đêm thứ hai, vào khoảng bốn giờ sáng, tôi tóm được..."
Bà chủ nhà vui mừng vội hỏi:
- Anh bắt được?
- "Lúc ấy tôi thoáng nghe có tiếng động ở cổng. Tôi chỗi dậy, rón rén đứng ở cửa sổ trên gác ghé nhìn xuống. Đích thị cu cậu rồi. Hai cậu. Một cậu quần áo trắng bốp và chững chạc lắm, đĩnh đạc đi bách bộ trên dìa hè; còn cậu quần áo nâu thì tò mò nhìn qua cổng vào vườn rồi mới đặt chân lên chấn song sắt, trèo.
Cái cổng nhà tôi cũng không cao, nhưng ở phía trên chằng chịt có cành cây leo hoa tím, khiến anh trộm phải khó khăn mới lách được cái đầu lọt vào phía trong cổng.
Vợ tôi cũng thức dậy và toan kêu. Tôi thì thầm:
- Hãy thong thả!
Tôi để anh trộm trèo hẳn vào phía trong vườn đã rồi mới ôn tồn, rất ôn tồn gọi.
- Anh trộm ơi!
Anh trộm sợ hãi ngẩng lên. Tôi suýt bật cười, vì tôi cứ chờ câu trả lời của anh ta: ‘Ông hỏi gì ạ?’ Nhưng anh ta lặng thinh, tôi nói luôn: ‘Anh trộm ơi, nhà tôi chả có gì đâu, anh ra thôi, để khi khác...’ Tôi cũng không hiểu lại sao tôi lại nói câu ấy, vì quả tôi không có ý muốn khôi hài với ông khách vào chơi một cách quá tự do. Nhưng anh trộm thì có lẽ anh ta hiểu. Hoặc giả anh ta muốn chiều ý tôi. Anh ta lại trèo ra, và cũng thong thả, nhẹ nhàng như lúc trèo vào, nhất là cũng khó khăn lách cái đầu trọc từ phía trong ra phía ngoài, rồi từ từ bước xuống đường.
Tôi cố trang nghiêm nhưng nhà tôi thì không sao giữ được lâu nữa, thét lên cười. Tôi quay lại bảo, như có ý trách:
- Sao mình lại cười anh ấy thế?
Trong khi đó hai anh trộm, một anh quần áo trắng, một anh quần áo nâu, thủng thỉnh bước một trên hè như đi chơi mát, không thèm lưu ý đến chúng tôi đương đứng nhìn theo".
Cử tọa cười lên một loạt. Một người nói:
- Tưởng anh tóm được cơ chứ!
Người kể chuyện mỉm cười đáp:
- Thế thì anh xoàng. Tôi tóm được anh trộm rồi đấy, tóm được linh hồn anh ta, như thế còn chắc chắn bằng mấy mươi tóm được thân thể anh ta.
- Anh lấy gì làm bằng cớ?
- Bằng cớ đã hiển nhiên: trong một năm nay, không có một đêm nào trộm trèo vào nhà tôi.
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
- Anh bắt được?
- "Lúc ấy tôi thoáng nghe có tiếng động ở cổng. Tôi chỗi dậy, rón rén đứng ở cửa sổ trên gác ghé nhìn xuống. Đích thị cu cậu rồi. Hai cậu. Một cậu quần áo trắng bốp và chững chạc lắm, đĩnh đạc đi bách bộ trên dìa hè; còn cậu quần áo nâu thì tò mò nhìn qua cổng vào vườn rồi mới đặt chân lên chấn song sắt, trèo.
Cái cổng nhà tôi cũng không cao, nhưng ở phía trên chằng chịt có cành cây leo hoa tím, khiến anh trộm phải khó khăn mới lách được cái đầu lọt vào phía trong cổng.
Vợ tôi cũng thức dậy và toan kêu. Tôi thì thầm:
- Hãy thong thả!
Tôi để anh trộm trèo hẳn vào phía trong vườn đã rồi mới ôn tồn, rất ôn tồn gọi.
- Anh trộm ơi!
Anh trộm sợ hãi ngẩng lên. Tôi suýt bật cười, vì tôi cứ chờ câu trả lời của anh ta: ‘Ông hỏi gì ạ?’ Nhưng anh ta lặng thinh, tôi nói luôn: ‘Anh trộm ơi, nhà tôi chả có gì đâu, anh ra thôi, để khi khác...’ Tôi cũng không hiểu lại sao tôi lại nói câu ấy, vì quả tôi không có ý muốn khôi hài với ông khách vào chơi một cách quá tự do. Nhưng anh trộm thì có lẽ anh ta hiểu. Hoặc giả anh ta muốn chiều ý tôi. Anh ta lại trèo ra, và cũng thong thả, nhẹ nhàng như lúc trèo vào, nhất là cũng khó khăn lách cái đầu trọc từ phía trong ra phía ngoài, rồi từ từ bước xuống đường.
Tôi cố trang nghiêm nhưng nhà tôi thì không sao giữ được lâu nữa, thét lên cười. Tôi quay lại bảo, như có ý trách:
- Sao mình lại cười anh ấy thế?
Trong khi đó hai anh trộm, một anh quần áo trắng, một anh quần áo nâu, thủng thỉnh bước một trên hè như đi chơi mát, không thèm lưu ý đến chúng tôi đương đứng nhìn theo".
Cử tọa cười lên một loạt. Một người nói:
- Tưởng anh tóm được cơ chứ!
Người kể chuyện mỉm cười đáp:
- Thế thì anh xoàng. Tôi tóm được anh trộm rồi đấy, tóm được linh hồn anh ta, như thế còn chắc chắn bằng mấy mươi tóm được thân thể anh ta.
- Anh lấy gì làm bằng cớ?
- Bằng cớ đã hiển nhiên: trong một năm nay, không có một đêm nào trộm trèo vào nhà tôi.
Khái Hưng
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: https://vietmessenger.com
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Đăng trên báo Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Nguồn: https://vietmessenger.com
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Lỡ quá ga
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
04:57 Biển
21:49 Đi ra thôi
Đi ra thôi
Truyện vui của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch" (Quang Điền diễn đọc - Youtube)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 206 - 06/04/1940, Tr. 10.
Mời xem bản đánh máy
Trong tập truyện "Đội Mũ Lệch" (tập truyện ngắn - Nxb Đời Nay 1938)
Đi ra thôi
Ăn cơm xong họ ra sân ngồi uống cà-phê. Trời tối, có thể nói như mực được. Một bà khách nhìn ra cổng hỏi bà chủ:
- Ở đây có sẵn cái số ấy không nhỉ?
Bà chủ hình như đang theo đuổi cùng một ý nghĩ, nên hiểu ngay và trả lời:
-Thưa chị, ở đây sẵn trộm lắm, đêm nào chúng nó cũng vào sân...
- Ồ! Tôi có cách đuổi trộm tài tình lắm.
Ai nấy lắng tai chờ nghe. Và một bà sốt ruột hỏi dồn:
- Cách gì? Cách gì thế anh? Anh làm thế nào?
Ông chủ chậm rãi nói:
- Tôi để sẵn cái đàn ở đầu giường, hễ nghe thấy động rạng, tôi lại vớ lấy gẩy vài tiếng như để bảo anh trộm: "Tôi vẫn thức đây mà!" Thế là anh ta hiểu và sẽ để mình được ngủ yên.
Khách cất tiếng cười, có người vì thấy cách đuổi trộm hơi ngộ nghĩnh, nhưng cũng có người vì khoa xã giao cười để câu chuyện của chủ nhân đỡ nhạt.
Một ông không cười, ngồi như suy nghĩ, rồi chờ ai nấy im lặng, ông ta nói:
- Kể cách đuổi trộm của anh cũng khá đấy. Nhưng chưa thấm vào đâu với cách của tôi.
"Dạo ấy, nhà tôi mất trộm luôn xoành xoạch. Mất cũng chả đáng là bao, lần thì vài cái quần áo cũ ngâm trong châu để mai giặt sớm; lần thì vài cái bát đĩa rếch mà người nhà tôi lười biếng quẵng bên vại nước, chưa kịp rửa. Có lần không lấy được gì, anh trộm nậy cả một mẩu ống máng, hay bẻ một đoạn ống chì bọc dây điện thoại. Lần cuối cùng anh ta chặt ống dẫn nước nhưng quên không khóa compteur thành thử nước vọt mạnh vào mặt, làm anh ta sợ hãi bỏ chạy. May lúc bấy giờ đã gần sáng nên số nước bị thiệt hại cho tôi cũng chẳng đáng là bao.
Tôi bực mình lắm. Vẫn biết anh trộm kia là một tay trộm đói, bạ cái gì cũng lấy, chẳng nề hà vật nhỏ mọn, nhưng anh ta coi nhà tôi như nơi không người, mặc sức hành động thì tôi chịu sao nổi. Vợ tôi giục trình cẩm. Tôi không nghe theo. Không phải tôi ngờ vực sự mẫn cán, sự tài giỏi của sở cảnh sát, tôi chỉ thấy việc đó là một việc làm phiền cho tôi. Trình cẩm, rồi hôm sau xem báo sẽ thấy đăng tên mình với các đồ mất trộm đáng giá độ hai ba đồng bạc chẳng hạn. Còn gì khôi hài bằng! Vả - không phải tôi đạo đức rởm đâu nhé! - Vả tôi thấy cái cách dùng oai quyền với mấy anh trộm đói nó thế nào ấy. Tôi gàn, phải không? Nhưng tôi gàn thực thì còn biết làm thế nào?..."
Mọi người phá lên cười. Họ đều thấy câu chuyện hay hay, ngồ ngộ. Và họ đua nhau hỏi:
- Thế rồi sao? Anh làm thế nào?
- Tôi rình.
- Anh rình bắt trộm?
- "Phải, tôi giận lắm. Tôi cáu quá rồi. Nhất là tôi không bằng lòng cái cách làm việc của anh trộm một tí nào. Sao có người ngu ngốc đến thế? Định lấy trộm một khúc ống chì đáng giá vài hào bạc để làm phí đến dăm thước khối nước của người ta. Nước lại vừa tăng giá! Anh ta chẳng chịu suy trước nghĩ sau. Vì thế tôi nhất đinh cho anh ta một bài học.
Tôi rình. Tôi rình luôn hai hôm. Và chẳng lâu la gì, ngay đêm thứ hai, vào khoảng bốn giờ sáng, tôi tóm được..."
- Ở đây có sẵn cái số ấy không nhỉ?
Bà chủ hình như đang theo đuổi cùng một ý nghĩ, nên hiểu ngay và trả lời:
-Thưa chị, ở đây sẵn trộm lắm, đêm nào chúng nó cũng vào sân...
- Ồ! Tôi có cách đuổi trộm tài tình lắm.
Ai nấy lắng tai chờ nghe. Và một bà sốt ruột hỏi dồn:
- Cách gì? Cách gì thế anh? Anh làm thế nào?
Ông chủ chậm rãi nói:
- Tôi để sẵn cái đàn ở đầu giường, hễ nghe thấy động rạng, tôi lại vớ lấy gẩy vài tiếng như để bảo anh trộm: "Tôi vẫn thức đây mà!" Thế là anh ta hiểu và sẽ để mình được ngủ yên.
Khách cất tiếng cười, có người vì thấy cách đuổi trộm hơi ngộ nghĩnh, nhưng cũng có người vì khoa xã giao cười để câu chuyện của chủ nhân đỡ nhạt.
Một ông không cười, ngồi như suy nghĩ, rồi chờ ai nấy im lặng, ông ta nói:
- Kể cách đuổi trộm của anh cũng khá đấy. Nhưng chưa thấm vào đâu với cách của tôi.
"Dạo ấy, nhà tôi mất trộm luôn xoành xoạch. Mất cũng chả đáng là bao, lần thì vài cái quần áo cũ ngâm trong châu để mai giặt sớm; lần thì vài cái bát đĩa rếch mà người nhà tôi lười biếng quẵng bên vại nước, chưa kịp rửa. Có lần không lấy được gì, anh trộm nậy cả một mẩu ống máng, hay bẻ một đoạn ống chì bọc dây điện thoại. Lần cuối cùng anh ta chặt ống dẫn nước nhưng quên không khóa compteur thành thử nước vọt mạnh vào mặt, làm anh ta sợ hãi bỏ chạy. May lúc bấy giờ đã gần sáng nên số nước bị thiệt hại cho tôi cũng chẳng đáng là bao.
Tôi bực mình lắm. Vẫn biết anh trộm kia là một tay trộm đói, bạ cái gì cũng lấy, chẳng nề hà vật nhỏ mọn, nhưng anh ta coi nhà tôi như nơi không người, mặc sức hành động thì tôi chịu sao nổi. Vợ tôi giục trình cẩm. Tôi không nghe theo. Không phải tôi ngờ vực sự mẫn cán, sự tài giỏi của sở cảnh sát, tôi chỉ thấy việc đó là một việc làm phiền cho tôi. Trình cẩm, rồi hôm sau xem báo sẽ thấy đăng tên mình với các đồ mất trộm đáng giá độ hai ba đồng bạc chẳng hạn. Còn gì khôi hài bằng! Vả - không phải tôi đạo đức rởm đâu nhé! - Vả tôi thấy cái cách dùng oai quyền với mấy anh trộm đói nó thế nào ấy. Tôi gàn, phải không? Nhưng tôi gàn thực thì còn biết làm thế nào?..."
Mọi người phá lên cười. Họ đều thấy câu chuyện hay hay, ngồ ngộ. Và họ đua nhau hỏi:
- Thế rồi sao? Anh làm thế nào?
- Tôi rình.
- Anh rình bắt trộm?
- "Phải, tôi giận lắm. Tôi cáu quá rồi. Nhất là tôi không bằng lòng cái cách làm việc của anh trộm một tí nào. Sao có người ngu ngốc đến thế? Định lấy trộm một khúc ống chì đáng giá vài hào bạc để làm phí đến dăm thước khối nước của người ta. Nước lại vừa tăng giá! Anh ta chẳng chịu suy trước nghĩ sau. Vì thế tôi nhất đinh cho anh ta một bài học.
Tôi rình. Tôi rình luôn hai hôm. Và chẳng lâu la gì, ngay đêm thứ hai, vào khoảng bốn giờ sáng, tôi tóm được..."
Bà chủ nhà vui mừng vội hỏi:
- Anh bắt được?
- "Lúc ấy tôi thoáng nghe có tiếng động ở cổng. Tôi chỗi dậy, rón rén đứng ở cửa sổ trên gác ghé nhìn xuống. Đích thị cu cậu rồi. Hai cậu. Một cậu quần áo trắng bốp và chững chạc lắm, đĩnh đạc đi bách bộ trên dìa hè; còn cậu quần áo nâu thì tò mò nhìn qua cổng vào vườn rồi mới đặt chân lên chấn song sắt, trèo.
Cái cổng nhà tôi cũng không cao, nhưng ở phía trên chằng chịt có cành cây leo hoa tím, khiến anh trộm phải khó khăn mới lách được cái đầu lọt vào phía trong cổng.
Vợ tôi cũng thức dậy và toan kêu. Tôi thì thầm:
- Hãy thong thả!
Tôi để anh trộm trèo hẳn vào phía trong vườn đã rồi mới ôn tồn, rất ôn tồn gọi.
- Anh trộm ơi!
Anh trộm sợ hãi ngẩng lên. Tôi suýt bật cười, vì tôi cứ chờ câu trả lời của anh ta: ‘Ông hỏi gì ạ?’ Nhưng anh ta lặng thinh, tôi nói luôn: ‘Anh trộm ơi, nhà tôi chả có gì đâu, anh ra thôi, để khi khác...’ Tôi cũng không hiểu lại sao tôi lại nói câu ấy, vì quả tôi không có ý muốn khôi hài với ông khách vào chơi một cách quá tự do. Nhưng anh trộm thì có lẽ anh ta hiểu. Hoặc giả anh ta muốn chiều ý tôi. Anh ta lại trèo ra, và cũng thong thả, nhẹ nhàng như lúc trèo vào, nhất là cũng khó khăn lách cái đầu trọc từ phía trong ra phía ngoài, rồi từ từ bước xuống đường.
Tôi cố trang nghiêm nhưng nhà tôi thì không sao giữ được lâu nữa, thét lên cười. Tôi quay lại bảo, như có ý trách:
- Sao mình lại cười anh ấy thế?
Trong khi đó hai anh trộm, một anh quần áo trắng, một anh quần áo nâu, thủng thỉnh bước một trên hè như đi chơi mát, không thèm lưu ý đến chúng tôi đương đứng nhìn theo".
Cử tọa cười lên một loạt. Một người nói:
- Tưởng anh tóm được cơ chứ!
Người kể chuyện mỉm cười đáp:
- Thế thì anh xoàng. Tôi tóm được anh trộm rồi đấy, tóm được linh hồn anh ta, như thế còn chắc chắn bằng mấy mươi tóm được thân thể anh ta.
- Anh lấy gì làm bằng cớ?
- Bằng cớ đã hiển nhiên: trong một năm nay, không có một đêm nào trộm trèo vào nhà tôi.
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
- Anh bắt được?
- "Lúc ấy tôi thoáng nghe có tiếng động ở cổng. Tôi chỗi dậy, rón rén đứng ở cửa sổ trên gác ghé nhìn xuống. Đích thị cu cậu rồi. Hai cậu. Một cậu quần áo trắng bốp và chững chạc lắm, đĩnh đạc đi bách bộ trên dìa hè; còn cậu quần áo nâu thì tò mò nhìn qua cổng vào vườn rồi mới đặt chân lên chấn song sắt, trèo.
Cái cổng nhà tôi cũng không cao, nhưng ở phía trên chằng chịt có cành cây leo hoa tím, khiến anh trộm phải khó khăn mới lách được cái đầu lọt vào phía trong cổng.
Vợ tôi cũng thức dậy và toan kêu. Tôi thì thầm:
- Hãy thong thả!
Tôi để anh trộm trèo hẳn vào phía trong vườn đã rồi mới ôn tồn, rất ôn tồn gọi.
- Anh trộm ơi!
Anh trộm sợ hãi ngẩng lên. Tôi suýt bật cười, vì tôi cứ chờ câu trả lời của anh ta: ‘Ông hỏi gì ạ?’ Nhưng anh ta lặng thinh, tôi nói luôn: ‘Anh trộm ơi, nhà tôi chả có gì đâu, anh ra thôi, để khi khác...’ Tôi cũng không hiểu lại sao tôi lại nói câu ấy, vì quả tôi không có ý muốn khôi hài với ông khách vào chơi một cách quá tự do. Nhưng anh trộm thì có lẽ anh ta hiểu. Hoặc giả anh ta muốn chiều ý tôi. Anh ta lại trèo ra, và cũng thong thả, nhẹ nhàng như lúc trèo vào, nhất là cũng khó khăn lách cái đầu trọc từ phía trong ra phía ngoài, rồi từ từ bước xuống đường.
Tôi cố trang nghiêm nhưng nhà tôi thì không sao giữ được lâu nữa, thét lên cười. Tôi quay lại bảo, như có ý trách:
- Sao mình lại cười anh ấy thế?
Trong khi đó hai anh trộm, một anh quần áo trắng, một anh quần áo nâu, thủng thỉnh bước một trên hè như đi chơi mát, không thèm lưu ý đến chúng tôi đương đứng nhìn theo".
Cử tọa cười lên một loạt. Một người nói:
- Tưởng anh tóm được cơ chứ!
Người kể chuyện mỉm cười đáp:
- Thế thì anh xoàng. Tôi tóm được anh trộm rồi đấy, tóm được linh hồn anh ta, như thế còn chắc chắn bằng mấy mươi tóm được thân thể anh ta.
- Anh lấy gì làm bằng cớ?
- Bằng cớ đã hiển nhiên: trong một năm nay, không có một đêm nào trộm trèo vào nhà tôi.
Khái Hưng
Trong tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
do Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1938.
Nguồn: https://vietmessenger.com
Mời nghe đọc: tập truyện ngắn "Đội Mũ Lệch"
THƯ VIỆN SÁCH NÓI DÀNH CHO NGƯỜI MÙ
(Quang Điền diễn đọc - Youtube).
Hai con mắt
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.
Mời xem bản đánh máy
Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.
Hai con mắt
Ông Cửu Niệm ốm li bì đã gần hai tháng. Ông ta mắc một bệnh mà các thầy lang đều cho là bệnh mê sảng của những người già lẫn - tuy ông Cửu năm nay chưa đầy sáu mươi. Bệnh như không tăng mà cũng không lui. Đêm nào cũng vậy, cứ vào khoảng một, hai giờ khuya, ông Cửu lại ú ớ kêu la cầu cứu, khiến con cháu ông đều thức dậy, chạy cả đến bên giường. Vừa thở hổn hển, ông vừa thuật lại giấc mơ dữ dội: hai con mắt hiện lên ám ảnh ông, chăm chú nhìn ông, hai con mắt to như mắt hộ pháp lòng trắng dã và tròn, lòng đen đen nháy và vuông. Ông rên hư hư "Ối giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" Rồi cho đến sáng ông Cửu không sao ngủ được.
Một hôm ông gọi đông đủ con cháu đến bảo:
- Tao chắc đây là một việc báo thù hay một việc đòi của.
Ông Cửu như ngần ngại, sợ hãi, xấu hổ, nằm im lìm suy nghĩ, giương mắt nhìn thẳng lên đỉnh màn. Trong khi ấy, các con cháu ông yên lặng, lo lắng, kính cẩn đứng đợi. Về sau không giữ nổi, ông thở dài kể tiếp:
- Chúng mày hẳn không biết vì sao ngày nay tao có cái cơ nghiệp này, cha mẹ tao có để cho tao một đồng một chữ nào đâu. Cả người trong làng cũng vậy, thấy tao đương nghèo đói, - đói thực ấy - bỗng trở nên giàu có, làm nhà làm cửa, tậu vườn tậu ruộng thì họ cũng đoán và đồn rằng tao được của, thế thôi, chứ sự thực thì tao chưa hé ra với ai một lời nào. Nhưng sự thực thì chính tao được của. Ngày xưa, tao nghèo lắm, thường đi gánh thuốc lào thuê cho người hoặc làm bất cứ công việc gì để kiếm một ngày hai bữa cơm và vài tiền quý, có khi giời làm đói kém, chỉ được một ngày hai bữa cơm thôi cũng đã là may lắm rồi.
"Một hôm tao đào móng nhà cho ông chánh Thà. Lúc ấy về chiều tối, ai nấy đã nghỉ tay, sắp sửa ăn cơm. Nhưng tao còn đào chơi vài nhát thuổng nữa. Có lẽ giời xui khiến ra thế, vì có ai bắt mình làm đâu! Mà nào mình có làm việc cho mình cho cam!
"Bỗng giữa những tiếng giục giã: "Ra ăn rỗi, anh Niệm!" tao thấy chối tay và nghe thấy một tiếng cạch: lưỡi thuổng của tao vừa xiên xuống một vật rắn chắc như thành một cái tiểu sành vậy. Tao cúi xuống bới nhìn thì đó là một cái vật nhỏ đậy nắp mà nắp lại trát gắn bùn rất cẩn thận. Tao đồ rằng trong đó có vật quí nên lấp lại điềm nhiên đi ăn cơm với mọi người.
Đêm hôm ấy tao xin ngủ lại chỗ xưởng làm như thể là một sự rất thường mình vẫn ở làm thuê cho ông chánh, có khi trong luôn dăm ba bữa nửa tháng không về qua nhà. Tao chờ đêm khuya vắng đến chỗ móng đào bới đất moi lên được một cái vại chỉ bằng cái vại nén cà nhỏ ấy thôi. Nhưng mà tao bê thấy nặng quá. Nền nhà mới dựng vào một khu vườn rong: ông chánh Thà giàu lắm, đất ở thênh thang có tới vài mẫu. Tao đem cái vại của tao tới bụi chuối rậm, rồi mở nắp lấy hết những vật ở trong, gói vào rẻ rách giấu đi. Tao cũng không biết đó là những vật gì. Mãi hôm sau đem về mới biết là vàng, toàn những vàng thoi..."
Ông Cửu ngừng kể. Các con cháu vẫn im lặng đứng chờ, vì chưa thấy có liên lạc giữa hai con mắt vuông, với cái vại vàng chôn. Sau một lúc lâu, ông Cửu lại nói:
"Vậy tao chắc nay... nó đòi của. Nó theo tao, nó đòi của. Hai con mắt nó hiện ra, kia nó hiện ra kia - hai con mắt nó về để báo cho tao biết... để báo cho tao biết rằng tao đã đến ngày tận số"
Ông Cửu nghẹn ngào như bị hai bàn tay vô hình bóp cổ. Người con cả ông an ủi.
- Thưa thầy, thầy được của là giời cho thầy. Của ấy là của giời. Nếu là của ông cha ông chánh Thà để lại thì sao ông chánh lại không biết gì, thì sao xưa kia ông ta lại không đả động tới mà các cụ tiền nhân cũng không báo mộng báo mù gì cho ông ta hay nhất là tại sao của ấy lại không lọt vào tay ông ta. Lại điều này nữa khiến con tin chắc chắn rằng giời dành của ấy cho thầy: là tại sao thầy lại tìm thấy cái vại để vàng giữa lúc nghỉ việc? Nếu thầy đào được sớm hơn, vào buổi sáng hay buổi trưa chẳng hạn, thì có phải đã ầm ĩ lên và ông chánh đã nhận mất vàng rồi, còn đâu. Không, con dám quả quyết rằng của ấy là của giời chứ không phải là của tổ tiên ông chánh. Của giời dành cho thầy. Vì thuở xưa hay kiếp trước thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm.
Ông Cửu mỉm cười nhắc lại: "Thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm?". Ông nghĩ đến những việc ông đã làm: nào cho vay nặng lãi, nào trữ thóc gạo lại không bán làm cho giá cao lên trong khi bao nhiêu người chết đói, và ông lẩm bẩm: " Hay đó là hai con mắt của bọn ấy đến đòi mạng đến bắt mình phải đem mạng mình ra mà thế mạng". Nhưng ông nghĩ tiếp ngay - vì trong khi ốm tinh thần ông sáng suốt khác thường: "Nếu là mất của chúng thì sao hai con mắt ấy lại lạ lùng thế. Sao lòng đen lại vuông, lại to thế? Không, chắc đây là mắt thần".
Tự nhiên trong tưởng tượng của ông, một vị thần hiện ra trần truồng ngồi trên bệ gạch, một vị nữ thần miệng gắn nhựa trám và hai con mắt to thao láo lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Rồi pho tượng biến dần biến dần, chỉ còn lại hai con mắt đăm đăm nhìn ông. Ông lại la: "Giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" và lắc đầu xua tay đuổi cả con cháu ra ngoài phòng.
Mấy người con bàn nhau về căn bệnh cha. Họ đoán có tiền căn nghiệp chướng chi đây. Họ liền mời các vị cao tăng đến lập đàn ba ngày ba đêm ở sân để tụng kinh, giải ách cho cha. Đêm thứ ba, cúng chúng sinh: một nhà sư tốt giọng hát bài ca chiêu hồn để gọi linh hồn chúng sinh về nghe kinh phật, trong bọn có đủ các hạng khốn nạn, cùng khổ trong loài người.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/hai-con-mat/60
Hai con mắt
Ông Cửu Niệm ốm li bì đã gần hai tháng. Ông ta mắc một bệnh mà các thầy lang đều cho là bệnh mê sảng của những người già lẫn - tuy ông Cửu năm nay chưa đầy sáu mươi. Bệnh như không tăng mà cũng không lui. Đêm nào cũng vậy, cứ vào khoảng một, hai giờ khuya, ông Cửu lại ú ớ kêu la cầu cứu, khiến con cháu ông đều thức dậy, chạy cả đến bên giường. Vừa thở hổn hển, ông vừa thuật lại giấc mơ dữ dội: hai con mắt hiện lên ám ảnh ông, chăm chú nhìn ông, hai con mắt to như mắt hộ pháp lòng trắng dã và tròn, lòng đen đen nháy và vuông. Ông rên hư hư "Ối giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" Rồi cho đến sáng ông Cửu không sao ngủ được.
Một hôm ông gọi đông đủ con cháu đến bảo:
- Tao chắc đây là một việc báo thù hay một việc đòi của.
Ông Cửu như ngần ngại, sợ hãi, xấu hổ, nằm im lìm suy nghĩ, giương mắt nhìn thẳng lên đỉnh màn. Trong khi ấy, các con cháu ông yên lặng, lo lắng, kính cẩn đứng đợi. Về sau không giữ nổi, ông thở dài kể tiếp:
- Chúng mày hẳn không biết vì sao ngày nay tao có cái cơ nghiệp này, cha mẹ tao có để cho tao một đồng một chữ nào đâu. Cả người trong làng cũng vậy, thấy tao đương nghèo đói, - đói thực ấy - bỗng trở nên giàu có, làm nhà làm cửa, tậu vườn tậu ruộng thì họ cũng đoán và đồn rằng tao được của, thế thôi, chứ sự thực thì tao chưa hé ra với ai một lời nào. Nhưng sự thực thì chính tao được của. Ngày xưa, tao nghèo lắm, thường đi gánh thuốc lào thuê cho người hoặc làm bất cứ công việc gì để kiếm một ngày hai bữa cơm và vài tiền quý, có khi giời làm đói kém, chỉ được một ngày hai bữa cơm thôi cũng đã là may lắm rồi.
"Một hôm tao đào móng nhà cho ông chánh Thà. Lúc ấy về chiều tối, ai nấy đã nghỉ tay, sắp sửa ăn cơm. Nhưng tao còn đào chơi vài nhát thuổng nữa. Có lẽ giời xui khiến ra thế, vì có ai bắt mình làm đâu! Mà nào mình có làm việc cho mình cho cam!
"Bỗng giữa những tiếng giục giã: "Ra ăn rỗi, anh Niệm!" tao thấy chối tay và nghe thấy một tiếng cạch: lưỡi thuổng của tao vừa xiên xuống một vật rắn chắc như thành một cái tiểu sành vậy. Tao cúi xuống bới nhìn thì đó là một cái vật nhỏ đậy nắp mà nắp lại trát gắn bùn rất cẩn thận. Tao đồ rằng trong đó có vật quí nên lấp lại điềm nhiên đi ăn cơm với mọi người.
Đêm hôm ấy tao xin ngủ lại chỗ xưởng làm như thể là một sự rất thường mình vẫn ở làm thuê cho ông chánh, có khi trong luôn dăm ba bữa nửa tháng không về qua nhà. Tao chờ đêm khuya vắng đến chỗ móng đào bới đất moi lên được một cái vại chỉ bằng cái vại nén cà nhỏ ấy thôi. Nhưng mà tao bê thấy nặng quá. Nền nhà mới dựng vào một khu vườn rong: ông chánh Thà giàu lắm, đất ở thênh thang có tới vài mẫu. Tao đem cái vại của tao tới bụi chuối rậm, rồi mở nắp lấy hết những vật ở trong, gói vào rẻ rách giấu đi. Tao cũng không biết đó là những vật gì. Mãi hôm sau đem về mới biết là vàng, toàn những vàng thoi..."
Ông Cửu ngừng kể. Các con cháu vẫn im lặng đứng chờ, vì chưa thấy có liên lạc giữa hai con mắt vuông, với cái vại vàng chôn. Sau một lúc lâu, ông Cửu lại nói:
"Vậy tao chắc nay... nó đòi của. Nó theo tao, nó đòi của. Hai con mắt nó hiện ra, kia nó hiện ra kia - hai con mắt nó về để báo cho tao biết... để báo cho tao biết rằng tao đã đến ngày tận số"
Ông Cửu nghẹn ngào như bị hai bàn tay vô hình bóp cổ. Người con cả ông an ủi.
- Thưa thầy, thầy được của là giời cho thầy. Của ấy là của giời. Nếu là của ông cha ông chánh Thà để lại thì sao ông chánh lại không biết gì, thì sao xưa kia ông ta lại không đả động tới mà các cụ tiền nhân cũng không báo mộng báo mù gì cho ông ta hay nhất là tại sao của ấy lại không lọt vào tay ông ta. Lại điều này nữa khiến con tin chắc chắn rằng giời dành của ấy cho thầy: là tại sao thầy lại tìm thấy cái vại để vàng giữa lúc nghỉ việc? Nếu thầy đào được sớm hơn, vào buổi sáng hay buổi trưa chẳng hạn, thì có phải đã ầm ĩ lên và ông chánh đã nhận mất vàng rồi, còn đâu. Không, con dám quả quyết rằng của ấy là của giời chứ không phải là của tổ tiên ông chánh. Của giời dành cho thầy. Vì thuở xưa hay kiếp trước thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm.
Ông Cửu mỉm cười nhắc lại: "Thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm?". Ông nghĩ đến những việc ông đã làm: nào cho vay nặng lãi, nào trữ thóc gạo lại không bán làm cho giá cao lên trong khi bao nhiêu người chết đói, và ông lẩm bẩm: " Hay đó là hai con mắt của bọn ấy đến đòi mạng đến bắt mình phải đem mạng mình ra mà thế mạng". Nhưng ông nghĩ tiếp ngay - vì trong khi ốm tinh thần ông sáng suốt khác thường: "Nếu là mất của chúng thì sao hai con mắt ấy lại lạ lùng thế. Sao lòng đen lại vuông, lại to thế? Không, chắc đây là mắt thần".
Tự nhiên trong tưởng tượng của ông, một vị thần hiện ra trần truồng ngồi trên bệ gạch, một vị nữ thần miệng gắn nhựa trám và hai con mắt to thao láo lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Rồi pho tượng biến dần biến dần, chỉ còn lại hai con mắt đăm đăm nhìn ông. Ông lại la: "Giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" và lắc đầu xua tay đuổi cả con cháu ra ngoài phòng.
Mấy người con bàn nhau về căn bệnh cha. Họ đoán có tiền căn nghiệp chướng chi đây. Họ liền mời các vị cao tăng đến lập đàn ba ngày ba đêm ở sân để tụng kinh, giải ách cho cha. Đêm thứ ba, cúng chúng sinh: một nhà sư tốt giọng hát bài ca chiêu hồn để gọi linh hồn chúng sinh về nghe kinh phật, trong bọn có đủ các hạng khốn nạn, cùng khổ trong loài người.
Nào những kẻ sa cơ, lỡ bước...
Bỗng ông Cửu kêu rú lên một tiếng rồi ngất đi.
Và ông mơ thấy ông đi trên con đường nắng, chân mỏi, bụng đói. Hai bên đường lúa mọc xanh rờn, người làm việc đông đảo. Họ hát những câu ca dao mà ông cũng thuộc và những khi đi gặt hái ông thường hát.
Tới một cái miếu con ẩn trong bóng cây đa um tùm, ông dừng chân ngồi nghỉ. Một tia hy vọng vụt chiếu rọi vào mắt ông: ông vừa trông thấy kê trước cửa miếu một cái nia đầy những xu và trinh... Ông đưa mắt nhìn quanh: không một ai. Mấy nén hương cắm trên một thẻ vàng tỏa mùi thơm lạnh lẽo và càng làm tăng phần tĩnh mịch nơi miếu vắng. Ông tự nhủ thầm: "Mình chỉ việc đưa tay ra bốc một nắm bỏ túi là sẽ có cơm ăn, là sẽ không chết đói". Và ông đưa tay ra thực. Nhưng ông lại rụt tay lại, tưởng như có ai ghé mắt đâu đó đứng nhìn. Ông nghĩ đến câu chuyện Mường, chuyện Thổ, những chuyện ma xó giữ nhà: mình vào nhà lấy trộm vật gì trong khi chủ đi vắng; con ma sẽ đọc tên vật ấy lên rồi nó theo dõi mình mà bóp cổ cho mình chết. Tự nhiên, ông rùng rợn, dựng tóc gáy, vội vã bỏ đi.
Đi được một quãng, ông lại quay về cái nia tiền. Ông định bụng cứ lấy một ít đi ăn cơm rồi chết thì chết cũng cam lòng. Chết còn hơn đói. Giữa lúc ấy một người đi đến. Ông sợ hãi nấp vào sau gốc đa. Người kia thản nhiên qua miếu, và ông nghe thấy hắn ném vào nia một đồng trinh. Chờ cho hắn đi khỏi, ông lại nhô ra, đến bên cái nia, đăm đăm nhìn. Nhưng vẫn không sao dám nhặt vài đồng trong nia tiền... của thánh. "Của thánh... lấy, tội chết, thánh quật chết!" Ông Cửu Niệm thì thầm. Rồi quả quyết đi thẳng.
Một quãng xa, ông gặp trên con đường rẽ vào một cái chợ đương họp, một chị ăn mày ngồi phục bên một cái rổ, một cái gậy, và ngước mắt trắng đục nhìn trời, miệng kêu than như ca hát: "Con người thì có, con mắt thì không...". Trong rổ có hai đồng trinh. Mắt ông Cửu như dán vào đó. Ông đứng im một hồi lâu, tai như lắng nghe câu van lơn của người ăn mày. Nhưng sự thực ông đương nghĩ thầm: "Nó mù! Nó mù! Nó không trông thấy mình.. Quanh đây không một ai.." Và ông cúi xuống, lẳng lặng cúi xuống, rón rén nhặt hai đồng trinh thu vào trong bọc.
Rồi ông hấp tấp chạy, như sợ người mù đuổi theo. Ông vào chợ mua bát cơm đầy, ăn ngốn ngấu. Ăn xong, ông quay về con đường cũ. Qua đầu đường, ông vẫn thấy người ăn xin ngồi nguyên chỗ, và trong rổ của nó hai đồng trinh vẫn còn. Ông mừng thầm tự nhủ: "Thì ra mình mơ thấy mình lấy hai đồng trinh của nó. Kỳ thực mình có lấy đâu?"
Tới miếu cũ, ông ngắm lại cái nia. Lạ lùng chưa! Bao nhiêu trinh trong nia đã sắp thành từng đôi một. Và chỉ trong một giây biến thành những cặp mắt. Những cặp mắt ấy to mãi ra, to mãi ra và trừng trừng nhìn thẳng vào mắt ông, những cặp mắt lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Cùng một lúc, tiếng ăn mày cất lên tứ phía, giọng nghe thê thảm: "Lạy ông lạy bà, ông bà thương con, con người thì có, con mắt thì không". Rồi bao nhiêu cặp mắt vuông bay tới tấp vây chặt lấy ông Cửu...
Ông kêu thét lên: "Giời ơi! Hai con mắt vuông!" Rồi ông tỉnh mộng.
Ngoài sân, tiếng nhà sư đọc bài chiêu hồn chúng sinh giọng trầm bổng như kẻ ăn mày kêu đường. Ông Cửu thở hổn hển, rồi lại ngất đi.
Sáng hôm sau, ông gọi các con đến dối dăng:
- Cha nhiều tội lắm. Cha ở ác với rất nhiều người, nhưng với hai con mắt... với hai con mắt vuông ấy thì cha chết mất. Đó là hai con mắt thịt, hai con mắt trần, chứ không phải mắt thần, mắt thánh nào cả như cha vẫn tưởng nhầm. Ngày ấy... đã lâu lắm... Nhưng mà thôi, đã có các con chuộc tội cho cha. Ngay hôm nay các con rao mõ rằng luôn năm hôm cha phát chẩn cho những người đói khó trong khắp vùng này. Mỗi người các con cho một bát gạo với hai đồng trinh. Hai đồng trinh, các con nhớ chưa? Đó là cha trả nợ, còn bát gạo là cha trả lãi.
Chiều hôm ấy, ông Cửu nghe tiếng mõ rao, và biết rằng các con ông sẽ làm theo lời ông dối lại. Ông sung sướng mỉm cười trong giấc ngủ cuối cùng. Ông chắc chắn sẽ thoát khỏi sức áp bách, sức thôi miên của hai con mắt vuông.
Bỗng ông Cửu kêu rú lên một tiếng rồi ngất đi.
Và ông mơ thấy ông đi trên con đường nắng, chân mỏi, bụng đói. Hai bên đường lúa mọc xanh rờn, người làm việc đông đảo. Họ hát những câu ca dao mà ông cũng thuộc và những khi đi gặt hái ông thường hát.
Tới một cái miếu con ẩn trong bóng cây đa um tùm, ông dừng chân ngồi nghỉ. Một tia hy vọng vụt chiếu rọi vào mắt ông: ông vừa trông thấy kê trước cửa miếu một cái nia đầy những xu và trinh... Ông đưa mắt nhìn quanh: không một ai. Mấy nén hương cắm trên một thẻ vàng tỏa mùi thơm lạnh lẽo và càng làm tăng phần tĩnh mịch nơi miếu vắng. Ông tự nhủ thầm: "Mình chỉ việc đưa tay ra bốc một nắm bỏ túi là sẽ có cơm ăn, là sẽ không chết đói". Và ông đưa tay ra thực. Nhưng ông lại rụt tay lại, tưởng như có ai ghé mắt đâu đó đứng nhìn. Ông nghĩ đến câu chuyện Mường, chuyện Thổ, những chuyện ma xó giữ nhà: mình vào nhà lấy trộm vật gì trong khi chủ đi vắng; con ma sẽ đọc tên vật ấy lên rồi nó theo dõi mình mà bóp cổ cho mình chết. Tự nhiên, ông rùng rợn, dựng tóc gáy, vội vã bỏ đi.
Đi được một quãng, ông lại quay về cái nia tiền. Ông định bụng cứ lấy một ít đi ăn cơm rồi chết thì chết cũng cam lòng. Chết còn hơn đói. Giữa lúc ấy một người đi đến. Ông sợ hãi nấp vào sau gốc đa. Người kia thản nhiên qua miếu, và ông nghe thấy hắn ném vào nia một đồng trinh. Chờ cho hắn đi khỏi, ông lại nhô ra, đến bên cái nia, đăm đăm nhìn. Nhưng vẫn không sao dám nhặt vài đồng trong nia tiền... của thánh. "Của thánh... lấy, tội chết, thánh quật chết!" Ông Cửu Niệm thì thầm. Rồi quả quyết đi thẳng.
Một quãng xa, ông gặp trên con đường rẽ vào một cái chợ đương họp, một chị ăn mày ngồi phục bên một cái rổ, một cái gậy, và ngước mắt trắng đục nhìn trời, miệng kêu than như ca hát: "Con người thì có, con mắt thì không...". Trong rổ có hai đồng trinh. Mắt ông Cửu như dán vào đó. Ông đứng im một hồi lâu, tai như lắng nghe câu van lơn của người ăn mày. Nhưng sự thực ông đương nghĩ thầm: "Nó mù! Nó mù! Nó không trông thấy mình.. Quanh đây không một ai.." Và ông cúi xuống, lẳng lặng cúi xuống, rón rén nhặt hai đồng trinh thu vào trong bọc.
Rồi ông hấp tấp chạy, như sợ người mù đuổi theo. Ông vào chợ mua bát cơm đầy, ăn ngốn ngấu. Ăn xong, ông quay về con đường cũ. Qua đầu đường, ông vẫn thấy người ăn xin ngồi nguyên chỗ, và trong rổ của nó hai đồng trinh vẫn còn. Ông mừng thầm tự nhủ: "Thì ra mình mơ thấy mình lấy hai đồng trinh của nó. Kỳ thực mình có lấy đâu?"
Tới miếu cũ, ông ngắm lại cái nia. Lạ lùng chưa! Bao nhiêu trinh trong nia đã sắp thành từng đôi một. Và chỉ trong một giây biến thành những cặp mắt. Những cặp mắt ấy to mãi ra, to mãi ra và trừng trừng nhìn thẳng vào mắt ông, những cặp mắt lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Cùng một lúc, tiếng ăn mày cất lên tứ phía, giọng nghe thê thảm: "Lạy ông lạy bà, ông bà thương con, con người thì có, con mắt thì không". Rồi bao nhiêu cặp mắt vuông bay tới tấp vây chặt lấy ông Cửu...
Ông kêu thét lên: "Giời ơi! Hai con mắt vuông!" Rồi ông tỉnh mộng.
Ngoài sân, tiếng nhà sư đọc bài chiêu hồn chúng sinh giọng trầm bổng như kẻ ăn mày kêu đường. Ông Cửu thở hổn hển, rồi lại ngất đi.
Sáng hôm sau, ông gọi các con đến dối dăng:
- Cha nhiều tội lắm. Cha ở ác với rất nhiều người, nhưng với hai con mắt... với hai con mắt vuông ấy thì cha chết mất. Đó là hai con mắt thịt, hai con mắt trần, chứ không phải mắt thần, mắt thánh nào cả như cha vẫn tưởng nhầm. Ngày ấy... đã lâu lắm... Nhưng mà thôi, đã có các con chuộc tội cho cha. Ngay hôm nay các con rao mõ rằng luôn năm hôm cha phát chẩn cho những người đói khó trong khắp vùng này. Mỗi người các con cho một bát gạo với hai đồng trinh. Hai đồng trinh, các con nhớ chưa? Đó là cha trả nợ, còn bát gạo là cha trả lãi.
Chiều hôm ấy, ông Cửu nghe tiếng mõ rao, và biết rằng các con ông sẽ làm theo lời ông dối lại. Ông sung sướng mỉm cười trong giấc ngủ cuối cùng. Ông chắc chắn sẽ thoát khỏi sức áp bách, sức thôi miên của hai con mắt vuông.
Xuân 1940
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, 1944.
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, 1944.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/hai-con-mat/60
Hai con mắt, truyện ngắn của nhà văn Khái Hưng, do Chuly và Cao Xuân Huy diễn đọc.
Hai con mắt
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.
Mời xem bản đánh máy
Ngày Nay số 205 - 30/03/1940, Tr. 08-09.
Hai con mắt
Ông Cửu Niệm ốm li bì đã gần hai tháng. Ông ta mắc một bệnh mà các thầy lang đều cho là bệnh mê sảng của những người già lẫn - tuy ông Cửu năm nay chưa đầy sáu mươi. Bệnh như không tăng mà cũng không lui. Đêm nào cũng vậy, cứ vào khoảng một, hai giờ khuya, ông Cửu lại ú ớ kêu la cầu cứu, khiến con cháu ông đều thức dậy, chạy cả đến bên giường. Vừa thở hổn hển, ông vừa thuật lại giấc mơ dữ dội: hai con mắt hiện lên ám ảnh ông, chăm chú nhìn ông, hai con mắt to như mắt hộ pháp lòng trắng dã và tròn, lòng đen đen nháy và vuông. Ông rên hư hư "Ối giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" Rồi cho đến sáng ông Cửu không sao ngủ được.
Một hôm ông gọi đông đủ con cháu đến bảo:
- Tao chắc đây là một việc báo thù hay một việc đòi của.
Ông Cửu như ngần ngại, sợ hãi, xấu hổ, nằm im lìm suy nghĩ, giương mắt nhìn thẳng lên đỉnh màn. Trong khi ấy, các con cháu ông yên lặng, lo lắng, kính cẩn đứng đợi. Về sau không giữ nổi, ông thở dài kể tiếp:
- Chúng mày hẳn không biết vì sao ngày nay tao có cái cơ nghiệp này, cha mẹ tao có để cho tao một đồng một chữ nào đâu. Cả người trong làng cũng vậy, thấy tao đương nghèo đói, - đói thực ấy - bỗng trở nên giàu có, làm nhà làm cửa, tậu vườn tậu ruộng thì họ cũng đoán và đồn rằng tao được của, thế thôi, chứ sự thực thì tao chưa hé ra với ai một lời nào. Nhưng sự thực thì chính tao được của. Ngày xưa, tao nghèo lắm, thường đi gánh thuốc lào thuê cho người hoặc làm bất cứ công việc gì để kiếm một ngày hai bữa cơm và vài tiền quý, có khi giời làm đói kém, chỉ được một ngày hai bữa cơm thôi cũng đã là may lắm rồi.
"Một hôm tao đào móng nhà cho ông chánh Thà. Lúc ấy về chiều tối, ai nấy đã nghỉ tay, sắp sửa ăn cơm. Nhưng tao còn đào chơi vài nhát thuổng nữa. Có lẽ giời xui khiến ra thế, vì có ai bắt mình làm đâu! Mà nào mình có làm việc cho mình cho cam!
"Bỗng giữa những tiếng giục giã: "Ra ăn rỗi, anh Niệm!" tao thấy chối tay và nghe thấy một tiếng cạch: lưỡi thuổng của tao vừa xiên xuống một vật rắn chắc như thành một cái tiểu sành vậy. Tao cúi xuống bới nhìn thì đó là một cái vật nhỏ đậy nắp mà nắp lại trát gắn bùn rất cẩn thận. Tao đồ rằng trong đó có vật quí nên lấp lại điềm nhiên đi ăn cơm với mọi người.
Đêm hôm ấy tao xin ngủ lại chỗ xưởng làm như thể là một sự rất thường mình vẫn ở làm thuê cho ông chánh, có khi trong luôn dăm ba bữa nửa tháng không về qua nhà. Tao chờ đêm khuya vắng đến chỗ móng đào bới đất moi lên được một cái vại chỉ bằng cái vại nén cà nhỏ ấy thôi. Nhưng mà tao bê thấy nặng quá. Nền nhà mới dựng vào một khu vườn rong: ông chánh Thà giàu lắm, đất ở thênh thang có tới vài mẫu. Tao đem cái vại của tao tới bụi chuối rậm, rồi mở nắp lấy hết những vật ở trong, gói vào rẻ rách giấu đi. Tao cũng không biết đó là những vật gì. Mãi hôm sau đem về mới biết là vàng, toàn những vàng thoi..."
Ông Cửu ngừng kể. Các con cháu vẫn im lặng đứng chờ, vì chưa thấy có liên lạc giữa hai con mắt vuông, với cái vại vàng chôn. Sau một lúc lâu, ông Cửu lại nói:
"Vậy tao chắc nay... nó đòi của. Nó theo tao, nó đòi của. Hai con mắt nó hiện ra, kia nó hiện ra kia - hai con mắt nó về để báo cho tao biết... để báo cho tao biết rằng tao đã đến ngày tận số"
Ông Cửu nghẹn ngào như bị hai bàn tay vô hình bóp cổ. Người con cả ông an ủi.
- Thưa thầy, thầy được của là giời cho thầy. Của ấy là của giời. Nếu là của ông cha ông chánh Thà để lại thì sao ông chánh lại không biết gì, thì sao xưa kia ông ta lại không đả động tới mà các cụ tiền nhân cũng không báo mộng báo mù gì cho ông ta hay nhất là tại sao của ấy lại không lọt vào tay ông ta. Lại điều này nữa khiến con tin chắc chắn rằng giời dành của ấy cho thầy: là tại sao thầy lại tìm thấy cái vại để vàng giữa lúc nghỉ việc? Nếu thầy đào được sớm hơn, vào buổi sáng hay buổi trưa chẳng hạn, thì có phải đã ầm ĩ lên và ông chánh đã nhận mất vàng rồi, còn đâu. Không, con dám quả quyết rằng của ấy là của giời chứ không phải là của tổ tiên ông chánh. Của giời dành cho thầy. Vì thuở xưa hay kiếp trước thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm.
Ông Cửu mỉm cười nhắc lại: "Thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm?". Ông nghĩ đến những việc ông đã làm: nào cho vay nặng lãi, nào trữ thóc gạo lại không bán làm cho giá cao lên trong khi bao nhiêu người chết đói, và ông lẩm bẩm: " Hay đó là hai con mắt của bọn ấy đến đòi mạng đến bắt mình phải đem mạng mình ra mà thế mạng". Nhưng ông nghĩ tiếp ngay - vì trong khi ốm tinh thần ông sáng suốt khác thường: "Nếu là mất của chúng thì sao hai con mắt ấy lại lạ lùng thế. Sao lòng đen lại vuông, lại to thế? Không, chắc đây là mắt thần".
Tự nhiên trong tưởng tượng của ông, một vị thần hiện ra trần truồng ngồi trên bệ gạch, một vị nữ thần miệng gắn nhựa trám và hai con mắt to thao láo lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Rồi pho tượng biến dần biến dần, chỉ còn lại hai con mắt đăm đăm nhìn ông. Ông lại la: "Giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" và lắc đầu xua tay đuổi cả con cháu ra ngoài phòng.
Mấy người con bàn nhau về căn bệnh cha. Họ đoán có tiền căn nghiệp chướng chi đây. Họ liền mời các vị cao tăng đến lập đàn ba ngày ba đêm ở sân để tụng kinh, giải ách cho cha. Đêm thứ ba, cúng chúng sinh: một nhà sư tốt giọng hát bài ca chiêu hồn để gọi linh hồn chúng sinh về nghe kinh phật, trong bọn có đủ các hạng khốn nạn, cùng khổ trong loài người.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/hai-con-mat/60
Hai con mắt
Ông Cửu Niệm ốm li bì đã gần hai tháng. Ông ta mắc một bệnh mà các thầy lang đều cho là bệnh mê sảng của những người già lẫn - tuy ông Cửu năm nay chưa đầy sáu mươi. Bệnh như không tăng mà cũng không lui. Đêm nào cũng vậy, cứ vào khoảng một, hai giờ khuya, ông Cửu lại ú ớ kêu la cầu cứu, khiến con cháu ông đều thức dậy, chạy cả đến bên giường. Vừa thở hổn hển, ông vừa thuật lại giấc mơ dữ dội: hai con mắt hiện lên ám ảnh ông, chăm chú nhìn ông, hai con mắt to như mắt hộ pháp lòng trắng dã và tròn, lòng đen đen nháy và vuông. Ông rên hư hư "Ối giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" Rồi cho đến sáng ông Cửu không sao ngủ được.
Một hôm ông gọi đông đủ con cháu đến bảo:
- Tao chắc đây là một việc báo thù hay một việc đòi của.
Ông Cửu như ngần ngại, sợ hãi, xấu hổ, nằm im lìm suy nghĩ, giương mắt nhìn thẳng lên đỉnh màn. Trong khi ấy, các con cháu ông yên lặng, lo lắng, kính cẩn đứng đợi. Về sau không giữ nổi, ông thở dài kể tiếp:
- Chúng mày hẳn không biết vì sao ngày nay tao có cái cơ nghiệp này, cha mẹ tao có để cho tao một đồng một chữ nào đâu. Cả người trong làng cũng vậy, thấy tao đương nghèo đói, - đói thực ấy - bỗng trở nên giàu có, làm nhà làm cửa, tậu vườn tậu ruộng thì họ cũng đoán và đồn rằng tao được của, thế thôi, chứ sự thực thì tao chưa hé ra với ai một lời nào. Nhưng sự thực thì chính tao được của. Ngày xưa, tao nghèo lắm, thường đi gánh thuốc lào thuê cho người hoặc làm bất cứ công việc gì để kiếm một ngày hai bữa cơm và vài tiền quý, có khi giời làm đói kém, chỉ được một ngày hai bữa cơm thôi cũng đã là may lắm rồi.
"Một hôm tao đào móng nhà cho ông chánh Thà. Lúc ấy về chiều tối, ai nấy đã nghỉ tay, sắp sửa ăn cơm. Nhưng tao còn đào chơi vài nhát thuổng nữa. Có lẽ giời xui khiến ra thế, vì có ai bắt mình làm đâu! Mà nào mình có làm việc cho mình cho cam!
"Bỗng giữa những tiếng giục giã: "Ra ăn rỗi, anh Niệm!" tao thấy chối tay và nghe thấy một tiếng cạch: lưỡi thuổng của tao vừa xiên xuống một vật rắn chắc như thành một cái tiểu sành vậy. Tao cúi xuống bới nhìn thì đó là một cái vật nhỏ đậy nắp mà nắp lại trát gắn bùn rất cẩn thận. Tao đồ rằng trong đó có vật quí nên lấp lại điềm nhiên đi ăn cơm với mọi người.
Đêm hôm ấy tao xin ngủ lại chỗ xưởng làm như thể là một sự rất thường mình vẫn ở làm thuê cho ông chánh, có khi trong luôn dăm ba bữa nửa tháng không về qua nhà. Tao chờ đêm khuya vắng đến chỗ móng đào bới đất moi lên được một cái vại chỉ bằng cái vại nén cà nhỏ ấy thôi. Nhưng mà tao bê thấy nặng quá. Nền nhà mới dựng vào một khu vườn rong: ông chánh Thà giàu lắm, đất ở thênh thang có tới vài mẫu. Tao đem cái vại của tao tới bụi chuối rậm, rồi mở nắp lấy hết những vật ở trong, gói vào rẻ rách giấu đi. Tao cũng không biết đó là những vật gì. Mãi hôm sau đem về mới biết là vàng, toàn những vàng thoi..."
Ông Cửu ngừng kể. Các con cháu vẫn im lặng đứng chờ, vì chưa thấy có liên lạc giữa hai con mắt vuông, với cái vại vàng chôn. Sau một lúc lâu, ông Cửu lại nói:
"Vậy tao chắc nay... nó đòi của. Nó theo tao, nó đòi của. Hai con mắt nó hiện ra, kia nó hiện ra kia - hai con mắt nó về để báo cho tao biết... để báo cho tao biết rằng tao đã đến ngày tận số"
Ông Cửu nghẹn ngào như bị hai bàn tay vô hình bóp cổ. Người con cả ông an ủi.
- Thưa thầy, thầy được của là giời cho thầy. Của ấy là của giời. Nếu là của ông cha ông chánh Thà để lại thì sao ông chánh lại không biết gì, thì sao xưa kia ông ta lại không đả động tới mà các cụ tiền nhân cũng không báo mộng báo mù gì cho ông ta hay nhất là tại sao của ấy lại không lọt vào tay ông ta. Lại điều này nữa khiến con tin chắc chắn rằng giời dành của ấy cho thầy: là tại sao thầy lại tìm thấy cái vại để vàng giữa lúc nghỉ việc? Nếu thầy đào được sớm hơn, vào buổi sáng hay buổi trưa chẳng hạn, thì có phải đã ầm ĩ lên và ông chánh đã nhận mất vàng rồi, còn đâu. Không, con dám quả quyết rằng của ấy là của giời chứ không phải là của tổ tiên ông chánh. Của giời dành cho thầy. Vì thuở xưa hay kiếp trước thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm.
Ông Cửu mỉm cười nhắc lại: "Thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm?". Ông nghĩ đến những việc ông đã làm: nào cho vay nặng lãi, nào trữ thóc gạo lại không bán làm cho giá cao lên trong khi bao nhiêu người chết đói, và ông lẩm bẩm: " Hay đó là hai con mắt của bọn ấy đến đòi mạng đến bắt mình phải đem mạng mình ra mà thế mạng". Nhưng ông nghĩ tiếp ngay - vì trong khi ốm tinh thần ông sáng suốt khác thường: "Nếu là mất của chúng thì sao hai con mắt ấy lại lạ lùng thế. Sao lòng đen lại vuông, lại to thế? Không, chắc đây là mắt thần".
Tự nhiên trong tưởng tượng của ông, một vị thần hiện ra trần truồng ngồi trên bệ gạch, một vị nữ thần miệng gắn nhựa trám và hai con mắt to thao láo lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Rồi pho tượng biến dần biến dần, chỉ còn lại hai con mắt đăm đăm nhìn ông. Ông lại la: "Giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" và lắc đầu xua tay đuổi cả con cháu ra ngoài phòng.
Mấy người con bàn nhau về căn bệnh cha. Họ đoán có tiền căn nghiệp chướng chi đây. Họ liền mời các vị cao tăng đến lập đàn ba ngày ba đêm ở sân để tụng kinh, giải ách cho cha. Đêm thứ ba, cúng chúng sinh: một nhà sư tốt giọng hát bài ca chiêu hồn để gọi linh hồn chúng sinh về nghe kinh phật, trong bọn có đủ các hạng khốn nạn, cùng khổ trong loài người.
Nào những kẻ sa cơ, lỡ bước...
Bỗng ông Cửu kêu rú lên một tiếng rồi ngất đi.
Và ông mơ thấy ông đi trên con đường nắng, chân mỏi, bụng đói. Hai bên đường lúa mọc xanh rờn, người làm việc đông đảo. Họ hát những câu ca dao mà ông cũng thuộc và những khi đi gặt hái ông thường hát.
Tới một cái miếu con ẩn trong bóng cây đa um tùm, ông dừng chân ngồi nghỉ. Một tia hy vọng vụt chiếu rọi vào mắt ông: ông vừa trông thấy kê trước cửa miếu một cái nia đầy những xu và trinh... Ông đưa mắt nhìn quanh: không một ai. Mấy nén hương cắm trên một thẻ vàng tỏa mùi thơm lạnh lẽo và càng làm tăng phần tĩnh mịch nơi miếu vắng. Ông tự nhủ thầm: "Mình chỉ việc đưa tay ra bốc một nắm bỏ túi là sẽ có cơm ăn, là sẽ không chết đói". Và ông đưa tay ra thực. Nhưng ông lại rụt tay lại, tưởng như có ai ghé mắt đâu đó đứng nhìn. Ông nghĩ đến câu chuyện Mường, chuyện Thổ, những chuyện ma xó giữ nhà: mình vào nhà lấy trộm vật gì trong khi chủ đi vắng; con ma sẽ đọc tên vật ấy lên rồi nó theo dõi mình mà bóp cổ cho mình chết. Tự nhiên, ông rùng rợn, dựng tóc gáy, vội vã bỏ đi.
Đi được một quãng, ông lại quay về cái nia tiền. Ông định bụng cứ lấy một ít đi ăn cơm rồi chết thì chết cũng cam lòng. Chết còn hơn đói. Giữa lúc ấy một người đi đến. Ông sợ hãi nấp vào sau gốc đa. Người kia thản nhiên qua miếu, và ông nghe thấy hắn ném vào nia một đồng trinh. Chờ cho hắn đi khỏi, ông lại nhô ra, đến bên cái nia, đăm đăm nhìn. Nhưng vẫn không sao dám nhặt vài đồng trong nia tiền... của thánh. "Của thánh... lấy, tội chết, thánh quật chết!" Ông Cửu Niệm thì thầm. Rồi quả quyết đi thẳng.
Một quãng xa, ông gặp trên con đường rẽ vào một cái chợ đương họp, một chị ăn mày ngồi phục bên một cái rổ, một cái gậy, và ngước mắt trắng đục nhìn trời, miệng kêu than như ca hát: "Con người thì có, con mắt thì không...". Trong rổ có hai đồng trinh. Mắt ông Cửu như dán vào đó. Ông đứng im một hồi lâu, tai như lắng nghe câu van lơn của người ăn mày. Nhưng sự thực ông đương nghĩ thầm: "Nó mù! Nó mù! Nó không trông thấy mình.. Quanh đây không một ai.." Và ông cúi xuống, lẳng lặng cúi xuống, rón rén nhặt hai đồng trinh thu vào trong bọc.
Rồi ông hấp tấp chạy, như sợ người mù đuổi theo. Ông vào chợ mua bát cơm đầy, ăn ngốn ngấu. Ăn xong, ông quay về con đường cũ. Qua đầu đường, ông vẫn thấy người ăn xin ngồi nguyên chỗ, và trong rổ của nó hai đồng trinh vẫn còn. Ông mừng thầm tự nhủ: "Thì ra mình mơ thấy mình lấy hai đồng trinh của nó. Kỳ thực mình có lấy đâu?"
Tới miếu cũ, ông ngắm lại cái nia. Lạ lùng chưa! Bao nhiêu trinh trong nia đã sắp thành từng đôi một. Và chỉ trong một giây biến thành những cặp mắt. Những cặp mắt ấy to mãi ra, to mãi ra và trừng trừng nhìn thẳng vào mắt ông, những cặp mắt lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Cùng một lúc, tiếng ăn mày cất lên tứ phía, giọng nghe thê thảm: "Lạy ông lạy bà, ông bà thương con, con người thì có, con mắt thì không". Rồi bao nhiêu cặp mắt vuông bay tới tấp vây chặt lấy ông Cửu...
Ông kêu thét lên: "Giời ơi! Hai con mắt vuông!" Rồi ông tỉnh mộng.
Ngoài sân, tiếng nhà sư đọc bài chiêu hồn chúng sinh giọng trầm bổng như kẻ ăn mày kêu đường. Ông Cửu thở hổn hển, rồi lại ngất đi.
Sáng hôm sau, ông gọi các con đến dối dăng:
- Cha nhiều tội lắm. Cha ở ác với rất nhiều người, nhưng với hai con mắt... với hai con mắt vuông ấy thì cha chết mất. Đó là hai con mắt thịt, hai con mắt trần, chứ không phải mắt thần, mắt thánh nào cả như cha vẫn tưởng nhầm. Ngày ấy... đã lâu lắm... Nhưng mà thôi, đã có các con chuộc tội cho cha. Ngay hôm nay các con rao mõ rằng luôn năm hôm cha phát chẩn cho những người đói khó trong khắp vùng này. Mỗi người các con cho một bát gạo với hai đồng trinh. Hai đồng trinh, các con nhớ chưa? Đó là cha trả nợ, còn bát gạo là cha trả lãi.
Chiều hôm ấy, ông Cửu nghe tiếng mõ rao, và biết rằng các con ông sẽ làm theo lời ông dối lại. Ông sung sướng mỉm cười trong giấc ngủ cuối cùng. Ông chắc chắn sẽ thoát khỏi sức áp bách, sức thôi miên của hai con mắt vuông.
Bỗng ông Cửu kêu rú lên một tiếng rồi ngất đi.
Và ông mơ thấy ông đi trên con đường nắng, chân mỏi, bụng đói. Hai bên đường lúa mọc xanh rờn, người làm việc đông đảo. Họ hát những câu ca dao mà ông cũng thuộc và những khi đi gặt hái ông thường hát.
Tới một cái miếu con ẩn trong bóng cây đa um tùm, ông dừng chân ngồi nghỉ. Một tia hy vọng vụt chiếu rọi vào mắt ông: ông vừa trông thấy kê trước cửa miếu một cái nia đầy những xu và trinh... Ông đưa mắt nhìn quanh: không một ai. Mấy nén hương cắm trên một thẻ vàng tỏa mùi thơm lạnh lẽo và càng làm tăng phần tĩnh mịch nơi miếu vắng. Ông tự nhủ thầm: "Mình chỉ việc đưa tay ra bốc một nắm bỏ túi là sẽ có cơm ăn, là sẽ không chết đói". Và ông đưa tay ra thực. Nhưng ông lại rụt tay lại, tưởng như có ai ghé mắt đâu đó đứng nhìn. Ông nghĩ đến câu chuyện Mường, chuyện Thổ, những chuyện ma xó giữ nhà: mình vào nhà lấy trộm vật gì trong khi chủ đi vắng; con ma sẽ đọc tên vật ấy lên rồi nó theo dõi mình mà bóp cổ cho mình chết. Tự nhiên, ông rùng rợn, dựng tóc gáy, vội vã bỏ đi.
Đi được một quãng, ông lại quay về cái nia tiền. Ông định bụng cứ lấy một ít đi ăn cơm rồi chết thì chết cũng cam lòng. Chết còn hơn đói. Giữa lúc ấy một người đi đến. Ông sợ hãi nấp vào sau gốc đa. Người kia thản nhiên qua miếu, và ông nghe thấy hắn ném vào nia một đồng trinh. Chờ cho hắn đi khỏi, ông lại nhô ra, đến bên cái nia, đăm đăm nhìn. Nhưng vẫn không sao dám nhặt vài đồng trong nia tiền... của thánh. "Của thánh... lấy, tội chết, thánh quật chết!" Ông Cửu Niệm thì thầm. Rồi quả quyết đi thẳng.
Một quãng xa, ông gặp trên con đường rẽ vào một cái chợ đương họp, một chị ăn mày ngồi phục bên một cái rổ, một cái gậy, và ngước mắt trắng đục nhìn trời, miệng kêu than như ca hát: "Con người thì có, con mắt thì không...". Trong rổ có hai đồng trinh. Mắt ông Cửu như dán vào đó. Ông đứng im một hồi lâu, tai như lắng nghe câu van lơn của người ăn mày. Nhưng sự thực ông đương nghĩ thầm: "Nó mù! Nó mù! Nó không trông thấy mình.. Quanh đây không một ai.." Và ông cúi xuống, lẳng lặng cúi xuống, rón rén nhặt hai đồng trinh thu vào trong bọc.
Rồi ông hấp tấp chạy, như sợ người mù đuổi theo. Ông vào chợ mua bát cơm đầy, ăn ngốn ngấu. Ăn xong, ông quay về con đường cũ. Qua đầu đường, ông vẫn thấy người ăn xin ngồi nguyên chỗ, và trong rổ của nó hai đồng trinh vẫn còn. Ông mừng thầm tự nhủ: "Thì ra mình mơ thấy mình lấy hai đồng trinh của nó. Kỳ thực mình có lấy đâu?"
Tới miếu cũ, ông ngắm lại cái nia. Lạ lùng chưa! Bao nhiêu trinh trong nia đã sắp thành từng đôi một. Và chỉ trong một giây biến thành những cặp mắt. Những cặp mắt ấy to mãi ra, to mãi ra và trừng trừng nhìn thẳng vào mắt ông, những cặp mắt lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Cùng một lúc, tiếng ăn mày cất lên tứ phía, giọng nghe thê thảm: "Lạy ông lạy bà, ông bà thương con, con người thì có, con mắt thì không". Rồi bao nhiêu cặp mắt vuông bay tới tấp vây chặt lấy ông Cửu...
Ông kêu thét lên: "Giời ơi! Hai con mắt vuông!" Rồi ông tỉnh mộng.
Ngoài sân, tiếng nhà sư đọc bài chiêu hồn chúng sinh giọng trầm bổng như kẻ ăn mày kêu đường. Ông Cửu thở hổn hển, rồi lại ngất đi.
Sáng hôm sau, ông gọi các con đến dối dăng:
- Cha nhiều tội lắm. Cha ở ác với rất nhiều người, nhưng với hai con mắt... với hai con mắt vuông ấy thì cha chết mất. Đó là hai con mắt thịt, hai con mắt trần, chứ không phải mắt thần, mắt thánh nào cả như cha vẫn tưởng nhầm. Ngày ấy... đã lâu lắm... Nhưng mà thôi, đã có các con chuộc tội cho cha. Ngay hôm nay các con rao mõ rằng luôn năm hôm cha phát chẩn cho những người đói khó trong khắp vùng này. Mỗi người các con cho một bát gạo với hai đồng trinh. Hai đồng trinh, các con nhớ chưa? Đó là cha trả nợ, còn bát gạo là cha trả lãi.
Chiều hôm ấy, ông Cửu nghe tiếng mõ rao, và biết rằng các con ông sẽ làm theo lời ông dối lại. Ông sung sướng mỉm cười trong giấc ngủ cuối cùng. Ông chắc chắn sẽ thoát khỏi sức áp bách, sức thôi miên của hai con mắt vuông.
Xuân 1940
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, 1944.
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, 1944.
https://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-khai-hung/hai-con-mat/60
Hai con mắt, truyện ngắn của nhà văn Khái Hưng, do Chuly và Cao Xuân Huy diễn đọc.
"Số Mùa Xuân 1940" - TẾT Canh Thìn - Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
Khúc Nghê thường
Kịch ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
"Số Mùa Xuân 1940" - TẾT Canh Thìn - Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
Khúc Nghê thường
Kịch ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 24-25, 38.
"Số Mùa Xuân 1940" - TẾT Canh Thìn
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 18,36-37.
Chậu cây quý
Truyện của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 18,36-37.
"Số Mùa Xuân 1940" - TẾT Canh Thìn
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 18,36-37.
Chậu cây quý
Truyện của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Minh họa Ái Mỹ
Nguồn: Ngày Nay số 198 - 03/02/1940, Tr. 18,36-37.
Sư Tuệ
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07..Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy (tiếng Anh)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 182 - 07/10/1939, Tr. 08-09.
Mời xem bản đánh máy (tiếng Anh)
Ngày Nay số 182 - 07/10/1939, Tr. 08-09.
Monk Tue
Translation by James Banerian
KHAI HUNG
Tran Khanh Giu (pseudonym: Khai Hung or Nhi Linh) was born in 1896 in Co Am village, located in Hai Duong province (present-day Hai Phong), northern Vietnam. The son of a province official, Khai Hung went to the Albert Sarraut School where he received his baccalaureate degree in Western classics, at the same time remaining well-versed in Chinese studies. It was while working as a teacher of Vietnamese literature at the Thang Long High School in 1931 that he met Nguyen Tuong Tarn (Nhat Linh), an ambitious and dedicated writer who was to become his close friend. Over the next decade and a half, the two were to collaborate in many literary and political ventures. After founding the Tu-luc Van-doan literary group, they struggled to promote their ideas for reform and modernization through the Phong Hoa and Ngay Nay newspapers, encouraging the younger generation to cast off traditional ways and adopt Western attitudes. Through his own writing and cooperative works with Nhat Linh, Khai Hung was to become one of the most famous Vietnamese authors of the first half of the twentieth century.
In 1941 Khai Hung was arrested for anti-French activities with the Dai Viet Dan Chinh political party. Following World War II, he supported the Vietnamese Nationalist Party with his newspaperViet Nam, whichfirmly opposed the Communists. In 1947 while fleeing for safety to his wife's village, Khai Hung was captured by the Viet Minh and murdered at Cua Go, in Nam Dinh province.
A bold intellectual, Khai Hung often challenged the very roots of traditional Vietnamese society. His stories portray the strength of the human character and the need for his people to recognize individual rights and freedoms. Through his works, Khai Hung brings to life the Vietnam of his time- a time of momentous change, when the values and beliefs of an isolated peasant-oriented society clashed with the ideals and values of a Western colonial power.
Two stories by the author follow. The first is a modern version of a rather typical Vietnamese theme: faith and the Buddhist monk. This tale brings into play Khai Hung's educated look at religion and reveals how the author developed his literary style. The second story revolves around the conflict between generations, and between old and new ideas, as it poses questions of conscience and morality that affected the readers of its day.
° ° °
All at once Ham Pagoda had become famous. Not because it was situated on a wonderful site or at a famous landmark. It was, in fact, merely an ordinary newly-built temple in a remote village by the sea. There was nothing unique about it to make one stand up and take notice, whether for its architecture or aesthetic value
But Ham Pagoda was famous for its monk, Tue. This pious individual was a young man past thirty, athletic of build and handsome of face. Just glancing at him, one could tell that he did not belong to the class of ascetics, who ate only red rice and pickled vegetables all their lives. Broad and even shoulders, a hearty chest beneath his thin brown robe, plump cheeks, ruddy complexion, lips so red they looked made up, eyes clear and sharp - these were the marks of a life full and leisured, and even happy.
Yet this outward appearance did not dampen or diminish the monk's devout life. His fame spread far and wide, across all the provinces of the central region and even to the North. 1
Many travelers going to Hue would stop along the way to visit Ham Pagoda to meet the man who rumor had it was very enlightened. And returning North, they would be full of praise for the faithful monk, with regards to both his austere lifestyle and his book learning.
Austere was his life, and tourists who came to the temple found Monk Tue working in his garden, a small pleasant-looking garden that he himself had designed and his own hands cultivated after he had personally chosen the flowers to be planted. When the monk was first assigned to the Superior of Ham Pagoda, it had been only a vegetable garden, every year growing the same thing. It was the new monk who felt that before the door to Buddha one should not plant those things which are fertilized by unclean substances. For this reason, the monk turned it into a flower garden. As visitors passed the temple gate each day, they had to stop and gaze on the fringes of the fine green "fairy's hair" surrounding plots of ground shaped round, square, half-moon, five- or six-pointed star, within which grew uniformly flowers of "cinnamonrose," white rose, the "ten thousand years" and "one hundred days" trees, clumps of "tiger hide," "panther hide," "crimson flower" and bo trees. The flower garden was a thing new and strange to the village of Ham.... and a source of pride to Ham Pagoda. Whether in the cold or the hot season, every day one would meet the monk in his garden, digging the soil or watering the plants with a metal watering can that the monk himself had gone to buy in the city. And who was not moved to see him sitting in the hot broiling sun of the fifth and sixth lunar months, feet bare, upon his head a three-layer conical hat, or standing for hours in the chilling rain of the twelfth and first months digging the earth around the roots of his roses in full bloom?
As to the education of Monk Tue, well, that was a source of clamorous notoriety for Ham Pagoda The extent of that erudite learning no one could say! People only knew that beside the Buddhist scriptures in Chinese characters, the monk as well read numerous volumes of investigatory literature concerning the religion written in French and English. His library, you might say, was a jumble of Eastern and Western thought. On the shelves one would discover such names as Oldenberg and Davids standing right beside the famous Asian scholars of Buddhism. Uncounted numbers of visitors came to that library, in a well-lit thatch hut with glass windows on all four walls, to hold discussions with the monk at his wooden desk covered with books and periodicals weighted down by snail shells big and small and of all colors. But rarely did the monk speak about Buddhism, perhaps thinking people knew nothing about the subject and were not worthy of his discoursing on it. Despite that, the monk was always happy to respond to visitors both respectfully and modestly. His speech was smooth and coherent, almost as if he were preaching from a prepared set of notes. But if one should happen to drop in a line or find fault with some idea, the monk would fall quiet and listen and watch attentively, as if taking in precious words while he waited for his opposite to finish the thought. Never did he interrupt or smile in silent response to a mistaken opinion. He remained always serious- even when he smiled, revealing a set of white shining teeth, that smile, too, was grave and frank.
In general, the monk retained a composed appearance - not the arrogant composure of those who set themselves above others, but the natural composure of an unassuming soul.
And in addition to his virtues of austerity and erudition, a third shining mark of this holy man was his love of physical exercise. He was quite disciplined in the movement of body and limbs. That was surely the reason he was so hearty and handsome. Morning and evening you might see him taking a few turns on the brick road on his bicycle. In the beginning that bicycle had been the butt of violent ridicule from his neighbors. But after a while, people grew used to it. Besides, when the sweet name of the monk traveled in all directions, then every gesture, every movement - including his bicycle riding - became extolled and revered by the people. Then the bicycle was mentioned alongside the various strange things of the strange holy man, placed on the same level as the shelves of religious books in English and French.
Truly, the sobriquet "the bicycle monk" was more often spoken and easier to identify than "the Western monk" or "the modern monk." In some counties of the North and Central regions, if you said "the bicycle monk" everyone would know at once that you were talking about Monk Tue of Ham Pagoda.
Need I say that Monk Tue was a Western scholar? Naturally he did not set out to become a novice from the time his little boy's head was shaved, all but for a pronounced tuft of hair, as did the majority of religious aspirants. Monk Tue had only become familiar with the lofty and esoteric path within the past six years. But it was not true that as a result of this he did not grasp his religion as profoundly as his fellow monks. On the contrary, with his wide learning, his intelligence and especially his faith, Monk Tue could justifiably feel secure in saying that among the devout in Vietnam, hardly a soul had achieved his degree of religious practice. That faith was the most important and difficult aspiration of any monk, 100 or 1,000 times more difficult than attaining a profound learning. Without that belief, a person cannot comprehend religion. It was for this reason that Monk Tue did not wish to argue Buddhism with his curious visitors, no matter how well-versed they might be in the study of the religion. "People understand religion from the heart rather than from the brain,'' he used to say. And he would go on, "The greatest thoughts of Mankind emanated more from an ardent love of Mankind than from minds full of big learning."
Monk Tue was himself a mind full of learning, while perhaps not "big," nonetheless quite extensive. After achieving his baccalaureate in literature and being appointed clerk in one province in CentralVietnam, Khanh - the monk's lay name - continued to pursue his studies diligently and laboriously. Even as a child he knew a little Chinese. He still purchased Chinese books and greeted degree-holding visitors warmly to practice his skill. In only two or three years, because of his expeditious intelligence, he was able to grasp classical Chinese poetry. As for French and English books, he could read them forever without growing weary of them. He loved most books of inquiry and research in the areas of literature, sociology, philosophy and religion. Being unmarried, he could live frugally in order to save money for more books. That was his one interest or hobby in the past. But it made him rather tight with his money. He even dared refuse money to a sick friend out of fear it would have a dilatory effect on his book buying. And those books were his private lover that he would not let fall into the hands of another. He protected them by schemes quite clever and meticulous, such as not cutting the pages of new books and struggling to read in between the undivided sheets so that when a friend asked to borrow the book, he could reply that it was brand-new, and that he himself had not gotten a chance to look at it, so that the friend would go away trusting him since the pages were still folded together.
With a forceful hobby such as that, it was no wonder that Khanh was extreme in his faith in the religion he loved, especially when one considered that he truly enjoyed reading his books on philosophy and theology.
But the two periods of study and religious practice were not joined, as most people thought. Between them came another, middle period, one which prepared him for his life of religious practice. That was the time of love. Khanh loved, and loved madly, just as he had studied madly. But alas! He loved nearly to despair. For the woman Khanh loved was the wife of a good friend whom he did not want to deceive.
Did this woman share his sentiments? Khanh did not once dare ask himself. But to him, her words and gestures were so intimate, so loving, that he never for a moment doubted her heart. He felt the two need not confess their feelings for each other - warm glances, secret smiles, words pregnant with meaning were enough to express their passion.
This went on for some two years. Khanh lived in love and it seized his soul. No longer did he care for his study! His bookshelf remained closed and silent for months. He opened it only to allow others to borrow the books, for now he did not hold them or treasure them as he had before.
But Ham Pagoda was famous for its monk, Tue. This pious individual was a young man past thirty, athletic of build and handsome of face. Just glancing at him, one could tell that he did not belong to the class of ascetics, who ate only red rice and pickled vegetables all their lives. Broad and even shoulders, a hearty chest beneath his thin brown robe, plump cheeks, ruddy complexion, lips so red they looked made up, eyes clear and sharp - these were the marks of a life full and leisured, and even happy.
Yet this outward appearance did not dampen or diminish the monk's devout life. His fame spread far and wide, across all the provinces of the central region and even to the North. 1
Many travelers going to Hue would stop along the way to visit Ham Pagoda to meet the man who rumor had it was very enlightened. And returning North, they would be full of praise for the faithful monk, with regards to both his austere lifestyle and his book learning.
Austere was his life, and tourists who came to the temple found Monk Tue working in his garden, a small pleasant-looking garden that he himself had designed and his own hands cultivated after he had personally chosen the flowers to be planted. When the monk was first assigned to the Superior of Ham Pagoda, it had been only a vegetable garden, every year growing the same thing. It was the new monk who felt that before the door to Buddha one should not plant those things which are fertilized by unclean substances. For this reason, the monk turned it into a flower garden. As visitors passed the temple gate each day, they had to stop and gaze on the fringes of the fine green "fairy's hair" surrounding plots of ground shaped round, square, half-moon, five- or six-pointed star, within which grew uniformly flowers of "cinnamonrose," white rose, the "ten thousand years" and "one hundred days" trees, clumps of "tiger hide," "panther hide," "crimson flower" and bo trees. The flower garden was a thing new and strange to the village of Ham.... and a source of pride to Ham Pagoda. Whether in the cold or the hot season, every day one would meet the monk in his garden, digging the soil or watering the plants with a metal watering can that the monk himself had gone to buy in the city. And who was not moved to see him sitting in the hot broiling sun of the fifth and sixth lunar months, feet bare, upon his head a three-layer conical hat, or standing for hours in the chilling rain of the twelfth and first months digging the earth around the roots of his roses in full bloom?
As to the education of Monk Tue, well, that was a source of clamorous notoriety for Ham Pagoda The extent of that erudite learning no one could say! People only knew that beside the Buddhist scriptures in Chinese characters, the monk as well read numerous volumes of investigatory literature concerning the religion written in French and English. His library, you might say, was a jumble of Eastern and Western thought. On the shelves one would discover such names as Oldenberg and Davids standing right beside the famous Asian scholars of Buddhism. Uncounted numbers of visitors came to that library, in a well-lit thatch hut with glass windows on all four walls, to hold discussions with the monk at his wooden desk covered with books and periodicals weighted down by snail shells big and small and of all colors. But rarely did the monk speak about Buddhism, perhaps thinking people knew nothing about the subject and were not worthy of his discoursing on it. Despite that, the monk was always happy to respond to visitors both respectfully and modestly. His speech was smooth and coherent, almost as if he were preaching from a prepared set of notes. But if one should happen to drop in a line or find fault with some idea, the monk would fall quiet and listen and watch attentively, as if taking in precious words while he waited for his opposite to finish the thought. Never did he interrupt or smile in silent response to a mistaken opinion. He remained always serious- even when he smiled, revealing a set of white shining teeth, that smile, too, was grave and frank.
In general, the monk retained a composed appearance - not the arrogant composure of those who set themselves above others, but the natural composure of an unassuming soul.
And in addition to his virtues of austerity and erudition, a third shining mark of this holy man was his love of physical exercise. He was quite disciplined in the movement of body and limbs. That was surely the reason he was so hearty and handsome. Morning and evening you might see him taking a few turns on the brick road on his bicycle. In the beginning that bicycle had been the butt of violent ridicule from his neighbors. But after a while, people grew used to it. Besides, when the sweet name of the monk traveled in all directions, then every gesture, every movement - including his bicycle riding - became extolled and revered by the people. Then the bicycle was mentioned alongside the various strange things of the strange holy man, placed on the same level as the shelves of religious books in English and French.
Truly, the sobriquet "the bicycle monk" was more often spoken and easier to identify than "the Western monk" or "the modern monk." In some counties of the North and Central regions, if you said "the bicycle monk" everyone would know at once that you were talking about Monk Tue of Ham Pagoda.
Need I say that Monk Tue was a Western scholar? Naturally he did not set out to become a novice from the time his little boy's head was shaved, all but for a pronounced tuft of hair, as did the majority of religious aspirants. Monk Tue had only become familiar with the lofty and esoteric path within the past six years. But it was not true that as a result of this he did not grasp his religion as profoundly as his fellow monks. On the contrary, with his wide learning, his intelligence and especially his faith, Monk Tue could justifiably feel secure in saying that among the devout in Vietnam, hardly a soul had achieved his degree of religious practice. That faith was the most important and difficult aspiration of any monk, 100 or 1,000 times more difficult than attaining a profound learning. Without that belief, a person cannot comprehend religion. It was for this reason that Monk Tue did not wish to argue Buddhism with his curious visitors, no matter how well-versed they might be in the study of the religion. "People understand religion from the heart rather than from the brain,'' he used to say. And he would go on, "The greatest thoughts of Mankind emanated more from an ardent love of Mankind than from minds full of big learning."
Monk Tue was himself a mind full of learning, while perhaps not "big," nonetheless quite extensive. After achieving his baccalaureate in literature and being appointed clerk in one province in CentralVietnam, Khanh - the monk's lay name - continued to pursue his studies diligently and laboriously. Even as a child he knew a little Chinese. He still purchased Chinese books and greeted degree-holding visitors warmly to practice his skill. In only two or three years, because of his expeditious intelligence, he was able to grasp classical Chinese poetry. As for French and English books, he could read them forever without growing weary of them. He loved most books of inquiry and research in the areas of literature, sociology, philosophy and religion. Being unmarried, he could live frugally in order to save money for more books. That was his one interest or hobby in the past. But it made him rather tight with his money. He even dared refuse money to a sick friend out of fear it would have a dilatory effect on his book buying. And those books were his private lover that he would not let fall into the hands of another. He protected them by schemes quite clever and meticulous, such as not cutting the pages of new books and struggling to read in between the undivided sheets so that when a friend asked to borrow the book, he could reply that it was brand-new, and that he himself had not gotten a chance to look at it, so that the friend would go away trusting him since the pages were still folded together.
With a forceful hobby such as that, it was no wonder that Khanh was extreme in his faith in the religion he loved, especially when one considered that he truly enjoyed reading his books on philosophy and theology.
But the two periods of study and religious practice were not joined, as most people thought. Between them came another, middle period, one which prepared him for his life of religious practice. That was the time of love. Khanh loved, and loved madly, just as he had studied madly. But alas! He loved nearly to despair. For the woman Khanh loved was the wife of a good friend whom he did not want to deceive.
Did this woman share his sentiments? Khanh did not once dare ask himself. But to him, her words and gestures were so intimate, so loving, that he never for a moment doubted her heart. He felt the two need not confess their feelings for each other - warm glances, secret smiles, words pregnant with meaning were enough to express their passion.
This went on for some two years. Khanh lived in love and it seized his soul. No longer did he care for his study! His bookshelf remained closed and silent for months. He opened it only to allow others to borrow the books, for now he did not hold them or treasure them as he had before.
If this had gone on, Khanh could have lived forever peacefully in love, platonic and uncommitted. Yet one day in a fit of madness, Khanh bold the woman of his feelings. And to his great anguish, she, too, was in a similar plight; that is, for some time she had been deeply in love with her husband's friend just as he had been in love with her. If their love had simply been one of burning passion, they would have committed a sin. But their many feelings had had the time, over a year, to simmer well in the minds of two intelligent and thoughtful persons. For this reason, once they understood each other thoroughly, anew sensation rose fiercely in their souls. It was the heart of sacrifice. They would strive to forget each other.
And that was the reason that Khanh joined the monastic order. He wished to go far away from his lover, far into another world. That world, if not the one of the dead, could only be the world of those who shave their heads and follow the Buddha
In the beginning of his acceptance of the rule, Khanh already felt this third fondness of his life to be stronger than the two previous ones, for he saw that he loved the religion of Buddhism the way he loved books or a woman. But he had not yet learned that religion is more dogmatic than all the sources of human enjoyment. It does not allow you to apply this or that reason to define it for understanding. It forces you to obey it completely. So hard this proved for Khanh - a keen and clever man, whose mind had been transformed by the study of philosophy into a mind of ethics and science! Many times, following the pattern of the old monk, he sat in silent meditation seeking the truth and peace for his soul. But there was no way he could be at peace - he reflected more in the mind than in faith.
He understood at once that he still lacked belief. And he did not hold back as he disciplined himself to attain that faith. He recalled the meaning of a line from Pascal: "One must constantly have the movements of religion and in time one will believe." Day after day, he carefully, reverently and with all the sincerity he could muster, performed all his tasks at the temple, just like all the others: adhering to a strict diet, reading scriptures, praying to Buddha, making offerings around the table of vegetarian dishes, doing all the things that once he had felt were not appropriate to a great and high religion like Buddhism. He no longer wished to reason, but rather to close his eyes and follow in faith.
After two years, faith came naturally to him. He felt peace, tran-quility and coolness gradually seep into his soul.
Now he suddenly became a devout follower. For three years the elder monk assigned him to a place by himself. The elder hoped Monk Tue would convert the new wave, the wave of Western-educated folk whom he compared to a tree without roots. "A man without religion is like a tree without roots. And one day, his soul shall dry and wither like that tree." The elder hoped to save their souls, to take them to Nirvana, the place of escape. But that great task no one could accomplish without the aid of a monk who had a modern education and wide learning like Monk Tue. As for Khanh, he had a higher and more distant ideal. That was to reform Buddhism. With a band of young monks he dreamed he would enthusiastically raise the foundations of the mysterious religion that most of the ignorant monks had consists ently lowered and mixed up with the dribble of witchcraft. He believed that sooner or later he would succeed, or if not, after he achieved Nirvana his followers would continue the activities that he had initiated. His faith could not become any stronger, or any more secure. So firm and strong was it that he no longer feared reasoning and argument No ground or cause could ever shake his faith.
Now his faith was not a delusory one, but an enlightened one. Khanh's mind was always clear and orderly. He thought up a practice he could keep and follow until he achieved his goal. That program was divided into three parts. One part was to work with his hands and discipline the body. He did this because he believed that the greatest and deepest thoughts and truth itself must be extant in a healthy body and wholesome mind. The Buddha had discovered the truth only after having abandoned a religious practice that was too austere. The second part of his program was to study Buddhism in books old and new, Eastern and Western, to expand his learning, to love more the religion he had given his heart to. Thirdly, he would chant and pray so that his mind would be at peace and his soul completely abandoned the noisy and complicated earthly life.
Monk Tue put that program into effect from the moment he returned to Ham Pagoda and he vowed to follow it until he reached his goal.
But one night as he was chanting scriptures, Monk Tue looked up at the altar and suddenly his eyes became fixed on the face of the statue of the Jade Fairy. All at once a whole dim past appeared in the mind of the devout monk. In trepidation, he buried his head in his scriptures and raised his voice, while striking hard the wooden fish 2 to wipe out the images of the past. But the fresh and pleasant face, the keen eyes and deep red lips of the statue caused the monk to recall each feature as if it were drawn upon a page with big letters. The monk shut fast his eyes and recited from memory several pages of scripture, but the pretty face only became more pronounced. And finally, there flashed before him a name in Vietnamese, the name of the woman from long ago.
It was not a person from the realm of the dead returning to be with someone from the living. Rather, a person among the living appeared to one in the world of the dead, the world of religious practice!
The next day, Monk Tue meditated, prayed and contemplated, his thoughts upon the Buddha. But the devout man's mind was always on the woman, her gentle words and intimate manner.
The monk gave himself up to his flower garden, digging, turning the soil, pulling weeds without stop for one full day to exhaust his body so that his mind would no longer have the strength to think. But that night, he fell asleep and dreamed of the woman from the past
That woman became almost an obsession, appearing before him day and night like a phantom....
For an entire month he lived in that state, in that invisible prison.
Then one day, without a word, Monk Tue ran away from the temple.
Autumn 1939
Translated from the story SƯ TUỆ.
Translated from the story SƯ TUỆ.
--------------------------------
1 The Vietnamese refer to three major regions in their country: North, Central and South.
2 wooden clapper in the shape of a fish struck with a gong during Buddhist prayers
Nguồn: Trang Mọt Sách - isach.info
https://www.vietmessenger.com/books/?title=monk%20tue
Sư Tuệ
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 07..Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy (tiếng Anh)
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 182 - 07/10/1939, Tr. 08-09.
Mời xem bản đánh máy (tiếng Anh)
Ngày Nay số 182 - 07/10/1939, Tr. 08-09.
Monk Tue
Translation by James Banerian
KHAI HUNG
Tran Khanh Giu (pseudonym: Khai Hung or Nhi Linh) was born in 1896 in Co Am village, located in Hai Duong province (present-day Hai Phong), northern Vietnam. The son of a province official, Khai Hung went to the Albert Sarraut School where he received his baccalaureate degree in Western classics, at the same time remaining well-versed in Chinese studies. It was while working as a teacher of Vietnamese literature at the Thang Long High School in 1931 that he met Nguyen Tuong Tarn (Nhat Linh), an ambitious and dedicated writer who was to become his close friend. Over the next decade and a half, the two were to collaborate in many literary and political ventures. After founding the Tu-luc Van-doan literary group, they struggled to promote their ideas for reform and modernization through the Phong Hoa and Ngay Nay newspapers, encouraging the younger generation to cast off traditional ways and adopt Western attitudes. Through his own writing and cooperative works with Nhat Linh, Khai Hung was to become one of the most famous Vietnamese authors of the first half of the twentieth century.
In 1941 Khai Hung was arrested for anti-French activities with the Dai Viet Dan Chinh political party. Following World War II, he supported the Vietnamese Nationalist Party with his newspaperViet Nam, whichfirmly opposed the Communists. In 1947 while fleeing for safety to his wife's village, Khai Hung was captured by the Viet Minh and murdered at Cua Go, in Nam Dinh province.
A bold intellectual, Khai Hung often challenged the very roots of traditional Vietnamese society. His stories portray the strength of the human character and the need for his people to recognize individual rights and freedoms. Through his works, Khai Hung brings to life the Vietnam of his time- a time of momentous change, when the values and beliefs of an isolated peasant-oriented society clashed with the ideals and values of a Western colonial power.
Two stories by the author follow. The first is a modern version of a rather typical Vietnamese theme: faith and the Buddhist monk. This tale brings into play Khai Hung's educated look at religion and reveals how the author developed his literary style. The second story revolves around the conflict between generations, and between old and new ideas, as it poses questions of conscience and morality that affected the readers of its day.
° ° °
All at once Ham Pagoda had become famous. Not because it was situated on a wonderful site or at a famous landmark. It was, in fact, merely an ordinary newly-built temple in a remote village by the sea. There was nothing unique about it to make one stand up and take notice, whether for its architecture or aesthetic value
But Ham Pagoda was famous for its monk, Tue. This pious individual was a young man past thirty, athletic of build and handsome of face. Just glancing at him, one could tell that he did not belong to the class of ascetics, who ate only red rice and pickled vegetables all their lives. Broad and even shoulders, a hearty chest beneath his thin brown robe, plump cheeks, ruddy complexion, lips so red they looked made up, eyes clear and sharp - these were the marks of a life full and leisured, and even happy.
Yet this outward appearance did not dampen or diminish the monk's devout life. His fame spread far and wide, across all the provinces of the central region and even to the North. 1
Many travelers going to Hue would stop along the way to visit Ham Pagoda to meet the man who rumor had it was very enlightened. And returning North, they would be full of praise for the faithful monk, with regards to both his austere lifestyle and his book learning.
Austere was his life, and tourists who came to the temple found Monk Tue working in his garden, a small pleasant-looking garden that he himself had designed and his own hands cultivated after he had personally chosen the flowers to be planted. When the monk was first assigned to the Superior of Ham Pagoda, it had been only a vegetable garden, every year growing the same thing. It was the new monk who felt that before the door to Buddha one should not plant those things which are fertilized by unclean substances. For this reason, the monk turned it into a flower garden. As visitors passed the temple gate each day, they had to stop and gaze on the fringes of the fine green "fairy's hair" surrounding plots of ground shaped round, square, half-moon, five- or six-pointed star, within which grew uniformly flowers of "cinnamonrose," white rose, the "ten thousand years" and "one hundred days" trees, clumps of "tiger hide," "panther hide," "crimson flower" and bo trees. The flower garden was a thing new and strange to the village of Ham.... and a source of pride to Ham Pagoda. Whether in the cold or the hot season, every day one would meet the monk in his garden, digging the soil or watering the plants with a metal watering can that the monk himself had gone to buy in the city. And who was not moved to see him sitting in the hot broiling sun of the fifth and sixth lunar months, feet bare, upon his head a three-layer conical hat, or standing for hours in the chilling rain of the twelfth and first months digging the earth around the roots of his roses in full bloom?
As to the education of Monk Tue, well, that was a source of clamorous notoriety for Ham Pagoda The extent of that erudite learning no one could say! People only knew that beside the Buddhist scriptures in Chinese characters, the monk as well read numerous volumes of investigatory literature concerning the religion written in French and English. His library, you might say, was a jumble of Eastern and Western thought. On the shelves one would discover such names as Oldenberg and Davids standing right beside the famous Asian scholars of Buddhism. Uncounted numbers of visitors came to that library, in a well-lit thatch hut with glass windows on all four walls, to hold discussions with the monk at his wooden desk covered with books and periodicals weighted down by snail shells big and small and of all colors. But rarely did the monk speak about Buddhism, perhaps thinking people knew nothing about the subject and were not worthy of his discoursing on it. Despite that, the monk was always happy to respond to visitors both respectfully and modestly. His speech was smooth and coherent, almost as if he were preaching from a prepared set of notes. But if one should happen to drop in a line or find fault with some idea, the monk would fall quiet and listen and watch attentively, as if taking in precious words while he waited for his opposite to finish the thought. Never did he interrupt or smile in silent response to a mistaken opinion. He remained always serious- even when he smiled, revealing a set of white shining teeth, that smile, too, was grave and frank.
In general, the monk retained a composed appearance - not the arrogant composure of those who set themselves above others, but the natural composure of an unassuming soul.
And in addition to his virtues of austerity and erudition, a third shining mark of this holy man was his love of physical exercise. He was quite disciplined in the movement of body and limbs. That was surely the reason he was so hearty and handsome. Morning and evening you might see him taking a few turns on the brick road on his bicycle. In the beginning that bicycle had been the butt of violent ridicule from his neighbors. But after a while, people grew used to it. Besides, when the sweet name of the monk traveled in all directions, then every gesture, every movement - including his bicycle riding - became extolled and revered by the people. Then the bicycle was mentioned alongside the various strange things of the strange holy man, placed on the same level as the shelves of religious books in English and French.
Truly, the sobriquet "the bicycle monk" was more often spoken and easier to identify than "the Western monk" or "the modern monk." In some counties of the North and Central regions, if you said "the bicycle monk" everyone would know at once that you were talking about Monk Tue of Ham Pagoda.
Need I say that Monk Tue was a Western scholar? Naturally he did not set out to become a novice from the time his little boy's head was shaved, all but for a pronounced tuft of hair, as did the majority of religious aspirants. Monk Tue had only become familiar with the lofty and esoteric path within the past six years. But it was not true that as a result of this he did not grasp his religion as profoundly as his fellow monks. On the contrary, with his wide learning, his intelligence and especially his faith, Monk Tue could justifiably feel secure in saying that among the devout in Vietnam, hardly a soul had achieved his degree of religious practice. That faith was the most important and difficult aspiration of any monk, 100 or 1,000 times more difficult than attaining a profound learning. Without that belief, a person cannot comprehend religion. It was for this reason that Monk Tue did not wish to argue Buddhism with his curious visitors, no matter how well-versed they might be in the study of the religion. "People understand religion from the heart rather than from the brain,'' he used to say. And he would go on, "The greatest thoughts of Mankind emanated more from an ardent love of Mankind than from minds full of big learning."
Monk Tue was himself a mind full of learning, while perhaps not "big," nonetheless quite extensive. After achieving his baccalaureate in literature and being appointed clerk in one province in CentralVietnam, Khanh - the monk's lay name - continued to pursue his studies diligently and laboriously. Even as a child he knew a little Chinese. He still purchased Chinese books and greeted degree-holding visitors warmly to practice his skill. In only two or three years, because of his expeditious intelligence, he was able to grasp classical Chinese poetry. As for French and English books, he could read them forever without growing weary of them. He loved most books of inquiry and research in the areas of literature, sociology, philosophy and religion. Being unmarried, he could live frugally in order to save money for more books. That was his one interest or hobby in the past. But it made him rather tight with his money. He even dared refuse money to a sick friend out of fear it would have a dilatory effect on his book buying. And those books were his private lover that he would not let fall into the hands of another. He protected them by schemes quite clever and meticulous, such as not cutting the pages of new books and struggling to read in between the undivided sheets so that when a friend asked to borrow the book, he could reply that it was brand-new, and that he himself had not gotten a chance to look at it, so that the friend would go away trusting him since the pages were still folded together.
With a forceful hobby such as that, it was no wonder that Khanh was extreme in his faith in the religion he loved, especially when one considered that he truly enjoyed reading his books on philosophy and theology.
But the two periods of study and religious practice were not joined, as most people thought. Between them came another, middle period, one which prepared him for his life of religious practice. That was the time of love. Khanh loved, and loved madly, just as he had studied madly. But alas! He loved nearly to despair. For the woman Khanh loved was the wife of a good friend whom he did not want to deceive.
Did this woman share his sentiments? Khanh did not once dare ask himself. But to him, her words and gestures were so intimate, so loving, that he never for a moment doubted her heart. He felt the two need not confess their feelings for each other - warm glances, secret smiles, words pregnant with meaning were enough to express their passion.
This went on for some two years. Khanh lived in love and it seized his soul. No longer did he care for his study! His bookshelf remained closed and silent for months. He opened it only to allow others to borrow the books, for now he did not hold them or treasure them as he had before.
But Ham Pagoda was famous for its monk, Tue. This pious individual was a young man past thirty, athletic of build and handsome of face. Just glancing at him, one could tell that he did not belong to the class of ascetics, who ate only red rice and pickled vegetables all their lives. Broad and even shoulders, a hearty chest beneath his thin brown robe, plump cheeks, ruddy complexion, lips so red they looked made up, eyes clear and sharp - these were the marks of a life full and leisured, and even happy.
Yet this outward appearance did not dampen or diminish the monk's devout life. His fame spread far and wide, across all the provinces of the central region and even to the North. 1
Many travelers going to Hue would stop along the way to visit Ham Pagoda to meet the man who rumor had it was very enlightened. And returning North, they would be full of praise for the faithful monk, with regards to both his austere lifestyle and his book learning.
Austere was his life, and tourists who came to the temple found Monk Tue working in his garden, a small pleasant-looking garden that he himself had designed and his own hands cultivated after he had personally chosen the flowers to be planted. When the monk was first assigned to the Superior of Ham Pagoda, it had been only a vegetable garden, every year growing the same thing. It was the new monk who felt that before the door to Buddha one should not plant those things which are fertilized by unclean substances. For this reason, the monk turned it into a flower garden. As visitors passed the temple gate each day, they had to stop and gaze on the fringes of the fine green "fairy's hair" surrounding plots of ground shaped round, square, half-moon, five- or six-pointed star, within which grew uniformly flowers of "cinnamonrose," white rose, the "ten thousand years" and "one hundred days" trees, clumps of "tiger hide," "panther hide," "crimson flower" and bo trees. The flower garden was a thing new and strange to the village of Ham.... and a source of pride to Ham Pagoda. Whether in the cold or the hot season, every day one would meet the monk in his garden, digging the soil or watering the plants with a metal watering can that the monk himself had gone to buy in the city. And who was not moved to see him sitting in the hot broiling sun of the fifth and sixth lunar months, feet bare, upon his head a three-layer conical hat, or standing for hours in the chilling rain of the twelfth and first months digging the earth around the roots of his roses in full bloom?
As to the education of Monk Tue, well, that was a source of clamorous notoriety for Ham Pagoda The extent of that erudite learning no one could say! People only knew that beside the Buddhist scriptures in Chinese characters, the monk as well read numerous volumes of investigatory literature concerning the religion written in French and English. His library, you might say, was a jumble of Eastern and Western thought. On the shelves one would discover such names as Oldenberg and Davids standing right beside the famous Asian scholars of Buddhism. Uncounted numbers of visitors came to that library, in a well-lit thatch hut with glass windows on all four walls, to hold discussions with the monk at his wooden desk covered with books and periodicals weighted down by snail shells big and small and of all colors. But rarely did the monk speak about Buddhism, perhaps thinking people knew nothing about the subject and were not worthy of his discoursing on it. Despite that, the monk was always happy to respond to visitors both respectfully and modestly. His speech was smooth and coherent, almost as if he were preaching from a prepared set of notes. But if one should happen to drop in a line or find fault with some idea, the monk would fall quiet and listen and watch attentively, as if taking in precious words while he waited for his opposite to finish the thought. Never did he interrupt or smile in silent response to a mistaken opinion. He remained always serious- even when he smiled, revealing a set of white shining teeth, that smile, too, was grave and frank.
In general, the monk retained a composed appearance - not the arrogant composure of those who set themselves above others, but the natural composure of an unassuming soul.
And in addition to his virtues of austerity and erudition, a third shining mark of this holy man was his love of physical exercise. He was quite disciplined in the movement of body and limbs. That was surely the reason he was so hearty and handsome. Morning and evening you might see him taking a few turns on the brick road on his bicycle. In the beginning that bicycle had been the butt of violent ridicule from his neighbors. But after a while, people grew used to it. Besides, when the sweet name of the monk traveled in all directions, then every gesture, every movement - including his bicycle riding - became extolled and revered by the people. Then the bicycle was mentioned alongside the various strange things of the strange holy man, placed on the same level as the shelves of religious books in English and French.
Truly, the sobriquet "the bicycle monk" was more often spoken and easier to identify than "the Western monk" or "the modern monk." In some counties of the North and Central regions, if you said "the bicycle monk" everyone would know at once that you were talking about Monk Tue of Ham Pagoda.
Need I say that Monk Tue was a Western scholar? Naturally he did not set out to become a novice from the time his little boy's head was shaved, all but for a pronounced tuft of hair, as did the majority of religious aspirants. Monk Tue had only become familiar with the lofty and esoteric path within the past six years. But it was not true that as a result of this he did not grasp his religion as profoundly as his fellow monks. On the contrary, with his wide learning, his intelligence and especially his faith, Monk Tue could justifiably feel secure in saying that among the devout in Vietnam, hardly a soul had achieved his degree of religious practice. That faith was the most important and difficult aspiration of any monk, 100 or 1,000 times more difficult than attaining a profound learning. Without that belief, a person cannot comprehend religion. It was for this reason that Monk Tue did not wish to argue Buddhism with his curious visitors, no matter how well-versed they might be in the study of the religion. "People understand religion from the heart rather than from the brain,'' he used to say. And he would go on, "The greatest thoughts of Mankind emanated more from an ardent love of Mankind than from minds full of big learning."
Monk Tue was himself a mind full of learning, while perhaps not "big," nonetheless quite extensive. After achieving his baccalaureate in literature and being appointed clerk in one province in CentralVietnam, Khanh - the monk's lay name - continued to pursue his studies diligently and laboriously. Even as a child he knew a little Chinese. He still purchased Chinese books and greeted degree-holding visitors warmly to practice his skill. In only two or three years, because of his expeditious intelligence, he was able to grasp classical Chinese poetry. As for French and English books, he could read them forever without growing weary of them. He loved most books of inquiry and research in the areas of literature, sociology, philosophy and religion. Being unmarried, he could live frugally in order to save money for more books. That was his one interest or hobby in the past. But it made him rather tight with his money. He even dared refuse money to a sick friend out of fear it would have a dilatory effect on his book buying. And those books were his private lover that he would not let fall into the hands of another. He protected them by schemes quite clever and meticulous, such as not cutting the pages of new books and struggling to read in between the undivided sheets so that when a friend asked to borrow the book, he could reply that it was brand-new, and that he himself had not gotten a chance to look at it, so that the friend would go away trusting him since the pages were still folded together.
With a forceful hobby such as that, it was no wonder that Khanh was extreme in his faith in the religion he loved, especially when one considered that he truly enjoyed reading his books on philosophy and theology.
But the two periods of study and religious practice were not joined, as most people thought. Between them came another, middle period, one which prepared him for his life of religious practice. That was the time of love. Khanh loved, and loved madly, just as he had studied madly. But alas! He loved nearly to despair. For the woman Khanh loved was the wife of a good friend whom he did not want to deceive.
Did this woman share his sentiments? Khanh did not once dare ask himself. But to him, her words and gestures were so intimate, so loving, that he never for a moment doubted her heart. He felt the two need not confess their feelings for each other - warm glances, secret smiles, words pregnant with meaning were enough to express their passion.
This went on for some two years. Khanh lived in love and it seized his soul. No longer did he care for his study! His bookshelf remained closed and silent for months. He opened it only to allow others to borrow the books, for now he did not hold them or treasure them as he had before.
If this had gone on, Khanh could have lived forever peacefully in love, platonic and uncommitted. Yet one day in a fit of madness, Khanh bold the woman of his feelings. And to his great anguish, she, too, was in a similar plight; that is, for some time she had been deeply in love with her husband's friend just as he had been in love with her. If their love had simply been one of burning passion, they would have committed a sin. But their many feelings had had the time, over a year, to simmer well in the minds of two intelligent and thoughtful persons. For this reason, once they understood each other thoroughly, anew sensation rose fiercely in their souls. It was the heart of sacrifice. They would strive to forget each other.
And that was the reason that Khanh joined the monastic order. He wished to go far away from his lover, far into another world. That world, if not the one of the dead, could only be the world of those who shave their heads and follow the Buddha
In the beginning of his acceptance of the rule, Khanh already felt this third fondness of his life to be stronger than the two previous ones, for he saw that he loved the religion of Buddhism the way he loved books or a woman. But he had not yet learned that religion is more dogmatic than all the sources of human enjoyment. It does not allow you to apply this or that reason to define it for understanding. It forces you to obey it completely. So hard this proved for Khanh - a keen and clever man, whose mind had been transformed by the study of philosophy into a mind of ethics and science! Many times, following the pattern of the old monk, he sat in silent meditation seeking the truth and peace for his soul. But there was no way he could be at peace - he reflected more in the mind than in faith.
He understood at once that he still lacked belief. And he did not hold back as he disciplined himself to attain that faith. He recalled the meaning of a line from Pascal: "One must constantly have the movements of religion and in time one will believe." Day after day, he carefully, reverently and with all the sincerity he could muster, performed all his tasks at the temple, just like all the others: adhering to a strict diet, reading scriptures, praying to Buddha, making offerings around the table of vegetarian dishes, doing all the things that once he had felt were not appropriate to a great and high religion like Buddhism. He no longer wished to reason, but rather to close his eyes and follow in faith.
After two years, faith came naturally to him. He felt peace, tran-quility and coolness gradually seep into his soul.
Now he suddenly became a devout follower. For three years the elder monk assigned him to a place by himself. The elder hoped Monk Tue would convert the new wave, the wave of Western-educated folk whom he compared to a tree without roots. "A man without religion is like a tree without roots. And one day, his soul shall dry and wither like that tree." The elder hoped to save their souls, to take them to Nirvana, the place of escape. But that great task no one could accomplish without the aid of a monk who had a modern education and wide learning like Monk Tue. As for Khanh, he had a higher and more distant ideal. That was to reform Buddhism. With a band of young monks he dreamed he would enthusiastically raise the foundations of the mysterious religion that most of the ignorant monks had consists ently lowered and mixed up with the dribble of witchcraft. He believed that sooner or later he would succeed, or if not, after he achieved Nirvana his followers would continue the activities that he had initiated. His faith could not become any stronger, or any more secure. So firm and strong was it that he no longer feared reasoning and argument No ground or cause could ever shake his faith.
Now his faith was not a delusory one, but an enlightened one. Khanh's mind was always clear and orderly. He thought up a practice he could keep and follow until he achieved his goal. That program was divided into three parts. One part was to work with his hands and discipline the body. He did this because he believed that the greatest and deepest thoughts and truth itself must be extant in a healthy body and wholesome mind. The Buddha had discovered the truth only after having abandoned a religious practice that was too austere. The second part of his program was to study Buddhism in books old and new, Eastern and Western, to expand his learning, to love more the religion he had given his heart to. Thirdly, he would chant and pray so that his mind would be at peace and his soul completely abandoned the noisy and complicated earthly life.
Monk Tue put that program into effect from the moment he returned to Ham Pagoda and he vowed to follow it until he reached his goal.
But one night as he was chanting scriptures, Monk Tue looked up at the altar and suddenly his eyes became fixed on the face of the statue of the Jade Fairy. All at once a whole dim past appeared in the mind of the devout monk. In trepidation, he buried his head in his scriptures and raised his voice, while striking hard the wooden fish 2 to wipe out the images of the past. But the fresh and pleasant face, the keen eyes and deep red lips of the statue caused the monk to recall each feature as if it were drawn upon a page with big letters. The monk shut fast his eyes and recited from memory several pages of scripture, but the pretty face only became more pronounced. And finally, there flashed before him a name in Vietnamese, the name of the woman from long ago.
It was not a person from the realm of the dead returning to be with someone from the living. Rather, a person among the living appeared to one in the world of the dead, the world of religious practice!
The next day, Monk Tue meditated, prayed and contemplated, his thoughts upon the Buddha. But the devout man's mind was always on the woman, her gentle words and intimate manner.
The monk gave himself up to his flower garden, digging, turning the soil, pulling weeds without stop for one full day to exhaust his body so that his mind would no longer have the strength to think. But that night, he fell asleep and dreamed of the woman from the past
That woman became almost an obsession, appearing before him day and night like a phantom....
For an entire month he lived in that state, in that invisible prison.
Then one day, without a word, Monk Tue ran away from the temple.
Autumn 1939
Translated from the story SƯ TUỆ.
Translated from the story SƯ TUỆ.
--------------------------------
1 The Vietnamese refer to three major regions in their country: North, Central and South.
2 wooden clapper in the shape of a fish struck with a gong during Buddhist prayers
Nguồn: Trang Mọt Sách - isach.info
https://www.vietmessenger.com/books/?title=monk%20tue
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Hai người bạn
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy
(Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Mời xem bản đánh máy
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Hai người bạn
15:02 Tương tri
15:02 Tương tri
Hai người bạn
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy
(Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Mời xem bản đánh máy
Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Hai người bạn
Người ta nói nhờ về cái tài kể chuyện và cái điệu thơ sầu êm ái, Phúc đã chiếm được nhiều trái tim lãng mạn đa tình, đa tứ. Mà chính Phúc cũng tự phụ khoe khoang rằng chưa hề mất tiền cho tình nhân cô đầu bao giờ. Có lẽ anh không khoác lác đâu, vì chính trong bọn chúng tôi, ít người đã thoát khỏi sức hút của cái duyên thầm kín ấy.
Và tôi đoán chưa chắc cái duyên thầm kín đã không giúp một phần lớn trong sự đắc thắng trên đường đời của Phúc: Tay trắng Phúc đã trở nên có bạc vạn, làm chủ hai ba tòa nhà ở Hà thành. Đó không phải là một viên thư ký nhà buôn cần cù như Tảo. Vì thế, để Tảo mài đũng quần trên ghế làm công, anh bỏ ra kinh doanh các việc to tát và nguy hiểm. Ngày nay Tảo vẫn còn làm công, và nghe chừng cũng để ra được cái vốn dăm bảy nghìn.
Cái chi của hai người bạn cũng như cái tài của họ cách nhau là thế, một đằng nghìn, một đằng vạn. Mà trí thức và tính tình họ còn cách nhau xa hơn nữa. Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao hai người lại thân nhau được, lại yêu nhau được. Tôi đoán chừng, nhưng đó chỉ là đoán phỏng, hai người hợp nhau ở chỗ cùng tôn trọng luân lý Á Đông. Thực vậy tình bằng hữu của họ giống như tình bằng hữu của Lưu, Quan, Trương. Họ săn sóc đến nhau, coi gia quyến bạn như gia quyến mình. Một hôm lại chơi hai người - họ thuê nhà cùng ở với nhau - tôi đã cảm động ngắm họ thu xếp hành lý cho con gái một người bạn ở trọ nhà họ, tới hè về Nam Định với cha mẹ. Họ không quên một vật nhỏ, dặn đi dặn lại mãi những điều thông thường mà người con gái mười lăm tuổi kia hẳn phải biết.
Nhưng hai người bạn ấy bỗng giận nhau, thù nhau. Còn ai hiểu tại sao. Chúng tôi cũng không biết họ giận nhau bao giờ. Một hôm gặp Phúc tôi hỏi thăm tin tức của Tảo. Phúc lạnh lùng đáp: “Không biết”. Nhưng Tảo thì thật thà và sôi nổi hơn. Tôi vừa đọc tới tên Phúc, anh đã xua tay gạt liền: “Cậu đừng nói đến thằng ấy với tôi nữa. Tôi đã thề không nhìn mặt nó!”
Sự thù ghét đến thế ư? Và chắc hẳn nó có một nguyên nhân sâu xa, quan hệ. Trong hơn hai mươi năm nay những người quen biết Tảo và Phúc gặp nhau thường bàn tán về cái thù gần góc thế kỷ ấy. Họ nêu ra nhiều thuyết lắm. Họ dựng thành hẳn từng thiên tiểu thuyết. Có kẻ cho rằng vì tình, có kẻ đoán rằng vì luân lý. Lại cỏ kẻ tin chắc rằng vì chính trị. Nhưng sự thực vẫn không ai biết. Sự thực vẫn chôn sâu trong óc trong tim hai người bạn xưa đã trở nên hai cừu địch trứ danh.
Có điều này quân tử trong cái thù kinh niên của hai người. Là họ không từng nói xấu nhau một câu. Họ chỉ yên lặng ghét nhau, yên lặng khinh nhau, yên lặng tránh nhau. Gặp nhau ngoài phố và không kịp lảng, thế nào một người cũng vào một cửa hàng vờ mua thức gì để chờ cho người kia đi qua. Nếu không có cửa hàng thì họ gõ cửa vào chơi liều một nhà không quen biết.
Lại điều này nữa, cái thù của hai người không tiến mà cũng không lui. Trong bao năm lúc nào cùng thản nhiên, thoáng qua, nhưng sự thực, chúng tôi biết, nó vẫn nung đốt hai tâm hồn khổ sở.
Cách đây ba bốn tháng, Đạt gặp Tảo. Và chính Tảo báo cho Đạt biết cái tin buồn: Phúc vừa chết độ mười hôm. Tảo tiếp:
- Nghĩa tử là nghĩa tận, cậu ạ. Tôi cũng có mang vàng hương đến viếng nó. Nhưng giữ lời thề, tôi không nhìn mặt nó, tôi không nhìn cả cái áo quan đựng nó nữa.
Đạt ngần ngừ nói:
- Câu chuyện thù hằn của hai anh, lâu nay tôi không dám hỏi đến, sợ ở trong có điều bí mật phạm tới danh dự hai anh. Nhưng nay anh Phúc đã từ trần rồi thì anh có thể cho tôi biết cái duyên cớ đã khiến hai anh giận ghét nhau không?
Anh Tảo ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời:
- Được, nay nó chết rồi thì tôi có thể kể lại đầu đuôi câu chuyện với cậu lắm. Hôm ấy tôi và nó đương ngồi ở phòng giấy thì chủ vào đưa cho nó một tập giấy dầy và bảo nó: “Anh làm việc này, Tuyên làm việc này, còn thừa bao nhiêu việc khác giao tất cả cho Tảo”. Cậu có biết nó trả lòi thế nào vói chủ không? Nó nói gọn thon lỏn: “Mais monsieur, je suis sur que Tảo en est incapable”. 1 Đấy câu Pháp văn của nó đấy, tôi không thêm, không bớt một chữ. Cậu tính có điếng anh em không? Hót chủ rằng mình “incapable” mà lại hót chủ ngay trước mặt mình. Lúc bấy giờ tôi đương bận viết bức thư về thăm thầy tôi ốm. (Chừng Tảo cho rằng đó là một bổn phận thiêng liêng nên càng giận bạn). Tôi liền gấp tờ giấy lại, đứng phắt lên nói với chủ: “Con fiez moi toutes ces affaires et vous verrez dans une heure si je suis capble ou non”2. Đó cũng là, theo lời Tảo, câu đáp nguyên văn của anh trong khi anh tức giận.
Thế là từ hôm ấy, từ giờ ấy, từ phút ấy, hai người bạn không nói với nhau một lời, không nhìn tới mặt nhau nữa.
Nghe Đạt thuật xong chuyện, tôi kinh hoảng bảo anh:
- Trời ơi! Nếu quả thế thì hai người đã giận oan nhau trong gần một phần tư thế kỷ nay rồi. Lỗi chỉ ở câu tiếng Pháp. Vì tôi chắc không có lý gì anh Phúc lại hót chủ để phản bạn ngay trước mặt bạn. Và câu Pháp văn của anh chỉ có nghĩa: “Thưa ông, nếu ông giao tất cả công việc cho Tảo thì Tảo nó không thể làm xuể được đâu”. Sự thực. Phúc chỉ có lòng tốt bạn.
Đạt cười đáp:
- Ừ, nhưng sao Phúc cũng giận, cũng thù Tảo?
- Lại cũng vì câu trả lời tiếng Pháp của Tảo. Phúc cho là Tảo nói xược mình, khinh bỉ mình ở trước mặt một người Pháp. Thế rồi hai người chôn sâu trong lòng những điều uất ức, không đem ra phân trần, bày tỏ với ai một người vì tính nết thâm trầm, một người vì tâm hồn khảng khái.
Đạt mỉm cười suy nghĩ rồi kết luận bằng một câu triết lý:
- Biết đâu những thù hằn sâu xa, to tát của người ta lại khơng có toàn những nguyên nhân nông nổi, vô lý như thế cả.
1 Nhưng thưa ông tôi chắc Tảo không làm nổi đâu.
2 Ông cứ giao các việc cho tôi, trong một giờ ông sẽ biết tôi làm nổi hay không.
Rút từ tập truyện Hạnh
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938.
Nguồn: https://www.vietmessenger.com/books/?title=hanh&page=2
Hai người bạn
Tôi có nhiều bạn cùng mang cái tên ấy thế mà không hiểu sao, tôi đoán ngay được là ai, khi anh Đạt đến chơi báo cho tôi biết tin Phúc đã chết. Và tôi hỏi:
- Phúc phán già, phải không?
Phúc phán già, trong đám anh em bạn học về thời tôi, còn ai không biết tiếng! Nhưng nhất nhờ về câu chuyện thù hằn mà tên anh không sao phai được trong ký ức chúng tôi, dù đã hơn hai mươi năm nay, nhiều người trong bọn chúng tôi chỉ gặp mặt anh chừng vài ba lần.
Cái thù hơn hai mươi năm! Mà kẻ thù lại chính là người bạn thân nhất của anh, anh Tảo.
Tôi quên hẳn vì sao tôi quen anh Phúc và anh Tảo. Chỉ nhớ rằng hai anh thường đến chơi chỗ chúng tôi trọ. Có lẽ hai anh ấy trước kia có học cùng trường Bảo hộ với anh tôi. Nhưng chúng tôi không khỏi lấy làm lạ rằng cũng như chúng tôi, Tảo và Phúc đều nể sợ anh tôi, đầu tuổi các anh ấy suýt soát, có lẽ hơn tuổi anh tôi.
Tảo và Phúc đều làm công trong một nhà buôn của một người Pháp. Tôi không bao giờ tò mò hỏi nhà buôn ấy là nhà nào. Nhưng đoán chừng công việc cũng không lấy gì làm bề bộn, khó khăn vì thấy anh Phúc hay nói chuyện đi hát ả đào và anh Tảo còn đủ thời giờ trông coi giúp việc sổ sách cho cửa hàng thịt bò của một nguời bà con.
Nhờ cái công việc phụ ấy của anh Tảo chúng tôi mua được thịt bò giá rẻ. Hôm nào anh Tảo cũng chọn cho miếng thịt ngon nhất, còn xương nấu xúp thì anh cho rất hậu tuy mỗi hôm trong sổ chúng tôi chỉ biên có một hào. Mãi sau này tôi mới biết cửa hàng thịt bò là của người bà con anh Tảo, chứ ngày xưa tôi vẫn yên trí rằng chính anh Tảo là chủ. Không phải vì tháng tháng thấy anh Tảo đến thu tiền sổ, mà vì nhìn thân hình béo tốt, lực lưỡng, ngắm cái mặt hồng hào đầy đặn của anh, tôi không thể gán cho một nghề khác là nghề bán thịt bò được.
Hơn một năm gần đây, một hôm tôi đã lại gặp anh. Tôi thấy anh không thay đổi chút nào. Vẫn cái tầm vóc to béo, vẫn cái mặt đỏ gay như quả lựu rám nắng hồng, da căng thẳng và bóng loáng, trong đó hai con mắt xếch và một mi long lanh đưa đi đưa lại rất nhanh và cái miệng rộng luôn luôn mở ra hoặc để nói hay để cười. Tất cả cái hình ảnh rất quen, rất thân mật thời xưa còn giữ được nguyên vẹn. Nguyên vẹn, cả cử chỉ và ngôn ngữ.
Chợt thấy tôi anh cười ha hả, vui mừng đến nắm lấy tay tôi mà nói, nói không ngừng như không cần tôi đáp lại:
- Lâu lắm mới lại gặp cậu. Thế nào cậu có được mạnh không? Nghe nói bây giờ cậu viết văn, phải không?
Thì ra cái thời gian ngoài hai mươi năm anh Tảo không thèm kể vào đâu: anh vẫn coi tôi là một “cậu” em bé mặc quần ngắn cắp sách đi nhà trường. Cả tác phẩm của tôi, anh cũng không cần đọc: nghe người ta đồn là đủ rồi. Những lời nói bô bô của anh làm tôi hơi ngượng, vì lúc ấy chúng tôi đương ở giữa một nơi hội họp có tới gần nghìn người. Nhưng dù bao nhiêu con mắt tò mò nhìn chúng tôi, dù tôi muốn bỏ chạy biến đi nơi khác, tôi vẫn không thể rời được người bạn xưa: mắt tôi như dán vào cái mặt đỏ mà bao giờ tôi cũng đoán thấy đầy thành thực, đầy thẳng thắn, đầy khảng khái, cái mặt của Quan Vân Trường nếu có bộ râu dài.
Sự thực, tôi mới biết hai tính nết của con người kỳ dị ấy. Là tính vui vẻ, dễ dãi và tính nóng nảy, giận dữ.
Cái tính nết thứ nhất đã biểu lộ ra rõ rệt trong một buổi ăn mà chúng tôi mời anh Tảo đến dự. Hôm ấy anh bán thịt bò cho chúng tôi bằng một giá rất rẻ, có thể nói bán một, cho một.
Rồi buổi chiều mới gần năm giờ anh đã đến và chẳng nói chẳng rằng, anh cởi áo dài ra, bỏ khăn xếp vứt xuống bàn. Đoạn anh chạy thẳng vào bếp. Mãi sau chúng tôi mới biết anh đi làm các món ăn, vì anh thạo về khoa nấu nướng. Bữa cơm ấy chúng tôi ăn ngon lắm, một phần nhờ về các món nấu khéo nhưng nhất là vì cái tính dễ dãi của anh Tảo đã làm cho chúng tôi cảm động và sung sướng.
Tính nóng nảy của anh thì ai cùng phải ghê sợ. Một lần tôi được mục kích anh đánh người kéo xe và tôi đã phải rùng mình. Anh mặc cả năm xu, người xe bằng lòng, nhưng khi đến nơi lại giữ giọng vòi vĩnh đòi bảy xu. Anh Tảo mặt đã đỏ càng đỏ thêm. Mắt anh đã xếch càng xếch quá. Hai hàm răng anh nghiến lại. Rồi anh nắm tay quai mạnh một cái. Người xe ngã khuỵu và gục đầu vào ngực. Tức thì anh Tảo như bừng tỉnh cơn mê, cúi xuống đỡ người phu xe dạy, xoa vuốt nắn bóp cho tới khi người ấy hoàn hồn. Rồi anh ấn hai hào vào bàn tay người ấy và giục: “Đi, đi ngay không lại khổ bây giờ!”
Còn người bạn thân của anh? Còn anh Phúc?
Đem so sánh với anh, thì đó thực là một cái trái ngược, trái ngược từ hình thể cho chí tinh thần.
Về hình thể, nếu Tảo là ông ác thì Phúc là ông thiện. Một người mặt đỏ như lúc nào cũng say rượu, một người mặt tái như mắc bệnh thiếu máu. Trong gương mặt nhợt nhạt ấy cái gì cũng chậm chạp, lười biếng: hai con mắt lim dim hấp háy như buồn ngủ; cái trán rộng và cao, yên lặng và thư thái, người ta đoán cho những tư tưởng, những ý nghĩ cũng yên lặng và thư thái, âm ỷ như lửa âm ỷ cháy trong đống trấu phủ kín tro tàn. Trên cái mặt uể oải lạnh lùng ấy chỉ có cái miệng là hoạt động, tuy hoạt động một cách cũng uể oải, lạnh lùng. Trong khi Phúc ngồi nghe chuyện, tất cả mắt trán, tai anh như để ở đâu đâu. Duy có cái miệng là tỏ rằng anh đương chú ý đến câu chuyện: vì luôn luôn nó nhếch ra, nó mủm mỉm, nó hơi hé để hàm răng không đều và trắng bệch.
Chính nhờ về cái miệng có duyên ấy mà Phúc đã được anh em tặng cho cái biệt hiệu “phán già” ngay từ thời anh còn theo học năm thứ nhất tại trường Bảo hộ. Người ta cho anh nói khéo như một ông phán già.
Sự thực, những câu trả lời đúng chỗ của anh rất nhanh, rất ngắn, nhưng rất ngộ nghĩnh rất buồn cười có khi rất chua chát nữa. Nhờ thế mà anh đã khét tiếng ở các nhà cô đào và ai ai cũng phải gờm, phải sợ anh.
Nhưng cái miệng anh không những chỉ có tài châm chọc, nó lại có cả tài kể chuyện.
Tôi yêu anh, thích anh cũng vì cái tài ấy. Những câu chuyện cổ tích, hay tiếu lâm cũ rích mà ai ai cũng đã nghe thuật đi thuật lại hằng chục lần, những câu chuyện ấy ở miệng anh kể lại, vẫn làm cho mọi người phá lên cười vui sướng. Hình như anh Phúc đã nhận được hết cả những bí thuật của khoa kể chuyện. Chỉ hơi lên giọng, xuống giọng, chỉ ngừng lại một vài giây, anh cũng đủ làm tôn giá trị những ý tưởng tầm thường và ở người khác, có lẽ nhạt nhẽo nữa.
Tôi mê nhất những chuyện chiếu bóng của anh. Anh kể thong thả, từ từ, khiến người nghe như trông thấy đương lần ra trên màn bạc, như được ngắm các nhân vật cử động, nói cười, tuy thời ấy chưa có chiếu bóng nói. Những chuyện từng hồi, anh cũng kể từng hồi. Tới chỗ nghỉ, nghĩa là chỗ khiến người ta hồi hộp, sợ hãi, mong ngóng đoạn tiếp, anh ngừng lại hoặc để đánh diêm hút thuốc lá, hoặc để nằm im một lúc lâu như đã ngủ. Anh chỉ kể chuyện ban đêm, những đêm anh ở lại ngủ cùng giương với chúng tôi.
Ngoài cái thú kể chuyện, anh Phúc còn có cái thú làm thơ. Thơ anh tôi không nhớ có hay không, nhưng hình như buồn lắm và ác lắm. Anh Phúc ưa những tư tưởng chán đời và trào phúng. Nghe đâu nhiều lần anh đã xướng họa với thi sĩ Tản Đà trong những tiệc rượu say sưa. Tôi thì tôi không phục tài làm thơ của anh bằng cái tài thuộc thơ người khác. Thơ Xuân Hương, thơ Yên Đổ, thơ của khắp các thi sĩ cổ, kim, anh đọc vanh vách, không dắp một câu, mà anh đọc với cái giọng trầm trầm rất dễ yêu.
- Phúc phán già, phải không?
Phúc phán già, trong đám anh em bạn học về thời tôi, còn ai không biết tiếng! Nhưng nhất nhờ về câu chuyện thù hằn mà tên anh không sao phai được trong ký ức chúng tôi, dù đã hơn hai mươi năm nay, nhiều người trong bọn chúng tôi chỉ gặp mặt anh chừng vài ba lần.
Cái thù hơn hai mươi năm! Mà kẻ thù lại chính là người bạn thân nhất của anh, anh Tảo.
Tôi quên hẳn vì sao tôi quen anh Phúc và anh Tảo. Chỉ nhớ rằng hai anh thường đến chơi chỗ chúng tôi trọ. Có lẽ hai anh ấy trước kia có học cùng trường Bảo hộ với anh tôi. Nhưng chúng tôi không khỏi lấy làm lạ rằng cũng như chúng tôi, Tảo và Phúc đều nể sợ anh tôi, đầu tuổi các anh ấy suýt soát, có lẽ hơn tuổi anh tôi.
Tảo và Phúc đều làm công trong một nhà buôn của một người Pháp. Tôi không bao giờ tò mò hỏi nhà buôn ấy là nhà nào. Nhưng đoán chừng công việc cũng không lấy gì làm bề bộn, khó khăn vì thấy anh Phúc hay nói chuyện đi hát ả đào và anh Tảo còn đủ thời giờ trông coi giúp việc sổ sách cho cửa hàng thịt bò của một nguời bà con.
Nhờ cái công việc phụ ấy của anh Tảo chúng tôi mua được thịt bò giá rẻ. Hôm nào anh Tảo cũng chọn cho miếng thịt ngon nhất, còn xương nấu xúp thì anh cho rất hậu tuy mỗi hôm trong sổ chúng tôi chỉ biên có một hào. Mãi sau này tôi mới biết cửa hàng thịt bò là của người bà con anh Tảo, chứ ngày xưa tôi vẫn yên trí rằng chính anh Tảo là chủ. Không phải vì tháng tháng thấy anh Tảo đến thu tiền sổ, mà vì nhìn thân hình béo tốt, lực lưỡng, ngắm cái mặt hồng hào đầy đặn của anh, tôi không thể gán cho một nghề khác là nghề bán thịt bò được.
Hơn một năm gần đây, một hôm tôi đã lại gặp anh. Tôi thấy anh không thay đổi chút nào. Vẫn cái tầm vóc to béo, vẫn cái mặt đỏ gay như quả lựu rám nắng hồng, da căng thẳng và bóng loáng, trong đó hai con mắt xếch và một mi long lanh đưa đi đưa lại rất nhanh và cái miệng rộng luôn luôn mở ra hoặc để nói hay để cười. Tất cả cái hình ảnh rất quen, rất thân mật thời xưa còn giữ được nguyên vẹn. Nguyên vẹn, cả cử chỉ và ngôn ngữ.
Chợt thấy tôi anh cười ha hả, vui mừng đến nắm lấy tay tôi mà nói, nói không ngừng như không cần tôi đáp lại:
- Lâu lắm mới lại gặp cậu. Thế nào cậu có được mạnh không? Nghe nói bây giờ cậu viết văn, phải không?
Thì ra cái thời gian ngoài hai mươi năm anh Tảo không thèm kể vào đâu: anh vẫn coi tôi là một “cậu” em bé mặc quần ngắn cắp sách đi nhà trường. Cả tác phẩm của tôi, anh cũng không cần đọc: nghe người ta đồn là đủ rồi. Những lời nói bô bô của anh làm tôi hơi ngượng, vì lúc ấy chúng tôi đương ở giữa một nơi hội họp có tới gần nghìn người. Nhưng dù bao nhiêu con mắt tò mò nhìn chúng tôi, dù tôi muốn bỏ chạy biến đi nơi khác, tôi vẫn không thể rời được người bạn xưa: mắt tôi như dán vào cái mặt đỏ mà bao giờ tôi cũng đoán thấy đầy thành thực, đầy thẳng thắn, đầy khảng khái, cái mặt của Quan Vân Trường nếu có bộ râu dài.
Sự thực, tôi mới biết hai tính nết của con người kỳ dị ấy. Là tính vui vẻ, dễ dãi và tính nóng nảy, giận dữ.
Cái tính nết thứ nhất đã biểu lộ ra rõ rệt trong một buổi ăn mà chúng tôi mời anh Tảo đến dự. Hôm ấy anh bán thịt bò cho chúng tôi bằng một giá rất rẻ, có thể nói bán một, cho một.
Rồi buổi chiều mới gần năm giờ anh đã đến và chẳng nói chẳng rằng, anh cởi áo dài ra, bỏ khăn xếp vứt xuống bàn. Đoạn anh chạy thẳng vào bếp. Mãi sau chúng tôi mới biết anh đi làm các món ăn, vì anh thạo về khoa nấu nướng. Bữa cơm ấy chúng tôi ăn ngon lắm, một phần nhờ về các món nấu khéo nhưng nhất là vì cái tính dễ dãi của anh Tảo đã làm cho chúng tôi cảm động và sung sướng.
Tính nóng nảy của anh thì ai cùng phải ghê sợ. Một lần tôi được mục kích anh đánh người kéo xe và tôi đã phải rùng mình. Anh mặc cả năm xu, người xe bằng lòng, nhưng khi đến nơi lại giữ giọng vòi vĩnh đòi bảy xu. Anh Tảo mặt đã đỏ càng đỏ thêm. Mắt anh đã xếch càng xếch quá. Hai hàm răng anh nghiến lại. Rồi anh nắm tay quai mạnh một cái. Người xe ngã khuỵu và gục đầu vào ngực. Tức thì anh Tảo như bừng tỉnh cơn mê, cúi xuống đỡ người phu xe dạy, xoa vuốt nắn bóp cho tới khi người ấy hoàn hồn. Rồi anh ấn hai hào vào bàn tay người ấy và giục: “Đi, đi ngay không lại khổ bây giờ!”
Còn người bạn thân của anh? Còn anh Phúc?
Đem so sánh với anh, thì đó thực là một cái trái ngược, trái ngược từ hình thể cho chí tinh thần.
Về hình thể, nếu Tảo là ông ác thì Phúc là ông thiện. Một người mặt đỏ như lúc nào cũng say rượu, một người mặt tái như mắc bệnh thiếu máu. Trong gương mặt nhợt nhạt ấy cái gì cũng chậm chạp, lười biếng: hai con mắt lim dim hấp háy như buồn ngủ; cái trán rộng và cao, yên lặng và thư thái, người ta đoán cho những tư tưởng, những ý nghĩ cũng yên lặng và thư thái, âm ỷ như lửa âm ỷ cháy trong đống trấu phủ kín tro tàn. Trên cái mặt uể oải lạnh lùng ấy chỉ có cái miệng là hoạt động, tuy hoạt động một cách cũng uể oải, lạnh lùng. Trong khi Phúc ngồi nghe chuyện, tất cả mắt trán, tai anh như để ở đâu đâu. Duy có cái miệng là tỏ rằng anh đương chú ý đến câu chuyện: vì luôn luôn nó nhếch ra, nó mủm mỉm, nó hơi hé để hàm răng không đều và trắng bệch.
Chính nhờ về cái miệng có duyên ấy mà Phúc đã được anh em tặng cho cái biệt hiệu “phán già” ngay từ thời anh còn theo học năm thứ nhất tại trường Bảo hộ. Người ta cho anh nói khéo như một ông phán già.
Sự thực, những câu trả lời đúng chỗ của anh rất nhanh, rất ngắn, nhưng rất ngộ nghĩnh rất buồn cười có khi rất chua chát nữa. Nhờ thế mà anh đã khét tiếng ở các nhà cô đào và ai ai cũng phải gờm, phải sợ anh.
Nhưng cái miệng anh không những chỉ có tài châm chọc, nó lại có cả tài kể chuyện.
Tôi yêu anh, thích anh cũng vì cái tài ấy. Những câu chuyện cổ tích, hay tiếu lâm cũ rích mà ai ai cũng đã nghe thuật đi thuật lại hằng chục lần, những câu chuyện ấy ở miệng anh kể lại, vẫn làm cho mọi người phá lên cười vui sướng. Hình như anh Phúc đã nhận được hết cả những bí thuật của khoa kể chuyện. Chỉ hơi lên giọng, xuống giọng, chỉ ngừng lại một vài giây, anh cũng đủ làm tôn giá trị những ý tưởng tầm thường và ở người khác, có lẽ nhạt nhẽo nữa.
Tôi mê nhất những chuyện chiếu bóng của anh. Anh kể thong thả, từ từ, khiến người nghe như trông thấy đương lần ra trên màn bạc, như được ngắm các nhân vật cử động, nói cười, tuy thời ấy chưa có chiếu bóng nói. Những chuyện từng hồi, anh cũng kể từng hồi. Tới chỗ nghỉ, nghĩa là chỗ khiến người ta hồi hộp, sợ hãi, mong ngóng đoạn tiếp, anh ngừng lại hoặc để đánh diêm hút thuốc lá, hoặc để nằm im một lúc lâu như đã ngủ. Anh chỉ kể chuyện ban đêm, những đêm anh ở lại ngủ cùng giương với chúng tôi.
Ngoài cái thú kể chuyện, anh Phúc còn có cái thú làm thơ. Thơ anh tôi không nhớ có hay không, nhưng hình như buồn lắm và ác lắm. Anh Phúc ưa những tư tưởng chán đời và trào phúng. Nghe đâu nhiều lần anh đã xướng họa với thi sĩ Tản Đà trong những tiệc rượu say sưa. Tôi thì tôi không phục tài làm thơ của anh bằng cái tài thuộc thơ người khác. Thơ Xuân Hương, thơ Yên Đổ, thơ của khắp các thi sĩ cổ, kim, anh đọc vanh vách, không dắp một câu, mà anh đọc với cái giọng trầm trầm rất dễ yêu.
Người ta nói nhờ về cái tài kể chuyện và cái điệu thơ sầu êm ái, Phúc đã chiếm được nhiều trái tim lãng mạn đa tình, đa tứ. Mà chính Phúc cũng tự phụ khoe khoang rằng chưa hề mất tiền cho tình nhân cô đầu bao giờ. Có lẽ anh không khoác lác đâu, vì chính trong bọn chúng tôi, ít người đã thoát khỏi sức hút của cái duyên thầm kín ấy.
Và tôi đoán chưa chắc cái duyên thầm kín đã không giúp một phần lớn trong sự đắc thắng trên đường đời của Phúc: Tay trắng Phúc đã trở nên có bạc vạn, làm chủ hai ba tòa nhà ở Hà thành. Đó không phải là một viên thư ký nhà buôn cần cù như Tảo. Vì thế, để Tảo mài đũng quần trên ghế làm công, anh bỏ ra kinh doanh các việc to tát và nguy hiểm. Ngày nay Tảo vẫn còn làm công, và nghe chừng cũng để ra được cái vốn dăm bảy nghìn.
Cái chi của hai người bạn cũng như cái tài của họ cách nhau là thế, một đằng nghìn, một đằng vạn. Mà trí thức và tính tình họ còn cách nhau xa hơn nữa. Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao hai người lại thân nhau được, lại yêu nhau được. Tôi đoán chừng, nhưng đó chỉ là đoán phỏng, hai người hợp nhau ở chỗ cùng tôn trọng luân lý Á Đông. Thực vậy tình bằng hữu của họ giống như tình bằng hữu của Lưu, Quan, Trương. Họ săn sóc đến nhau, coi gia quyến bạn như gia quyến mình. Một hôm lại chơi hai người - họ thuê nhà cùng ở với nhau - tôi đã cảm động ngắm họ thu xếp hành lý cho con gái một người bạn ở trọ nhà họ, tới hè về Nam Định với cha mẹ. Họ không quên một vật nhỏ, dặn đi dặn lại mãi những điều thông thường mà người con gái mười lăm tuổi kia hẳn phải biết.
Nhưng hai người bạn ấy bỗng giận nhau, thù nhau. Còn ai hiểu tại sao. Chúng tôi cũng không biết họ giận nhau bao giờ. Một hôm gặp Phúc tôi hỏi thăm tin tức của Tảo. Phúc lạnh lùng đáp: “Không biết”. Nhưng Tảo thì thật thà và sôi nổi hơn. Tôi vừa đọc tới tên Phúc, anh đã xua tay gạt liền: “Cậu đừng nói đến thằng ấy với tôi nữa. Tôi đã thề không nhìn mặt nó!”
Sự thù ghét đến thế ư? Và chắc hẳn nó có một nguyên nhân sâu xa, quan hệ. Trong hơn hai mươi năm nay những người quen biết Tảo và Phúc gặp nhau thường bàn tán về cái thù gần góc thế kỷ ấy. Họ nêu ra nhiều thuyết lắm. Họ dựng thành hẳn từng thiên tiểu thuyết. Có kẻ cho rằng vì tình, có kẻ đoán rằng vì luân lý. Lại cỏ kẻ tin chắc rằng vì chính trị. Nhưng sự thực vẫn không ai biết. Sự thực vẫn chôn sâu trong óc trong tim hai người bạn xưa đã trở nên hai cừu địch trứ danh.
Có điều này quân tử trong cái thù kinh niên của hai người. Là họ không từng nói xấu nhau một câu. Họ chỉ yên lặng ghét nhau, yên lặng khinh nhau, yên lặng tránh nhau. Gặp nhau ngoài phố và không kịp lảng, thế nào một người cũng vào một cửa hàng vờ mua thức gì để chờ cho người kia đi qua. Nếu không có cửa hàng thì họ gõ cửa vào chơi liều một nhà không quen biết.
Lại điều này nữa, cái thù của hai người không tiến mà cũng không lui. Trong bao năm lúc nào cùng thản nhiên, thoáng qua, nhưng sự thực, chúng tôi biết, nó vẫn nung đốt hai tâm hồn khổ sở.
Cách đây ba bốn tháng, Đạt gặp Tảo. Và chính Tảo báo cho Đạt biết cái tin buồn: Phúc vừa chết độ mười hôm. Tảo tiếp:
- Nghĩa tử là nghĩa tận, cậu ạ. Tôi cũng có mang vàng hương đến viếng nó. Nhưng giữ lời thề, tôi không nhìn mặt nó, tôi không nhìn cả cái áo quan đựng nó nữa.
Đạt ngần ngừ nói:
- Câu chuyện thù hằn của hai anh, lâu nay tôi không dám hỏi đến, sợ ở trong có điều bí mật phạm tới danh dự hai anh. Nhưng nay anh Phúc đã từ trần rồi thì anh có thể cho tôi biết cái duyên cớ đã khiến hai anh giận ghét nhau không?
Anh Tảo ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời:
- Được, nay nó chết rồi thì tôi có thể kể lại đầu đuôi câu chuyện với cậu lắm. Hôm ấy tôi và nó đương ngồi ở phòng giấy thì chủ vào đưa cho nó một tập giấy dầy và bảo nó: “Anh làm việc này, Tuyên làm việc này, còn thừa bao nhiêu việc khác giao tất cả cho Tảo”. Cậu có biết nó trả lòi thế nào vói chủ không? Nó nói gọn thon lỏn: “Mais monsieur, je suis sur que Tảo en est incapable”. 1 Đấy câu Pháp văn của nó đấy, tôi không thêm, không bớt một chữ. Cậu tính có điếng anh em không? Hót chủ rằng mình “incapable” mà lại hót chủ ngay trước mặt mình. Lúc bấy giờ tôi đương bận viết bức thư về thăm thầy tôi ốm. (Chừng Tảo cho rằng đó là một bổn phận thiêng liêng nên càng giận bạn). Tôi liền gấp tờ giấy lại, đứng phắt lên nói với chủ: “Con fiez moi toutes ces affaires et vous verrez dans une heure si je suis capble ou non”2. Đó cũng là, theo lời Tảo, câu đáp nguyên văn của anh trong khi anh tức giận.
Thế là từ hôm ấy, từ giờ ấy, từ phút ấy, hai người bạn không nói với nhau một lời, không nhìn tới mặt nhau nữa.
Nghe Đạt thuật xong chuyện, tôi kinh hoảng bảo anh:
- Trời ơi! Nếu quả thế thì hai người đã giận oan nhau trong gần một phần tư thế kỷ nay rồi. Lỗi chỉ ở câu tiếng Pháp. Vì tôi chắc không có lý gì anh Phúc lại hót chủ để phản bạn ngay trước mặt bạn. Và câu Pháp văn của anh chỉ có nghĩa: “Thưa ông, nếu ông giao tất cả công việc cho Tảo thì Tảo nó không thể làm xuể được đâu”. Sự thực. Phúc chỉ có lòng tốt bạn.
Đạt cười đáp:
- Ừ, nhưng sao Phúc cũng giận, cũng thù Tảo?
- Lại cũng vì câu trả lời tiếng Pháp của Tảo. Phúc cho là Tảo nói xược mình, khinh bỉ mình ở trước mặt một người Pháp. Thế rồi hai người chôn sâu trong lòng những điều uất ức, không đem ra phân trần, bày tỏ với ai một người vì tính nết thâm trầm, một người vì tâm hồn khảng khái.
Đạt mỉm cười suy nghĩ rồi kết luận bằng một câu triết lý:
- Biết đâu những thù hằn sâu xa, to tát của người ta lại khơng có toàn những nguyên nhân nông nổi, vô lý như thế cả.
Khái Hưng
--------------------------------1 Nhưng thưa ông tôi chắc Tảo không làm nổi đâu.
2 Ông cứ giao các việc cho tôi, trong một giờ ông sẽ biết tôi làm nổi hay không.
Rút từ tập truyện Hạnh
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938.
Nguồn: https://www.vietmessenger.com/books/?title=hanh&page=2
Mời nghe đọc tại YouTube
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
Hai người bạn
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy
(Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Mời xem bản đánh máy
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi
00:00 Hai người bạn
15:02 Tương tri
15:02 Tương tri
Hai người bạn
Truyện ngắn của Khái Hưng
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.Minh họa Ái Mỹ
Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy
(Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).
Nguồn: Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Mời xem bản đánh máy
Ngày Nay số 181 - 30/09/1939, Tr. 06-07.
Hai người bạn
Người ta nói nhờ về cái tài kể chuyện và cái điệu thơ sầu êm ái, Phúc đã chiếm được nhiều trái tim lãng mạn đa tình, đa tứ. Mà chính Phúc cũng tự phụ khoe khoang rằng chưa hề mất tiền cho tình nhân cô đầu bao giờ. Có lẽ anh không khoác lác đâu, vì chính trong bọn chúng tôi, ít người đã thoát khỏi sức hút của cái duyên thầm kín ấy.
Và tôi đoán chưa chắc cái duyên thầm kín đã không giúp một phần lớn trong sự đắc thắng trên đường đời của Phúc: Tay trắng Phúc đã trở nên có bạc vạn, làm chủ hai ba tòa nhà ở Hà thành. Đó không phải là một viên thư ký nhà buôn cần cù như Tảo. Vì thế, để Tảo mài đũng quần trên ghế làm công, anh bỏ ra kinh doanh các việc to tát và nguy hiểm. Ngày nay Tảo vẫn còn làm công, và nghe chừng cũng để ra được cái vốn dăm bảy nghìn.
Cái chi của hai người bạn cũng như cái tài của họ cách nhau là thế, một đằng nghìn, một đằng vạn. Mà trí thức và tính tình họ còn cách nhau xa hơn nữa. Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao hai người lại thân nhau được, lại yêu nhau được. Tôi đoán chừng, nhưng đó chỉ là đoán phỏng, hai người hợp nhau ở chỗ cùng tôn trọng luân lý Á Đông. Thực vậy tình bằng hữu của họ giống như tình bằng hữu của Lưu, Quan, Trương. Họ săn sóc đến nhau, coi gia quyến bạn như gia quyến mình. Một hôm lại chơi hai người - họ thuê nhà cùng ở với nhau - tôi đã cảm động ngắm họ thu xếp hành lý cho con gái một người bạn ở trọ nhà họ, tới hè về Nam Định với cha mẹ. Họ không quên một vật nhỏ, dặn đi dặn lại mãi những điều thông thường mà người con gái mười lăm tuổi kia hẳn phải biết.
Nhưng hai người bạn ấy bỗng giận nhau, thù nhau. Còn ai hiểu tại sao. Chúng tôi cũng không biết họ giận nhau bao giờ. Một hôm gặp Phúc tôi hỏi thăm tin tức của Tảo. Phúc lạnh lùng đáp: “Không biết”. Nhưng Tảo thì thật thà và sôi nổi hơn. Tôi vừa đọc tới tên Phúc, anh đã xua tay gạt liền: “Cậu đừng nói đến thằng ấy với tôi nữa. Tôi đã thề không nhìn mặt nó!”
Sự thù ghét đến thế ư? Và chắc hẳn nó có một nguyên nhân sâu xa, quan hệ. Trong hơn hai mươi năm nay những người quen biết Tảo và Phúc gặp nhau thường bàn tán về cái thù gần góc thế kỷ ấy. Họ nêu ra nhiều thuyết lắm. Họ dựng thành hẳn từng thiên tiểu thuyết. Có kẻ cho rằng vì tình, có kẻ đoán rằng vì luân lý. Lại cỏ kẻ tin chắc rằng vì chính trị. Nhưng sự thực vẫn không ai biết. Sự thực vẫn chôn sâu trong óc trong tim hai người bạn xưa đã trở nên hai cừu địch trứ danh.
Có điều này quân tử trong cái thù kinh niên của hai người. Là họ không từng nói xấu nhau một câu. Họ chỉ yên lặng ghét nhau, yên lặng khinh nhau, yên lặng tránh nhau. Gặp nhau ngoài phố và không kịp lảng, thế nào một người cũng vào một cửa hàng vờ mua thức gì để chờ cho người kia đi qua. Nếu không có cửa hàng thì họ gõ cửa vào chơi liều một nhà không quen biết.
Lại điều này nữa, cái thù của hai người không tiến mà cũng không lui. Trong bao năm lúc nào cùng thản nhiên, thoáng qua, nhưng sự thực, chúng tôi biết, nó vẫn nung đốt hai tâm hồn khổ sở.
Cách đây ba bốn tháng, Đạt gặp Tảo. Và chính Tảo báo cho Đạt biết cái tin buồn: Phúc vừa chết độ mười hôm. Tảo tiếp:
- Nghĩa tử là nghĩa tận, cậu ạ. Tôi cũng có mang vàng hương đến viếng nó. Nhưng giữ lời thề, tôi không nhìn mặt nó, tôi không nhìn cả cái áo quan đựng nó nữa.
Đạt ngần ngừ nói:
- Câu chuyện thù hằn của hai anh, lâu nay tôi không dám hỏi đến, sợ ở trong có điều bí mật phạm tới danh dự hai anh. Nhưng nay anh Phúc đã từ trần rồi thì anh có thể cho tôi biết cái duyên cớ đã khiến hai anh giận ghét nhau không?
Anh Tảo ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời:
- Được, nay nó chết rồi thì tôi có thể kể lại đầu đuôi câu chuyện với cậu lắm. Hôm ấy tôi và nó đương ngồi ở phòng giấy thì chủ vào đưa cho nó một tập giấy dầy và bảo nó: “Anh làm việc này, Tuyên làm việc này, còn thừa bao nhiêu việc khác giao tất cả cho Tảo”. Cậu có biết nó trả lòi thế nào vói chủ không? Nó nói gọn thon lỏn: “Mais monsieur, je suis sur que Tảo en est incapable”. 1 Đấy câu Pháp văn của nó đấy, tôi không thêm, không bớt một chữ. Cậu tính có điếng anh em không? Hót chủ rằng mình “incapable” mà lại hót chủ ngay trước mặt mình. Lúc bấy giờ tôi đương bận viết bức thư về thăm thầy tôi ốm. (Chừng Tảo cho rằng đó là một bổn phận thiêng liêng nên càng giận bạn). Tôi liền gấp tờ giấy lại, đứng phắt lên nói với chủ: “Con fiez moi toutes ces affaires et vous verrez dans une heure si je suis capble ou non”2. Đó cũng là, theo lời Tảo, câu đáp nguyên văn của anh trong khi anh tức giận.
Thế là từ hôm ấy, từ giờ ấy, từ phút ấy, hai người bạn không nói với nhau một lời, không nhìn tới mặt nhau nữa.
Nghe Đạt thuật xong chuyện, tôi kinh hoảng bảo anh:
- Trời ơi! Nếu quả thế thì hai người đã giận oan nhau trong gần một phần tư thế kỷ nay rồi. Lỗi chỉ ở câu tiếng Pháp. Vì tôi chắc không có lý gì anh Phúc lại hót chủ để phản bạn ngay trước mặt bạn. Và câu Pháp văn của anh chỉ có nghĩa: “Thưa ông, nếu ông giao tất cả công việc cho Tảo thì Tảo nó không thể làm xuể được đâu”. Sự thực. Phúc chỉ có lòng tốt bạn.
Đạt cười đáp:
- Ừ, nhưng sao Phúc cũng giận, cũng thù Tảo?
- Lại cũng vì câu trả lời tiếng Pháp của Tảo. Phúc cho là Tảo nói xược mình, khinh bỉ mình ở trước mặt một người Pháp. Thế rồi hai người chôn sâu trong lòng những điều uất ức, không đem ra phân trần, bày tỏ với ai một người vì tính nết thâm trầm, một người vì tâm hồn khảng khái.
Đạt mỉm cười suy nghĩ rồi kết luận bằng một câu triết lý:
- Biết đâu những thù hằn sâu xa, to tát của người ta lại khơng có toàn những nguyên nhân nông nổi, vô lý như thế cả.
1 Nhưng thưa ông tôi chắc Tảo không làm nổi đâu.
2 Ông cứ giao các việc cho tôi, trong một giờ ông sẽ biết tôi làm nổi hay không.
Rút từ tập truyện Hạnh
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938.
Nguồn: https://www.vietmessenger.com/books/?title=hanh&page=2
Hai người bạn
Tôi có nhiều bạn cùng mang cái tên ấy thế mà không hiểu sao, tôi đoán ngay được là ai, khi anh Đạt đến chơi báo cho tôi biết tin Phúc đã chết. Và tôi hỏi:
- Phúc phán già, phải không?
Phúc phán già, trong đám anh em bạn học về thời tôi, còn ai không biết tiếng! Nhưng nhất nhờ về câu chuyện thù hằn mà tên anh không sao phai được trong ký ức chúng tôi, dù đã hơn hai mươi năm nay, nhiều người trong bọn chúng tôi chỉ gặp mặt anh chừng vài ba lần.
Cái thù hơn hai mươi năm! Mà kẻ thù lại chính là người bạn thân nhất của anh, anh Tảo.
Tôi quên hẳn vì sao tôi quen anh Phúc và anh Tảo. Chỉ nhớ rằng hai anh thường đến chơi chỗ chúng tôi trọ. Có lẽ hai anh ấy trước kia có học cùng trường Bảo hộ với anh tôi. Nhưng chúng tôi không khỏi lấy làm lạ rằng cũng như chúng tôi, Tảo và Phúc đều nể sợ anh tôi, đầu tuổi các anh ấy suýt soát, có lẽ hơn tuổi anh tôi.
Tảo và Phúc đều làm công trong một nhà buôn của một người Pháp. Tôi không bao giờ tò mò hỏi nhà buôn ấy là nhà nào. Nhưng đoán chừng công việc cũng không lấy gì làm bề bộn, khó khăn vì thấy anh Phúc hay nói chuyện đi hát ả đào và anh Tảo còn đủ thời giờ trông coi giúp việc sổ sách cho cửa hàng thịt bò của một nguời bà con.
Nhờ cái công việc phụ ấy của anh Tảo chúng tôi mua được thịt bò giá rẻ. Hôm nào anh Tảo cũng chọn cho miếng thịt ngon nhất, còn xương nấu xúp thì anh cho rất hậu tuy mỗi hôm trong sổ chúng tôi chỉ biên có một hào. Mãi sau này tôi mới biết cửa hàng thịt bò là của người bà con anh Tảo, chứ ngày xưa tôi vẫn yên trí rằng chính anh Tảo là chủ. Không phải vì tháng tháng thấy anh Tảo đến thu tiền sổ, mà vì nhìn thân hình béo tốt, lực lưỡng, ngắm cái mặt hồng hào đầy đặn của anh, tôi không thể gán cho một nghề khác là nghề bán thịt bò được.
Hơn một năm gần đây, một hôm tôi đã lại gặp anh. Tôi thấy anh không thay đổi chút nào. Vẫn cái tầm vóc to béo, vẫn cái mặt đỏ gay như quả lựu rám nắng hồng, da căng thẳng và bóng loáng, trong đó hai con mắt xếch và một mi long lanh đưa đi đưa lại rất nhanh và cái miệng rộng luôn luôn mở ra hoặc để nói hay để cười. Tất cả cái hình ảnh rất quen, rất thân mật thời xưa còn giữ được nguyên vẹn. Nguyên vẹn, cả cử chỉ và ngôn ngữ.
Chợt thấy tôi anh cười ha hả, vui mừng đến nắm lấy tay tôi mà nói, nói không ngừng như không cần tôi đáp lại:
- Lâu lắm mới lại gặp cậu. Thế nào cậu có được mạnh không? Nghe nói bây giờ cậu viết văn, phải không?
Thì ra cái thời gian ngoài hai mươi năm anh Tảo không thèm kể vào đâu: anh vẫn coi tôi là một “cậu” em bé mặc quần ngắn cắp sách đi nhà trường. Cả tác phẩm của tôi, anh cũng không cần đọc: nghe người ta đồn là đủ rồi. Những lời nói bô bô của anh làm tôi hơi ngượng, vì lúc ấy chúng tôi đương ở giữa một nơi hội họp có tới gần nghìn người. Nhưng dù bao nhiêu con mắt tò mò nhìn chúng tôi, dù tôi muốn bỏ chạy biến đi nơi khác, tôi vẫn không thể rời được người bạn xưa: mắt tôi như dán vào cái mặt đỏ mà bao giờ tôi cũng đoán thấy đầy thành thực, đầy thẳng thắn, đầy khảng khái, cái mặt của Quan Vân Trường nếu có bộ râu dài.
Sự thực, tôi mới biết hai tính nết của con người kỳ dị ấy. Là tính vui vẻ, dễ dãi và tính nóng nảy, giận dữ.
Cái tính nết thứ nhất đã biểu lộ ra rõ rệt trong một buổi ăn mà chúng tôi mời anh Tảo đến dự. Hôm ấy anh bán thịt bò cho chúng tôi bằng một giá rất rẻ, có thể nói bán một, cho một.
Rồi buổi chiều mới gần năm giờ anh đã đến và chẳng nói chẳng rằng, anh cởi áo dài ra, bỏ khăn xếp vứt xuống bàn. Đoạn anh chạy thẳng vào bếp. Mãi sau chúng tôi mới biết anh đi làm các món ăn, vì anh thạo về khoa nấu nướng. Bữa cơm ấy chúng tôi ăn ngon lắm, một phần nhờ về các món nấu khéo nhưng nhất là vì cái tính dễ dãi của anh Tảo đã làm cho chúng tôi cảm động và sung sướng.
Tính nóng nảy của anh thì ai cùng phải ghê sợ. Một lần tôi được mục kích anh đánh người kéo xe và tôi đã phải rùng mình. Anh mặc cả năm xu, người xe bằng lòng, nhưng khi đến nơi lại giữ giọng vòi vĩnh đòi bảy xu. Anh Tảo mặt đã đỏ càng đỏ thêm. Mắt anh đã xếch càng xếch quá. Hai hàm răng anh nghiến lại. Rồi anh nắm tay quai mạnh một cái. Người xe ngã khuỵu và gục đầu vào ngực. Tức thì anh Tảo như bừng tỉnh cơn mê, cúi xuống đỡ người phu xe dạy, xoa vuốt nắn bóp cho tới khi người ấy hoàn hồn. Rồi anh ấn hai hào vào bàn tay người ấy và giục: “Đi, đi ngay không lại khổ bây giờ!”
Còn người bạn thân của anh? Còn anh Phúc?
Đem so sánh với anh, thì đó thực là một cái trái ngược, trái ngược từ hình thể cho chí tinh thần.
Về hình thể, nếu Tảo là ông ác thì Phúc là ông thiện. Một người mặt đỏ như lúc nào cũng say rượu, một người mặt tái như mắc bệnh thiếu máu. Trong gương mặt nhợt nhạt ấy cái gì cũng chậm chạp, lười biếng: hai con mắt lim dim hấp háy như buồn ngủ; cái trán rộng và cao, yên lặng và thư thái, người ta đoán cho những tư tưởng, những ý nghĩ cũng yên lặng và thư thái, âm ỷ như lửa âm ỷ cháy trong đống trấu phủ kín tro tàn. Trên cái mặt uể oải lạnh lùng ấy chỉ có cái miệng là hoạt động, tuy hoạt động một cách cũng uể oải, lạnh lùng. Trong khi Phúc ngồi nghe chuyện, tất cả mắt trán, tai anh như để ở đâu đâu. Duy có cái miệng là tỏ rằng anh đương chú ý đến câu chuyện: vì luôn luôn nó nhếch ra, nó mủm mỉm, nó hơi hé để hàm răng không đều và trắng bệch.
Chính nhờ về cái miệng có duyên ấy mà Phúc đã được anh em tặng cho cái biệt hiệu “phán già” ngay từ thời anh còn theo học năm thứ nhất tại trường Bảo hộ. Người ta cho anh nói khéo như một ông phán già.
Sự thực, những câu trả lời đúng chỗ của anh rất nhanh, rất ngắn, nhưng rất ngộ nghĩnh rất buồn cười có khi rất chua chát nữa. Nhờ thế mà anh đã khét tiếng ở các nhà cô đào và ai ai cũng phải gờm, phải sợ anh.
Nhưng cái miệng anh không những chỉ có tài châm chọc, nó lại có cả tài kể chuyện.
Tôi yêu anh, thích anh cũng vì cái tài ấy. Những câu chuyện cổ tích, hay tiếu lâm cũ rích mà ai ai cũng đã nghe thuật đi thuật lại hằng chục lần, những câu chuyện ấy ở miệng anh kể lại, vẫn làm cho mọi người phá lên cười vui sướng. Hình như anh Phúc đã nhận được hết cả những bí thuật của khoa kể chuyện. Chỉ hơi lên giọng, xuống giọng, chỉ ngừng lại một vài giây, anh cũng đủ làm tôn giá trị những ý tưởng tầm thường và ở người khác, có lẽ nhạt nhẽo nữa.
Tôi mê nhất những chuyện chiếu bóng của anh. Anh kể thong thả, từ từ, khiến người nghe như trông thấy đương lần ra trên màn bạc, như được ngắm các nhân vật cử động, nói cười, tuy thời ấy chưa có chiếu bóng nói. Những chuyện từng hồi, anh cũng kể từng hồi. Tới chỗ nghỉ, nghĩa là chỗ khiến người ta hồi hộp, sợ hãi, mong ngóng đoạn tiếp, anh ngừng lại hoặc để đánh diêm hút thuốc lá, hoặc để nằm im một lúc lâu như đã ngủ. Anh chỉ kể chuyện ban đêm, những đêm anh ở lại ngủ cùng giương với chúng tôi.
Ngoài cái thú kể chuyện, anh Phúc còn có cái thú làm thơ. Thơ anh tôi không nhớ có hay không, nhưng hình như buồn lắm và ác lắm. Anh Phúc ưa những tư tưởng chán đời và trào phúng. Nghe đâu nhiều lần anh đã xướng họa với thi sĩ Tản Đà trong những tiệc rượu say sưa. Tôi thì tôi không phục tài làm thơ của anh bằng cái tài thuộc thơ người khác. Thơ Xuân Hương, thơ Yên Đổ, thơ của khắp các thi sĩ cổ, kim, anh đọc vanh vách, không dắp một câu, mà anh đọc với cái giọng trầm trầm rất dễ yêu.
- Phúc phán già, phải không?
Phúc phán già, trong đám anh em bạn học về thời tôi, còn ai không biết tiếng! Nhưng nhất nhờ về câu chuyện thù hằn mà tên anh không sao phai được trong ký ức chúng tôi, dù đã hơn hai mươi năm nay, nhiều người trong bọn chúng tôi chỉ gặp mặt anh chừng vài ba lần.
Cái thù hơn hai mươi năm! Mà kẻ thù lại chính là người bạn thân nhất của anh, anh Tảo.
Tôi quên hẳn vì sao tôi quen anh Phúc và anh Tảo. Chỉ nhớ rằng hai anh thường đến chơi chỗ chúng tôi trọ. Có lẽ hai anh ấy trước kia có học cùng trường Bảo hộ với anh tôi. Nhưng chúng tôi không khỏi lấy làm lạ rằng cũng như chúng tôi, Tảo và Phúc đều nể sợ anh tôi, đầu tuổi các anh ấy suýt soát, có lẽ hơn tuổi anh tôi.
Tảo và Phúc đều làm công trong một nhà buôn của một người Pháp. Tôi không bao giờ tò mò hỏi nhà buôn ấy là nhà nào. Nhưng đoán chừng công việc cũng không lấy gì làm bề bộn, khó khăn vì thấy anh Phúc hay nói chuyện đi hát ả đào và anh Tảo còn đủ thời giờ trông coi giúp việc sổ sách cho cửa hàng thịt bò của một nguời bà con.
Nhờ cái công việc phụ ấy của anh Tảo chúng tôi mua được thịt bò giá rẻ. Hôm nào anh Tảo cũng chọn cho miếng thịt ngon nhất, còn xương nấu xúp thì anh cho rất hậu tuy mỗi hôm trong sổ chúng tôi chỉ biên có một hào. Mãi sau này tôi mới biết cửa hàng thịt bò là của người bà con anh Tảo, chứ ngày xưa tôi vẫn yên trí rằng chính anh Tảo là chủ. Không phải vì tháng tháng thấy anh Tảo đến thu tiền sổ, mà vì nhìn thân hình béo tốt, lực lưỡng, ngắm cái mặt hồng hào đầy đặn của anh, tôi không thể gán cho một nghề khác là nghề bán thịt bò được.
Hơn một năm gần đây, một hôm tôi đã lại gặp anh. Tôi thấy anh không thay đổi chút nào. Vẫn cái tầm vóc to béo, vẫn cái mặt đỏ gay như quả lựu rám nắng hồng, da căng thẳng và bóng loáng, trong đó hai con mắt xếch và một mi long lanh đưa đi đưa lại rất nhanh và cái miệng rộng luôn luôn mở ra hoặc để nói hay để cười. Tất cả cái hình ảnh rất quen, rất thân mật thời xưa còn giữ được nguyên vẹn. Nguyên vẹn, cả cử chỉ và ngôn ngữ.
Chợt thấy tôi anh cười ha hả, vui mừng đến nắm lấy tay tôi mà nói, nói không ngừng như không cần tôi đáp lại:
- Lâu lắm mới lại gặp cậu. Thế nào cậu có được mạnh không? Nghe nói bây giờ cậu viết văn, phải không?
Thì ra cái thời gian ngoài hai mươi năm anh Tảo không thèm kể vào đâu: anh vẫn coi tôi là một “cậu” em bé mặc quần ngắn cắp sách đi nhà trường. Cả tác phẩm của tôi, anh cũng không cần đọc: nghe người ta đồn là đủ rồi. Những lời nói bô bô của anh làm tôi hơi ngượng, vì lúc ấy chúng tôi đương ở giữa một nơi hội họp có tới gần nghìn người. Nhưng dù bao nhiêu con mắt tò mò nhìn chúng tôi, dù tôi muốn bỏ chạy biến đi nơi khác, tôi vẫn không thể rời được người bạn xưa: mắt tôi như dán vào cái mặt đỏ mà bao giờ tôi cũng đoán thấy đầy thành thực, đầy thẳng thắn, đầy khảng khái, cái mặt của Quan Vân Trường nếu có bộ râu dài.
Sự thực, tôi mới biết hai tính nết của con người kỳ dị ấy. Là tính vui vẻ, dễ dãi và tính nóng nảy, giận dữ.
Cái tính nết thứ nhất đã biểu lộ ra rõ rệt trong một buổi ăn mà chúng tôi mời anh Tảo đến dự. Hôm ấy anh bán thịt bò cho chúng tôi bằng một giá rất rẻ, có thể nói bán một, cho một.
Rồi buổi chiều mới gần năm giờ anh đã đến và chẳng nói chẳng rằng, anh cởi áo dài ra, bỏ khăn xếp vứt xuống bàn. Đoạn anh chạy thẳng vào bếp. Mãi sau chúng tôi mới biết anh đi làm các món ăn, vì anh thạo về khoa nấu nướng. Bữa cơm ấy chúng tôi ăn ngon lắm, một phần nhờ về các món nấu khéo nhưng nhất là vì cái tính dễ dãi của anh Tảo đã làm cho chúng tôi cảm động và sung sướng.
Tính nóng nảy của anh thì ai cùng phải ghê sợ. Một lần tôi được mục kích anh đánh người kéo xe và tôi đã phải rùng mình. Anh mặc cả năm xu, người xe bằng lòng, nhưng khi đến nơi lại giữ giọng vòi vĩnh đòi bảy xu. Anh Tảo mặt đã đỏ càng đỏ thêm. Mắt anh đã xếch càng xếch quá. Hai hàm răng anh nghiến lại. Rồi anh nắm tay quai mạnh một cái. Người xe ngã khuỵu và gục đầu vào ngực. Tức thì anh Tảo như bừng tỉnh cơn mê, cúi xuống đỡ người phu xe dạy, xoa vuốt nắn bóp cho tới khi người ấy hoàn hồn. Rồi anh ấn hai hào vào bàn tay người ấy và giục: “Đi, đi ngay không lại khổ bây giờ!”
Còn người bạn thân của anh? Còn anh Phúc?
Đem so sánh với anh, thì đó thực là một cái trái ngược, trái ngược từ hình thể cho chí tinh thần.
Về hình thể, nếu Tảo là ông ác thì Phúc là ông thiện. Một người mặt đỏ như lúc nào cũng say rượu, một người mặt tái như mắc bệnh thiếu máu. Trong gương mặt nhợt nhạt ấy cái gì cũng chậm chạp, lười biếng: hai con mắt lim dim hấp háy như buồn ngủ; cái trán rộng và cao, yên lặng và thư thái, người ta đoán cho những tư tưởng, những ý nghĩ cũng yên lặng và thư thái, âm ỷ như lửa âm ỷ cháy trong đống trấu phủ kín tro tàn. Trên cái mặt uể oải lạnh lùng ấy chỉ có cái miệng là hoạt động, tuy hoạt động một cách cũng uể oải, lạnh lùng. Trong khi Phúc ngồi nghe chuyện, tất cả mắt trán, tai anh như để ở đâu đâu. Duy có cái miệng là tỏ rằng anh đương chú ý đến câu chuyện: vì luôn luôn nó nhếch ra, nó mủm mỉm, nó hơi hé để hàm răng không đều và trắng bệch.
Chính nhờ về cái miệng có duyên ấy mà Phúc đã được anh em tặng cho cái biệt hiệu “phán già” ngay từ thời anh còn theo học năm thứ nhất tại trường Bảo hộ. Người ta cho anh nói khéo như một ông phán già.
Sự thực, những câu trả lời đúng chỗ của anh rất nhanh, rất ngắn, nhưng rất ngộ nghĩnh rất buồn cười có khi rất chua chát nữa. Nhờ thế mà anh đã khét tiếng ở các nhà cô đào và ai ai cũng phải gờm, phải sợ anh.
Nhưng cái miệng anh không những chỉ có tài châm chọc, nó lại có cả tài kể chuyện.
Tôi yêu anh, thích anh cũng vì cái tài ấy. Những câu chuyện cổ tích, hay tiếu lâm cũ rích mà ai ai cũng đã nghe thuật đi thuật lại hằng chục lần, những câu chuyện ấy ở miệng anh kể lại, vẫn làm cho mọi người phá lên cười vui sướng. Hình như anh Phúc đã nhận được hết cả những bí thuật của khoa kể chuyện. Chỉ hơi lên giọng, xuống giọng, chỉ ngừng lại một vài giây, anh cũng đủ làm tôn giá trị những ý tưởng tầm thường và ở người khác, có lẽ nhạt nhẽo nữa.
Tôi mê nhất những chuyện chiếu bóng của anh. Anh kể thong thả, từ từ, khiến người nghe như trông thấy đương lần ra trên màn bạc, như được ngắm các nhân vật cử động, nói cười, tuy thời ấy chưa có chiếu bóng nói. Những chuyện từng hồi, anh cũng kể từng hồi. Tới chỗ nghỉ, nghĩa là chỗ khiến người ta hồi hộp, sợ hãi, mong ngóng đoạn tiếp, anh ngừng lại hoặc để đánh diêm hút thuốc lá, hoặc để nằm im một lúc lâu như đã ngủ. Anh chỉ kể chuyện ban đêm, những đêm anh ở lại ngủ cùng giương với chúng tôi.
Ngoài cái thú kể chuyện, anh Phúc còn có cái thú làm thơ. Thơ anh tôi không nhớ có hay không, nhưng hình như buồn lắm và ác lắm. Anh Phúc ưa những tư tưởng chán đời và trào phúng. Nghe đâu nhiều lần anh đã xướng họa với thi sĩ Tản Đà trong những tiệc rượu say sưa. Tôi thì tôi không phục tài làm thơ của anh bằng cái tài thuộc thơ người khác. Thơ Xuân Hương, thơ Yên Đổ, thơ của khắp các thi sĩ cổ, kim, anh đọc vanh vách, không dắp một câu, mà anh đọc với cái giọng trầm trầm rất dễ yêu.
Người ta nói nhờ về cái tài kể chuyện và cái điệu thơ sầu êm ái, Phúc đã chiếm được nhiều trái tim lãng mạn đa tình, đa tứ. Mà chính Phúc cũng tự phụ khoe khoang rằng chưa hề mất tiền cho tình nhân cô đầu bao giờ. Có lẽ anh không khoác lác đâu, vì chính trong bọn chúng tôi, ít người đã thoát khỏi sức hút của cái duyên thầm kín ấy.
Và tôi đoán chưa chắc cái duyên thầm kín đã không giúp một phần lớn trong sự đắc thắng trên đường đời của Phúc: Tay trắng Phúc đã trở nên có bạc vạn, làm chủ hai ba tòa nhà ở Hà thành. Đó không phải là một viên thư ký nhà buôn cần cù như Tảo. Vì thế, để Tảo mài đũng quần trên ghế làm công, anh bỏ ra kinh doanh các việc to tát và nguy hiểm. Ngày nay Tảo vẫn còn làm công, và nghe chừng cũng để ra được cái vốn dăm bảy nghìn.
Cái chi của hai người bạn cũng như cái tài của họ cách nhau là thế, một đằng nghìn, một đằng vạn. Mà trí thức và tính tình họ còn cách nhau xa hơn nữa. Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao hai người lại thân nhau được, lại yêu nhau được. Tôi đoán chừng, nhưng đó chỉ là đoán phỏng, hai người hợp nhau ở chỗ cùng tôn trọng luân lý Á Đông. Thực vậy tình bằng hữu của họ giống như tình bằng hữu của Lưu, Quan, Trương. Họ săn sóc đến nhau, coi gia quyến bạn như gia quyến mình. Một hôm lại chơi hai người - họ thuê nhà cùng ở với nhau - tôi đã cảm động ngắm họ thu xếp hành lý cho con gái một người bạn ở trọ nhà họ, tới hè về Nam Định với cha mẹ. Họ không quên một vật nhỏ, dặn đi dặn lại mãi những điều thông thường mà người con gái mười lăm tuổi kia hẳn phải biết.
Nhưng hai người bạn ấy bỗng giận nhau, thù nhau. Còn ai hiểu tại sao. Chúng tôi cũng không biết họ giận nhau bao giờ. Một hôm gặp Phúc tôi hỏi thăm tin tức của Tảo. Phúc lạnh lùng đáp: “Không biết”. Nhưng Tảo thì thật thà và sôi nổi hơn. Tôi vừa đọc tới tên Phúc, anh đã xua tay gạt liền: “Cậu đừng nói đến thằng ấy với tôi nữa. Tôi đã thề không nhìn mặt nó!”
Sự thù ghét đến thế ư? Và chắc hẳn nó có một nguyên nhân sâu xa, quan hệ. Trong hơn hai mươi năm nay những người quen biết Tảo và Phúc gặp nhau thường bàn tán về cái thù gần góc thế kỷ ấy. Họ nêu ra nhiều thuyết lắm. Họ dựng thành hẳn từng thiên tiểu thuyết. Có kẻ cho rằng vì tình, có kẻ đoán rằng vì luân lý. Lại cỏ kẻ tin chắc rằng vì chính trị. Nhưng sự thực vẫn không ai biết. Sự thực vẫn chôn sâu trong óc trong tim hai người bạn xưa đã trở nên hai cừu địch trứ danh.
Có điều này quân tử trong cái thù kinh niên của hai người. Là họ không từng nói xấu nhau một câu. Họ chỉ yên lặng ghét nhau, yên lặng khinh nhau, yên lặng tránh nhau. Gặp nhau ngoài phố và không kịp lảng, thế nào một người cũng vào một cửa hàng vờ mua thức gì để chờ cho người kia đi qua. Nếu không có cửa hàng thì họ gõ cửa vào chơi liều một nhà không quen biết.
Lại điều này nữa, cái thù của hai người không tiến mà cũng không lui. Trong bao năm lúc nào cùng thản nhiên, thoáng qua, nhưng sự thực, chúng tôi biết, nó vẫn nung đốt hai tâm hồn khổ sở.
Cách đây ba bốn tháng, Đạt gặp Tảo. Và chính Tảo báo cho Đạt biết cái tin buồn: Phúc vừa chết độ mười hôm. Tảo tiếp:
- Nghĩa tử là nghĩa tận, cậu ạ. Tôi cũng có mang vàng hương đến viếng nó. Nhưng giữ lời thề, tôi không nhìn mặt nó, tôi không nhìn cả cái áo quan đựng nó nữa.
Đạt ngần ngừ nói:
- Câu chuyện thù hằn của hai anh, lâu nay tôi không dám hỏi đến, sợ ở trong có điều bí mật phạm tới danh dự hai anh. Nhưng nay anh Phúc đã từ trần rồi thì anh có thể cho tôi biết cái duyên cớ đã khiến hai anh giận ghét nhau không?
Anh Tảo ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời:
- Được, nay nó chết rồi thì tôi có thể kể lại đầu đuôi câu chuyện với cậu lắm. Hôm ấy tôi và nó đương ngồi ở phòng giấy thì chủ vào đưa cho nó một tập giấy dầy và bảo nó: “Anh làm việc này, Tuyên làm việc này, còn thừa bao nhiêu việc khác giao tất cả cho Tảo”. Cậu có biết nó trả lòi thế nào vói chủ không? Nó nói gọn thon lỏn: “Mais monsieur, je suis sur que Tảo en est incapable”. 1 Đấy câu Pháp văn của nó đấy, tôi không thêm, không bớt một chữ. Cậu tính có điếng anh em không? Hót chủ rằng mình “incapable” mà lại hót chủ ngay trước mặt mình. Lúc bấy giờ tôi đương bận viết bức thư về thăm thầy tôi ốm. (Chừng Tảo cho rằng đó là một bổn phận thiêng liêng nên càng giận bạn). Tôi liền gấp tờ giấy lại, đứng phắt lên nói với chủ: “Con fiez moi toutes ces affaires et vous verrez dans une heure si je suis capble ou non”2. Đó cũng là, theo lời Tảo, câu đáp nguyên văn của anh trong khi anh tức giận.
Thế là từ hôm ấy, từ giờ ấy, từ phút ấy, hai người bạn không nói với nhau một lời, không nhìn tới mặt nhau nữa.
Nghe Đạt thuật xong chuyện, tôi kinh hoảng bảo anh:
- Trời ơi! Nếu quả thế thì hai người đã giận oan nhau trong gần một phần tư thế kỷ nay rồi. Lỗi chỉ ở câu tiếng Pháp. Vì tôi chắc không có lý gì anh Phúc lại hót chủ để phản bạn ngay trước mặt bạn. Và câu Pháp văn của anh chỉ có nghĩa: “Thưa ông, nếu ông giao tất cả công việc cho Tảo thì Tảo nó không thể làm xuể được đâu”. Sự thực. Phúc chỉ có lòng tốt bạn.
Đạt cười đáp:
- Ừ, nhưng sao Phúc cũng giận, cũng thù Tảo?
- Lại cũng vì câu trả lời tiếng Pháp của Tảo. Phúc cho là Tảo nói xược mình, khinh bỉ mình ở trước mặt một người Pháp. Thế rồi hai người chôn sâu trong lòng những điều uất ức, không đem ra phân trần, bày tỏ với ai một người vì tính nết thâm trầm, một người vì tâm hồn khảng khái.
Đạt mỉm cười suy nghĩ rồi kết luận bằng một câu triết lý:
- Biết đâu những thù hằn sâu xa, to tát của người ta lại khơng có toàn những nguyên nhân nông nổi, vô lý như thế cả.
Khái Hưng
--------------------------------1 Nhưng thưa ông tôi chắc Tảo không làm nổi đâu.
2 Ông cứ giao các việc cho tôi, trong một giờ ông sẽ biết tôi làm nổi hay không.
Rút từ tập truyện Hạnh
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938.
Nguồn: https://www.vietmessenger.com/books/?title=hanh&page=2
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




























