Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Đức Thu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

NN219 - "Anh Thùy" - Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu *


Anh Thùy

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Anh Thùy


Đi đưa đám ma anh Thùy về, tôi tự thấy bâng khuâng và vơ vẩn. Không phải buồn, không phải thương: nhưng là một cảm giác chán nản về mệt mỏi, như khi người ta thấy chung quanh mình trống rỗng, những quan niệm của mình đổ sụp, những tín ngưỡng bỗng nhiên không còn nghĩa lý gì.


Tôi không hiểu ý nghĩa cái chết của anh Thùy. Nó do những sự chán nản chồng chất từ lâu, hay do một lúc không tĩnh trí? Có khi chỉ vì một cớ cỏn con mà người ta làm những việc to tát, và đời một người tự sát chưa chắc là đã có thảm kịch.

Tôi gặp anh trong một đám ma, và lúc biết nhau là lúc tôi đưa đám ma anh. Ngẫu nhiên, tôi so sánh hai đám tang: một đằng nhộn nhịp linh đình, các vòng hoa tươi tốt rũ hương lại phía sau, người đi đưa nối dài hàng trăm thước; một đằng là hai con ngựa gầy kéo cái xe đã cũ, quan tài phủ miếng vải đen đã bạc và mấy người thưa thớt theo sau. Anh Thùy rất ít bạn; họ đã như tôi; không hiểu anh và không có gan, hoặc tính hiếu kỳ như tôi, xa anh đã lâu.

Hai năm trước, tôi đi đưa ma anh Ninh, đám tang cử hành từ sáng sớm, trùng trình tới mười giờ mà chưa ra khỏi thành phố. Chúng tôi - những người đi đưa - trịnh trọng dần từng bước ngắn theo sau xe tang, mũ cầm ở tay tuy trời đã nắng gắt. Duy chỉ có một người đi bên trái tôi vẫn nghiễm nhiên đội mũ. Tôi thấy chướng mắt và thầm chê là vô lễ. Một lúc sau tôi thấy nắng rát ở gáy. Tôi lấy khăn mùi xoa giơ lên che, nhưng vẫn không đội mũ như muốn cho anh chàng kia hiểu rằng đội mũ là không lịch sự. Chàng quay nhìn tôi như muốn bảo "Nắng thế, có mũ sao không đội, lại đi che khăn mặt?", lấy một điếu thuốc lá ngậm vào miệng rồi hỏi tôi:

- Ông có diêm không?

Tôi đưa bao diêm và lại càng ghét thêm. Từ nãy, một người nhà đám thường bưng cơi trầu trong có bao thuốc lá đi mời từng người, nhưng tôi thấy ai cũng từ chối. Trong lúc kính cẩn nghiêm nghị ấy, phì phèo điếu thuốc lá như không tiện. Anh chàng điềm nhiên hút. Mùi khói thuốc ănglê thơm ngon sực nức và năm mươi bước sau, một nửa người đi đưa đã hút thuốc. Ra khỏi thành phố, xe tang đi mau hơn, người đi đưa cũng rảo bước. Nắng càng gắt, những chiếc mũ đã lên cả trên đầu. Người bên cạnh tôi như để ý đến sự phía trước. Theo tầm mắt hắn, tôi thấy một thiếu nữ chít khăn tang đi cạnh người quả phụ. Thiếu nữ thỉnh thỏang quay lại như tìm ai, và khi nhìn đến một thiếu niên đi bên phải tôi thì mắt dừng lại lâu một chút.

Khi đã quen Thùy, tôi nhắc lại chuyện hôm ấy. Anh cười nói:

- Tôi không hiểu vì lẽ gì tôi phải đi đầu trần dưới trời nắng chang chang và nhịn thèm khi có thuốc lá ngon trong túi. Tôi không muốn phải cảm; nếu anh không chịu được nắng thì việc gì anh bắt chước người ta? Thương anh Ninh hay không là một chuyện khác. Từ lúc tôi hút điếu thuốc, hình như thấy thương tiếc anh Ninh hơn lên. Trước kia anh vẫn cho tôi vay tiền mua thuốc, bây giờ nhỡ thiếu thuốc, không biết chạy đến ai?

Tôi phải khó chịu về câu nói đầy ý nghĩa "vị ngã". Tôi không muốn thấy một thiếu niên nhanh nhẹn, một vẻ mặt thông minh, lanh lợi, ích kỷ đến bực ấy. Anh Thùy nhận thấy tôi bất bình, ôn tồn tiếp.

- Tôi nói thế, anh cho là chướng lắm à? Dù sao tôi cũng đã có cảm tình với anh Ninh và đã dám nói ra. Có lẽ trong những người đi đưa hôm ấy, tôi thương anh Ninh hơn hết, và tự thương cả tôi sẽ thiếu thuốc lá. Tôi tự chắc mình thành thực hơn hết mọi người. Anh coi liệu có ai thật lòng thương anh Ninh không? Bắt đầu từ người vợ góa, một người đàn bà, quá tự kiêu vì nhan sắc, đã làm anh khốn khổ đến nỗi chỉ muốn lang thang suốt ngày để khỏi về nhà nhìn thấy mặt vợ. Anh có tin nước mắt người đàn bà ấy không? Hôm ấy như chị chàng khóc dữ lắm. Cô em gái đi đưa đám ma anh mà vẫn không quên liếc tình nhân, người con trai đi bên phải anh. Họ lợi dụng cả cái chết của người khác để gặp nhau, để đưa mắt, để khoe vẻ đẹp trong bộ quần áo tang. Còn các ông đi đưa nữa! Họ đạo mạo, nghiêm nghị, trịnh trọng nhận những cái ngả mũ của những người đi ngược lại chào xe tang như người ta chào mình. Họ đi thong thả, vì người cho thuê xe kìm bước ngựa cho đám thêm trịnh trọng và quảng cáo cho nhà mình. Anh có thì giờ nhìn chân người đi trước và đặt bước đúng bước họ. Ra khỏi tỉnh xem? Anh không còn kịp tránh những viên đá nhọn. "Trong khi ấy họ nghĩ đến gì? Đến anh Ninh? Chưa chắc. Họ nghĩ đến công việc của họ. Có người, mới ở nhà ả đào ra vội cho kịp đám ma, nghĩ đến tình nhân và chầu hát đêm qua, có người nhẩm tính xem bao giờ đưa xong để kịp về họp tổ tôm. Hoặc họ nghĩ đến anh Ninh nhưng chỉ đủ để nghĩ luôn sang người vợ góa trẻ và đẹp, thế nào rồi cũng tái giá. Có lẽ những ý nghĩ đó chung cho cả ngần ấy người, nhưng không ai dám nói ra. Họ như đã cùng bảo nhau giữ một vẻ mặt đạo mạo. Họ không hút thuốc, không đội mũ, nhưng khi nắng rát quá, và chung quanh mình thấy có người đội rồi thì họ chẳng còn ngần ngại gì. Khói thuốc lá thơm làm các cậu thèm, cũng móc thuốc ra hút. Anh xem? Nếu anh có thể vờ chết để thử tâm tình các người thân thích anh, thì tôi chắc rằng khi anh biết rõ rồi, anh sẽ muốn chết hẳn, không trở lại cõi đời này nữa!".

Hôm đưa đám, ngẫu nhiên tôi cũng có nhìn cô em anh Ninh, có thấy cô xinh đẹp và nghĩ... Bây giờ nghe lời anh Thùy, tôi lại thấy tự thẹn. Tôi ngượng nghịu bảo anh:

- Đã đành rằng thế. Trong thâm tâm, người ta có thể tha hồ nghĩ, nhiều khi rất nhảm nhí. Nhưng nói ra như anh, tất phải bạo lắm, can đảm lắm.

- Hay là đểu lắm, sao anh không nói? Tôi chắc anh nghĩ thế.

Tôi không dám cho anh hẳn là đểu, nhưng tôi vẫn thấy khó chịu về cách thật thà của anh. Đầu tiên tôi như thấy nó thô bỉ, sống sượng, nhiều lúc đến cục cằn. Có câu nghe đến phải ngượng tai, tôi phải ngượng và thẹn như cô gái đồng trinh vô tình nghe phải câu chuyện nhục dục.
Anh chàng vẫn tự nhiên phô diễn những ý tưởng của anh, nhiều lúc rất táo bạo. Anh không hề thấy ngượng mồm hay sợ mếch lòng ai. Các bạn anh, không chịu được lối sỗ sàng ấy, xa dần. Anh như không quan tâm, hình như không cần đến ai.

Duy tôi, tôi vẫn chơi với anh. Hình như tâm tính anh bổ khuyết cho tính rụt rè nhút nhát của tôi, nên mỗi ngày tôi lại gần anh thêm. Nhiều lúc tôi vui sướng thấy anh rất tự nhiên diễn tả một ý tôi thường nghĩ đến mà không tiện nói ra, vì nó táo bạo quá. Tôi lại gợi cho anh nói thêm; cố nhiên là anh sa vào lưới của tôi, nói luôn miệng, những câu làm tôi phải rùng mình.

Có lúc anh ăn nói cục cằn, sống sượng như một kẻ vô học. Tôi tưởng như tâm não anh không còn có ý nghĩ gì thanh cao nữa. Tôi không hề thấy anh cảm động, một lần chúng tôi đứng xem thi thể một người bị xe điện chẹt. Cái đầu lìa rời ra, thân chỉ còn là một đống thịt, xương máu, vò nhàu, trộn lẫn. Anh xem tỉ mỉ từng tí, lấy thuốc lá hút, rồi bảo tôi:

- Thịt mất máu, nhợt thế này giống như thịt cọp tôi đã ăn bít tết, nhạt và hoi. Thịt người chắc rằng có vị ấy.

Tôi cho là anh đã hư hỏng, hoặc cằn cỗi lắm. Nhưng ngay chiều hôm ấy, thấy anh đứng hàng giờ trên cầu Thê Húc, ngắm bóng trăng dưới hồ thì tôi lại ngờ câu phán đoán của mình. Tôi thấy anh rất khó hiểu. Tôi ngỏ ý ấy. Anh Thùy nói:

- Tại sao khi các anh chơi với ai, lại cứ muốn hiểu rõ người ta, và nhất là lại cứ muốn người ta giống mình? Tôi, thì tôi cho rằng không gì chán bằng biết rõ một người, biết điều họ nghĩ, đoán trước được việc họ làm. Tưởng hiểu một người, rồi đột nhiên thấy họ có một hành vi khác hẳn với phỏng đoán của mình, thấy những điều mới lạ trong một tâm hồn thường ở bên mình mà mình không ngờ đến, còn gì thú bằng? Cuộc đời sẽ phong phú biết bao? Trai gái, những cặp nhân tình sẽ không bao giờ chán nản, bỏ nhau, vì họ có dịp luôn luôn kính nhường người mới.

Nói chuyện với anh Thùy tôi thường thấy tưng tức khó chịu. Tôi không đánh đổ được ý kiến của anh, tôi không hẳn cho là những giả thuyết, hoặc những lời ngụy biện của một tâm hồn đã chán chường, hoặc quá vị kỷ, nhưng tôi thấy nó đột ngột, sống sượng, không thích hợp với cõi đời này mà ai ai cũng cần che đậy những ý nghĩ của thâm tâm, cho lời giao thiệp thêm lịch sự. Có lần tôi bất bình nói với anh giọng như gắt:

- Lý thuyết của anh chỉ thích hợp khi nào trên thế giới không còn ai, chỉ có một mình anh, hoặc lùi lại mười thế kỷ, chứ còn sống ở xã hội này, chung đụng với mọi người, thì tôi e rằng những tư tưởng ấy chỉ có hại cho anh thôi.

Anh mỉm cười ra ý không tin. Quả nhiên những lời tôi nói thành sự thực.

Đầu tiên thầy đẻ anh Thùy không bằng lòng đứa con ngỗ nghịch, không chịu theo lễ giáo của gia đình. Tính tình quá tự do của anh, như một con chim, muốn đập cánh bay khỏi vòng kiềm thúc; anh bỏ gia đình, ra Hà Nội định tự lập. Bắt đầu, anh thuê một căn nhà rất lịch sự giữa thành phố, rồi dần dần thu lại một túp lều ở ngoại ô. Công việc của anh không có kết quả, nó đều đi trái với đường anh dự tính. Các bè bạn lảng dần. Những lúc gặp nhau ngoài phố, ở những chỗ chơi bời, họ vẫn niềm nở chuyện trò, nhưng cần đến họ để mưu tính công việc gì, thì không ai thật lòng cộng tác với anh. Anh gặp toàn những sự thất bại. Anh như oán hận mọi người không hiểu anh, đời bạc đãi anh, tính anh sinh gay gắt, và càng khó chịu thêm. Nhiều lúc anh có những lời ngụy biện rất tai ác, chỉ cốt lấy cái thú ranh mãnh tỏ cho người kia biết rằng anh không cùng tư tưởng với họ, và thường khi khinh cả những điều họ nghĩ. Riêng tôi, tôi thấy sau thái độ bướng bỉnh, ương ngạnh ấy một nỗi chán nản nó ngầm đục tâm hồn chậm chạp và chắc chắn, như một dòng nước phá chân một bức tường.

Nói chuyện với anh Thùy, tôi thường thấy tưng tức. Tôi lại thăm anh Thùy. Mới đẩy cổng đã thấy tiếng anh:

- Nhà triết học của tôi đã đến. Hay quá, tôi đang mong anh.

Anh Thùy nằm võng, một quyển sách úp trên ngực. Tôi ngồi xuống mép phản, cầm lấy quyển sách ngắm nghía. Đấy là một trong mười quyển sách quý của anh, đắt tiền và đóng bằng da mềm, phơn phớt xanh, rất mỹ thuật. Nhiều lần tôi ao ước có được một tủ sách như thế, và mỗi khi đến chơi với anh Thùy, tôi không quên lại góc buồng lấy một cuốn cầm ở tay trong khi nói chuyện.


Anh Thùy hỏi tôi:

- Anh ưa mấy quyển ấy lắm à? Thế để tôi biếu anh.

Tôi ngạc nhiên, không tin rằng anh có thể rời chúng ra dễ dàng thế. Anh Thùy đi lấy chồng sách, lấy bút máy đề biếu tôi vào các trang đầu:

- Tôi thấy anh yêu sách đẹp. Chúng vào tay anh cũng được chiều chuộng, quý hóa. Tôi không giữ được chúng nữa. Để thất lạc đi thì uổng.

Tôi ân hận rằng lúc ấy chỉ để ý đến mấy quyển sách. Tôi không thấy anh vui vẻ quá, có thể cho người ta ngờ vực. Tôi tưởng anh định đi chơi đâu xa, mà không muốn mang nhiều hành lý.

Anh Thùy đi biệt, và không mang chút hành lý nào: hai hôm sau, tôi được tin anh tự tử.

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội, 1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu13.htm




Anh Thùy

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 08-09.

Anh Thùy


Đi đưa đám ma anh Thùy về, tôi tự thấy bâng khuâng và vơ vẩn. Không phải buồn, không phải thương: nhưng là một cảm giác chán nản về mệt mỏi, như khi người ta thấy chung quanh mình trống rỗng, những quan niệm của mình đổ sụp, những tín ngưỡng bỗng nhiên không còn nghĩa lý gì.


Tôi không hiểu ý nghĩa cái chết của anh Thùy. Nó do những sự chán nản chồng chất từ lâu, hay do một lúc không tĩnh trí? Có khi chỉ vì một cớ cỏn con mà người ta làm những việc to tát, và đời một người tự sát chưa chắc là đã có thảm kịch.

Tôi gặp anh trong một đám ma, và lúc biết nhau là lúc tôi đưa đám ma anh. Ngẫu nhiên, tôi so sánh hai đám tang: một đằng nhộn nhịp linh đình, các vòng hoa tươi tốt rũ hương lại phía sau, người đi đưa nối dài hàng trăm thước; một đằng là hai con ngựa gầy kéo cái xe đã cũ, quan tài phủ miếng vải đen đã bạc và mấy người thưa thớt theo sau. Anh Thùy rất ít bạn; họ đã như tôi; không hiểu anh và không có gan, hoặc tính hiếu kỳ như tôi, xa anh đã lâu.

Hai năm trước, tôi đi đưa ma anh Ninh, đám tang cử hành từ sáng sớm, trùng trình tới mười giờ mà chưa ra khỏi thành phố. Chúng tôi - những người đi đưa - trịnh trọng dần từng bước ngắn theo sau xe tang, mũ cầm ở tay tuy trời đã nắng gắt. Duy chỉ có một người đi bên trái tôi vẫn nghiễm nhiên đội mũ. Tôi thấy chướng mắt và thầm chê là vô lễ. Một lúc sau tôi thấy nắng rát ở gáy. Tôi lấy khăn mùi xoa giơ lên che, nhưng vẫn không đội mũ như muốn cho anh chàng kia hiểu rằng đội mũ là không lịch sự. Chàng quay nhìn tôi như muốn bảo "Nắng thế, có mũ sao không đội, lại đi che khăn mặt?", lấy một điếu thuốc lá ngậm vào miệng rồi hỏi tôi:

- Ông có diêm không?

Tôi đưa bao diêm và lại càng ghét thêm. Từ nãy, một người nhà đám thường bưng cơi trầu trong có bao thuốc lá đi mời từng người, nhưng tôi thấy ai cũng từ chối. Trong lúc kính cẩn nghiêm nghị ấy, phì phèo điếu thuốc lá như không tiện. Anh chàng điềm nhiên hút. Mùi khói thuốc ănglê thơm ngon sực nức và năm mươi bước sau, một nửa người đi đưa đã hút thuốc. Ra khỏi thành phố, xe tang đi mau hơn, người đi đưa cũng rảo bước. Nắng càng gắt, những chiếc mũ đã lên cả trên đầu. Người bên cạnh tôi như để ý đến sự phía trước. Theo tầm mắt hắn, tôi thấy một thiếu nữ chít khăn tang đi cạnh người quả phụ. Thiếu nữ thỉnh thỏang quay lại như tìm ai, và khi nhìn đến một thiếu niên đi bên phải tôi thì mắt dừng lại lâu một chút.

Khi đã quen Thùy, tôi nhắc lại chuyện hôm ấy. Anh cười nói:

- Tôi không hiểu vì lẽ gì tôi phải đi đầu trần dưới trời nắng chang chang và nhịn thèm khi có thuốc lá ngon trong túi. Tôi không muốn phải cảm; nếu anh không chịu được nắng thì việc gì anh bắt chước người ta? Thương anh Ninh hay không là một chuyện khác. Từ lúc tôi hút điếu thuốc, hình như thấy thương tiếc anh Ninh hơn lên. Trước kia anh vẫn cho tôi vay tiền mua thuốc, bây giờ nhỡ thiếu thuốc, không biết chạy đến ai?

Tôi phải khó chịu về câu nói đầy ý nghĩa "vị ngã". Tôi không muốn thấy một thiếu niên nhanh nhẹn, một vẻ mặt thông minh, lanh lợi, ích kỷ đến bực ấy. Anh Thùy nhận thấy tôi bất bình, ôn tồn tiếp.

- Tôi nói thế, anh cho là chướng lắm à? Dù sao tôi cũng đã có cảm tình với anh Ninh và đã dám nói ra. Có lẽ trong những người đi đưa hôm ấy, tôi thương anh Ninh hơn hết, và tự thương cả tôi sẽ thiếu thuốc lá. Tôi tự chắc mình thành thực hơn hết mọi người. Anh coi liệu có ai thật lòng thương anh Ninh không? Bắt đầu từ người vợ góa, một người đàn bà, quá tự kiêu vì nhan sắc, đã làm anh khốn khổ đến nỗi chỉ muốn lang thang suốt ngày để khỏi về nhà nhìn thấy mặt vợ. Anh có tin nước mắt người đàn bà ấy không? Hôm ấy như chị chàng khóc dữ lắm. Cô em gái đi đưa đám ma anh mà vẫn không quên liếc tình nhân, người con trai đi bên phải anh. Họ lợi dụng cả cái chết của người khác để gặp nhau, để đưa mắt, để khoe vẻ đẹp trong bộ quần áo tang. Còn các ông đi đưa nữa! Họ đạo mạo, nghiêm nghị, trịnh trọng nhận những cái ngả mũ của những người đi ngược lại chào xe tang như người ta chào mình. Họ đi thong thả, vì người cho thuê xe kìm bước ngựa cho đám thêm trịnh trọng và quảng cáo cho nhà mình. Anh có thì giờ nhìn chân người đi trước và đặt bước đúng bước họ. Ra khỏi tỉnh xem? Anh không còn kịp tránh những viên đá nhọn. "Trong khi ấy họ nghĩ đến gì? Đến anh Ninh? Chưa chắc. Họ nghĩ đến công việc của họ. Có người, mới ở nhà ả đào ra vội cho kịp đám ma, nghĩ đến tình nhân và chầu hát đêm qua, có người nhẩm tính xem bao giờ đưa xong để kịp về họp tổ tôm. Hoặc họ nghĩ đến anh Ninh nhưng chỉ đủ để nghĩ luôn sang người vợ góa trẻ và đẹp, thế nào rồi cũng tái giá. Có lẽ những ý nghĩ đó chung cho cả ngần ấy người, nhưng không ai dám nói ra. Họ như đã cùng bảo nhau giữ một vẻ mặt đạo mạo. Họ không hút thuốc, không đội mũ, nhưng khi nắng rát quá, và chung quanh mình thấy có người đội rồi thì họ chẳng còn ngần ngại gì. Khói thuốc lá thơm làm các cậu thèm, cũng móc thuốc ra hút. Anh xem? Nếu anh có thể vờ chết để thử tâm tình các người thân thích anh, thì tôi chắc rằng khi anh biết rõ rồi, anh sẽ muốn chết hẳn, không trở lại cõi đời này nữa!".

Hôm đưa đám, ngẫu nhiên tôi cũng có nhìn cô em anh Ninh, có thấy cô xinh đẹp và nghĩ... Bây giờ nghe lời anh Thùy, tôi lại thấy tự thẹn. Tôi ngượng nghịu bảo anh:

- Đã đành rằng thế. Trong thâm tâm, người ta có thể tha hồ nghĩ, nhiều khi rất nhảm nhí. Nhưng nói ra như anh, tất phải bạo lắm, can đảm lắm.

- Hay là đểu lắm, sao anh không nói? Tôi chắc anh nghĩ thế.

Tôi không dám cho anh hẳn là đểu, nhưng tôi vẫn thấy khó chịu về cách thật thà của anh. Đầu tiên tôi như thấy nó thô bỉ, sống sượng, nhiều lúc đến cục cằn. Có câu nghe đến phải ngượng tai, tôi phải ngượng và thẹn như cô gái đồng trinh vô tình nghe phải câu chuyện nhục dục.
Anh chàng vẫn tự nhiên phô diễn những ý tưởng của anh, nhiều lúc rất táo bạo. Anh không hề thấy ngượng mồm hay sợ mếch lòng ai. Các bạn anh, không chịu được lối sỗ sàng ấy, xa dần. Anh như không quan tâm, hình như không cần đến ai.

Duy tôi, tôi vẫn chơi với anh. Hình như tâm tính anh bổ khuyết cho tính rụt rè nhút nhát của tôi, nên mỗi ngày tôi lại gần anh thêm. Nhiều lúc tôi vui sướng thấy anh rất tự nhiên diễn tả một ý tôi thường nghĩ đến mà không tiện nói ra, vì nó táo bạo quá. Tôi lại gợi cho anh nói thêm; cố nhiên là anh sa vào lưới của tôi, nói luôn miệng, những câu làm tôi phải rùng mình.

Có lúc anh ăn nói cục cằn, sống sượng như một kẻ vô học. Tôi tưởng như tâm não anh không còn có ý nghĩ gì thanh cao nữa. Tôi không hề thấy anh cảm động, một lần chúng tôi đứng xem thi thể một người bị xe điện chẹt. Cái đầu lìa rời ra, thân chỉ còn là một đống thịt, xương máu, vò nhàu, trộn lẫn. Anh xem tỉ mỉ từng tí, lấy thuốc lá hút, rồi bảo tôi:

- Thịt mất máu, nhợt thế này giống như thịt cọp tôi đã ăn bít tết, nhạt và hoi. Thịt người chắc rằng có vị ấy.

Tôi cho là anh đã hư hỏng, hoặc cằn cỗi lắm. Nhưng ngay chiều hôm ấy, thấy anh đứng hàng giờ trên cầu Thê Húc, ngắm bóng trăng dưới hồ thì tôi lại ngờ câu phán đoán của mình. Tôi thấy anh rất khó hiểu. Tôi ngỏ ý ấy. Anh Thùy nói:

- Tại sao khi các anh chơi với ai, lại cứ muốn hiểu rõ người ta, và nhất là lại cứ muốn người ta giống mình? Tôi, thì tôi cho rằng không gì chán bằng biết rõ một người, biết điều họ nghĩ, đoán trước được việc họ làm. Tưởng hiểu một người, rồi đột nhiên thấy họ có một hành vi khác hẳn với phỏng đoán của mình, thấy những điều mới lạ trong một tâm hồn thường ở bên mình mà mình không ngờ đến, còn gì thú bằng? Cuộc đời sẽ phong phú biết bao? Trai gái, những cặp nhân tình sẽ không bao giờ chán nản, bỏ nhau, vì họ có dịp luôn luôn kính nhường người mới.

Nói chuyện với anh Thùy tôi thường thấy tưng tức khó chịu. Tôi không đánh đổ được ý kiến của anh, tôi không hẳn cho là những giả thuyết, hoặc những lời ngụy biện của một tâm hồn đã chán chường, hoặc quá vị kỷ, nhưng tôi thấy nó đột ngột, sống sượng, không thích hợp với cõi đời này mà ai ai cũng cần che đậy những ý nghĩ của thâm tâm, cho lời giao thiệp thêm lịch sự. Có lần tôi bất bình nói với anh giọng như gắt:

- Lý thuyết của anh chỉ thích hợp khi nào trên thế giới không còn ai, chỉ có một mình anh, hoặc lùi lại mười thế kỷ, chứ còn sống ở xã hội này, chung đụng với mọi người, thì tôi e rằng những tư tưởng ấy chỉ có hại cho anh thôi.

Anh mỉm cười ra ý không tin. Quả nhiên những lời tôi nói thành sự thực.

Đầu tiên thầy đẻ anh Thùy không bằng lòng đứa con ngỗ nghịch, không chịu theo lễ giáo của gia đình. Tính tình quá tự do của anh, như một con chim, muốn đập cánh bay khỏi vòng kiềm thúc; anh bỏ gia đình, ra Hà Nội định tự lập. Bắt đầu, anh thuê một căn nhà rất lịch sự giữa thành phố, rồi dần dần thu lại một túp lều ở ngoại ô. Công việc của anh không có kết quả, nó đều đi trái với đường anh dự tính. Các bè bạn lảng dần. Những lúc gặp nhau ngoài phố, ở những chỗ chơi bời, họ vẫn niềm nở chuyện trò, nhưng cần đến họ để mưu tính công việc gì, thì không ai thật lòng cộng tác với anh. Anh gặp toàn những sự thất bại. Anh như oán hận mọi người không hiểu anh, đời bạc đãi anh, tính anh sinh gay gắt, và càng khó chịu thêm. Nhiều lúc anh có những lời ngụy biện rất tai ác, chỉ cốt lấy cái thú ranh mãnh tỏ cho người kia biết rằng anh không cùng tư tưởng với họ, và thường khi khinh cả những điều họ nghĩ. Riêng tôi, tôi thấy sau thái độ bướng bỉnh, ương ngạnh ấy một nỗi chán nản nó ngầm đục tâm hồn chậm chạp và chắc chắn, như một dòng nước phá chân một bức tường.

Nói chuyện với anh Thùy, tôi thường thấy tưng tức. Tôi lại thăm anh Thùy. Mới đẩy cổng đã thấy tiếng anh:

- Nhà triết học của tôi đã đến. Hay quá, tôi đang mong anh.

Anh Thùy nằm võng, một quyển sách úp trên ngực. Tôi ngồi xuống mép phản, cầm lấy quyển sách ngắm nghía. Đấy là một trong mười quyển sách quý của anh, đắt tiền và đóng bằng da mềm, phơn phớt xanh, rất mỹ thuật. Nhiều lần tôi ao ước có được một tủ sách như thế, và mỗi khi đến chơi với anh Thùy, tôi không quên lại góc buồng lấy một cuốn cầm ở tay trong khi nói chuyện.


Anh Thùy hỏi tôi:

- Anh ưa mấy quyển ấy lắm à? Thế để tôi biếu anh.

Tôi ngạc nhiên, không tin rằng anh có thể rời chúng ra dễ dàng thế. Anh Thùy đi lấy chồng sách, lấy bút máy đề biếu tôi vào các trang đầu:

- Tôi thấy anh yêu sách đẹp. Chúng vào tay anh cũng được chiều chuộng, quý hóa. Tôi không giữ được chúng nữa. Để thất lạc đi thì uổng.

Tôi ân hận rằng lúc ấy chỉ để ý đến mấy quyển sách. Tôi không thấy anh vui vẻ quá, có thể cho người ta ngờ vực. Tôi tưởng anh định đi chơi đâu xa, mà không muốn mang nhiều hành lý.

Anh Thùy đi biệt, và không mang chút hành lý nào: hai hôm sau, tôi được tin anh tự tử.

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội, 1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu13.htm



NN210 - "Nhà bên kia" - Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu *

Nhà bên kia

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.


Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.

Nhà bên kia


Quý dùng thời giờ nhàn rỗi một cách kỳ khôi: uống cà phê, hút thuốc lá và nhìn sang nhà trước cửa. Anh chàng lại nhiều thì giờ rỗi, nên lúc nào cũng thấy ngồi cạnh chiếc bàn sát cửa sổ trông ra đường, trước cốc cà phê lạnh đen hơn nước thuốc bắc, mặt bàn đầy tàn thuốc lá, thành các đống con lổn nhổn như cồn cát ngoài bãi bể.
Quý ngồi trầm ngâm hàng giờ. Anh chàng thường cầm một tờ báo, hay một quyển sách mà không bao giờ đọc. Cầm lấy cớ, cho không ai ngờ mình. Người vô ý chỉ cho Quý là một hạng nhàn rỗi, hút thuốc đọc sách tiêu thì giờ. Và nét mặt Quý hiền lành lắm, không có vẻ tư lự gì, lắm lúc mắt lim dim như ngủ gật. Nhưng đó là giấc ngủ của con mèo già trước cái hang chuột.

Anh chàng ngồi rình nhà trước cửa. Hai nhà chỉ cách nhau một con đường vừa hai chiếc xe tay tránh nhau. ở trong ngõ sâu nên ít người qua lại. Trông sang rõ lắm: hai cái cửa thường mở để thấy rõ hết các đồ đạc trong nhà. Quý biết từ chỗ cái đồng hồ báo thức, cái lọ hoa và trong cái khung lớn trên tường, Quý biết là hình một người đàn ông đứng tuổi, có bộ râu cong như tay lái xe đạp, những lúc im lặng Quý nghe thấy cả những tiếng tích tắc đồng hồ bên kia.

Có người cho đấy là một tính tò mò đáng chê. Các ông khó tính quá. Tại sao mà đáng chê? Hay tại các ông thấy đời mình có nhiều điều muốn giấu? Cuộc đời bao nhiêu chuyện hay, mà chỉ vì vô tình với việc quanh mình nên bỏ mất. Quí, một tâm hồn đã chán chường, ngồi cửa sổ trông sang bên kia, như ngồi trong chiếc ghế nhà chiếu bóng, xem một cuốn phim theo với thời gian, không bao giờ hết.

Những người ở bên kia, một hạng người mà cách sống thường biểu lộ cả ra ngoài cử chỉ, không ngờ có cặp mắt tò mò mà ranh mãnh vẫn nhìn mình.

*
* *

Người đàn ông, anh chồng dắt xe đạp đi. Cánh cửa khép lại. Quý đoán cô vợ đang thay quần áo để đi chợ, như mọi sáng. Nhà bên ấy có ba người, một đôi vợ chồng trẻ và một con ở. Theo cách ăn mặc thì anh chồng như làm ở một nhà buôn nào. Vợ như một cô gái nhảy, nhí nhảnh và cười suốt ngày. Họ như yêu nhau lắm. Những lúc cả hai vợ chồng ở nhà, là lúc Quý ưa ngồi nhìn sang nhất, chàng phải kéo cái màn cửa sổ để họ khỏi thấy mình. Có khi đang ăn họ cũng buông đũa bát nô giỡn, vật nhau xuống cái đi văng gần đấy, cô vợ cười như có người cù. Nhìn họ yêu nhau, Quý cũng thấy vui vẻ, cái vui thanh cao của người không vị kỷ, chỉ cần thấy hạnh phúc ở người khác.


Cửa sổ mở: cô vợ mặc cái áo mạ non, đi lăng xăng trong nhà, lắm lúc bị che khuất vì vào nhà trong hay ra ngoài khung cửa. Quý đoán cô đi lấy tiền. Một lát sau, cái nắm cửa ra vào động đậy; cô con gái vừa ra thì gặp ngay một người đàn ông đi đến. Người này Quý đã thấy đến chơi bên ấy nhiều lần, có lẽ là bạn người chồng. Người con gái không đi chợ nữa, họ quay cả vào nhà. Quý thấy hai nửa người nói chuyện, cách nhau một cái bàn. Họ nói nhỏ quá như nói thầm. Cô con gái vào nhà trong một lúc, rồi thấy người ở xách giỏ mây đi.

Có lẽ người con gái không đi chợ vì có khách. Nhưng sao họ lại đóng cả cửa? Một bàn tay vừa thò ra kéo cánh cửa sổ. Cánh cửa đập một tiếng gỗ khô, cái nhà kín mít, lạnh lùng. Im một lúc, rồi Quý nghe thấy tiếng cười chàng vẫn thường được nghe, lúc vợ chồng họ đùa nhau, nhưng lần này tiếng cười bị bịt ngay lại. Rồi im.

Đúng một giờ sau, cánh cửa mở hé, đầu người đàn bà thò ra nhìn quanh rồi người đàn ông ban nãy chạy vội ra, đi khỏi mấy nhà, anh chàng mới từ từ bước, huýt sáo coi bộ ung dung lắm. Lúc người ở xách giỏ về thì mọi cửa đã mở. Chị chàng ngồi đan len, trong nhà như không có chuyện gì.

Quý vừa trông thấy, hay nói cho đúng hơn, vừa "nghe" thấy một chuyện ngoại tình. Từ đấy, Quý thấy vẻ mặt người đàn bà "gian" lắm. Chàng ngạc nhiên sao không thấy vẻ đó từ trước. Biết được câu chuyện ấy, Quý cũng tự thấy mình gian nữa. Nhưng biết sao? Mách người chồng? Viết thư nặc danh? Quý mỉm cười vì những ý nghĩ ngốc nghếch. Ai mượn chàng làm những việc ấy? Người ta yêu nhau thì liên can gì đến chàng, một anh chỉ ngồi ro ró trong cửa sổ uống cà phê nguội, và đốt thuốc lá? Người có quyền nhất là người chồng. Họ không giữ được hạnh phúc của họ thì... mặc!

Nghĩ vậy, nhưng Quý vẫn thấy tưng tức thương hại anh chồng bị tình phụ. Quý thấy anh ta ngu ngốc lạ. Anh chàng vẫn yêu Quý vợ, họ vẫn đùa nhau, vật nhau, cô ả vẫn cười. Ngồi bên này, qua tấm màn cửa mỏng, Quý vẫn trông thấy những cử chỉ âu yếm. Quý muốn kêu to bảo người chồng: "Vợ anh có nhân tình đấy, nhân tình với người bạn anh, người vẫn đến đây chơi. Anh trông mặt nó xem, có phải gian lắm không? Ngay sáng nay tình nhân nó còn đến ngay đây. Anh nhìn đệm, gối xem, có khác sáng ngày, lúc anh đi không? Nó giả dối lắm, con người ấy thì yêu làm gì, nên đánh cho một trận rồi đuổi đi."

Quý thấy như những đồ vật trong nhà trước cửa đều có ý mách người chồng lỗi của cô vợ. Gối đệm, ghế ngồi, ấm chén, vật nào cũng như có giữ lại một ít tang chứng. Nhất là cái gương soi, như chàng đã lặng lẽ nhìn cặp nhân tình. Cái gương treo chênh chếch trên tường ngay cuối đi văng chắc còn biết nhiều chuyện kín đáo hơn.



Quý đoán thấy câu chuyện sắp đến lúc hay. Không lẽ anh chồng gà mờ mãi. Trong những trường hợp này, người chồng bao giờ cũng biết sau cùng, nhưng thường thế nào rồi cũng biết. Tấn kịch càng dài, càng hay, Quý càng thấy nhiều cảm giác lạ. Chàng chỉ việc mua một gói thuốc lá ngon, ngồi chờ.

Một ý tưởng lạ và ngộ nghĩnh ấy nảy ra trong trí chàng: chàng thấy mình như là đồng đảng của đôi nhân tình, không những chỉ ngồi nhìn, chàng lại còn như về hùa với họ để lừa dối anh chồng xấu số. Những hôm người tình nhân không đến, Quý bực mình như chàng đã bỏ phí mất một ngày có lẽ chàng mong hơn người đàn bà mà mới mấy hôm trước đây chàng còn cho là bất chính. Bây giờ chàng không thấy gì là bất chính cả; người nhân ngãi mới là người đáng cô yêu. Vì lẽ gì, Quý không biết, chàng chỉ lờ mờ thấy có thiện cảm với người tình nhân hơn với người chồng. Khi cặp trai gái ở trong nhà, cửa đã đóng kín, Quý như ngồi canh cho họ, mắt dán vào cánh cửa, chàng đếm từng phút, từng giây, để ý đến hết thảy mọi người đi qua, như những người này có thể làm phiền được họ. Có lúc gặp người con gái ở lối đi mắt chàng như nói: "Tôi biết rõ cả, nhưng cô đừng lo. Cứ yêu nhau đi, đã có tôi che chở cho".

Sự che chở của Quý cũng không ngăn được, câu chuyện vỡ lở, vỡ lở giữa lúc Quí, cũng như đôi kia, không ngờ đến. Sao anh chồng biết, có ai mách? Thiên hạ thiếu gì người ăn không ngồi rồi, những "ông Ký Cóp"1 chỉ quen can thiệp đến những việc không dính dáng tới mình. Họ còn cho là bổn phận của họ thế: dẹp những nỗi bất bình giữa đường như Đôngkisốt.

Người chồng đi làm, con ở đi chợ; anh nhân tình đã lộn vào. Bên này Quý đã châm thuốc lá, ngồi canh cửa. Mười lăm phút sau anh chồng dắt xe đạp về.

Hắn đi vội lắm, cái xe chệch choạc không thẳng đường. Quý đứng phắt dậy, như muốn ra ngăn lại. Không kịp. Hắn đã đến trước cửa, vứt cái xe đạp vào tường, đến xoay mạnh nắm cửa. Một phút yên lặng: Quý thấy mạch máu căng ra, và nghe tiếng trái tim mình đập. Bọn kia làm gì trong nhà? Chắc người đàn bà mắt lạc đi, nói không ra tiếng: "Thôi chết! Nhà tôi về..."

Người chồng một tay quay quả nắm, một tay đấm mạnh vào cửa. Thằng khả ố tệ, làm rầm rầm, không nể gì hàng xóm. Chừng không đợi được nữa. Hắn hích mạnh vai phá cửa, vào trong nhà.

Quý đã đứng dậy, đứng sát mũi vào cửa kính, điếu thuốc lá đã cháy đến ngón tay. Một tiếng ầm như cái bàn đổ, lẫn tiếng ấm chén vỡ xuống gạch, một người đàn ông, mặc quần đùi, tay ôm một đống quần áo chạy vọt ra, chạy nhanh đến nỗi Quý không nhìn rõ mặt, chỉ thấy cái sơ mi dài bay đằng sau như cái đuôi. Người chồng chạy ra sau nhưng không đuổi kịp lại quay về.

Thế rồi mọi người ở đâu kéo đến. Bắt đầu là trẻ con; chúng đứng đầy trước cửa, rồi đến người nhớn quây vòng ngoài. Quý chỉ còn thấy lố nhố những đầu người che kín hai cái cửa, nghé xem tấn kịch diễn trong nhà. Nhiều khi đi xem kịch, cảnh trên sân khấu lại không hay bằng cảnh dưới: những người xem. Quý ngắm họ và nghe. Những tiếng gầm ghè, gào thét như trong một nhà thương điên. Anh chồng ghen có lẽ điên thực. Tiếng quát tháo nhỏ đi lui vào phía trong. Quý đoán người vợ vào nhà trong, anh chồng theo vào. Rồi tiếng ấy lại dồn ra ngoài, mạnh hơn. Bát đĩa choang choang đập vào tường, tiếng đánh đập huỳnh huỵch. Chị vợ không thấy kêu một tiếng nào. Quý phục cái can đảm ấy. Phải, việc gì mà kêu? Mình phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Quý cũng không chê anh chồng: hắn có quyền giữ gìn hạnh phúc, trừng phạt người vợ có tội. Nhưng Quý thấy hắn vũ phu quá, sao không dùng cách khác, lịch sự, kín đáo hơn?

Buổi chiều hôm ấy, chỉ thấy một mình anh chồng ngồi ăn cơm. Anh chàng chỉ ăn một bát rồi đứng lên đi chơi. Một lát sau mới thấy chị vợ ra, mặt mũi thâm tím, chị chàng sai con ở đi mua quà, rồi ăn rất ngon lành. Lúc chồng về họ giáp mặt nhau. Quý thấy buồn tẻ ngắt. Hai người dưng nhìn nhau cũng không đến nỗi lạnh lùng như thế. Cái lạnh lẽo như tràn cả sang bên này. Quý thấy khó chịu không muốn nhìn nữa. Chàng mặc áo đi xem chiếu bóng.

Hai hôm sau, họ đã cùng ngồi ăn với nhau.

Trên bàn thấy có bát đĩa mới, và họ cười, vật nhau xuống đi văng. Cô gái cười như có người cù. Có lẽ chỉ còn Quí, người làm chứng lặng lẽ, nhớ lại câu chuyện vừa qua. Và anh chàng mặc quần đùi, ôm quần áo chạy...

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội,1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu08.htm



Nhà bên kia

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.


Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 210 - 01/06/1940, Tr. 08-09.

Nhà bên kia


Quý dùng thời giờ nhàn rỗi một cách kỳ khôi: uống cà phê, hút thuốc lá và nhìn sang nhà trước cửa. Anh chàng lại nhiều thì giờ rỗi, nên lúc nào cũng thấy ngồi cạnh chiếc bàn sát cửa sổ trông ra đường, trước cốc cà phê lạnh đen hơn nước thuốc bắc, mặt bàn đầy tàn thuốc lá, thành các đống con lổn nhổn như cồn cát ngoài bãi bể.
Quý ngồi trầm ngâm hàng giờ. Anh chàng thường cầm một tờ báo, hay một quyển sách mà không bao giờ đọc. Cầm lấy cớ, cho không ai ngờ mình. Người vô ý chỉ cho Quý là một hạng nhàn rỗi, hút thuốc đọc sách tiêu thì giờ. Và nét mặt Quý hiền lành lắm, không có vẻ tư lự gì, lắm lúc mắt lim dim như ngủ gật. Nhưng đó là giấc ngủ của con mèo già trước cái hang chuột.

Anh chàng ngồi rình nhà trước cửa. Hai nhà chỉ cách nhau một con đường vừa hai chiếc xe tay tránh nhau. ở trong ngõ sâu nên ít người qua lại. Trông sang rõ lắm: hai cái cửa thường mở để thấy rõ hết các đồ đạc trong nhà. Quý biết từ chỗ cái đồng hồ báo thức, cái lọ hoa và trong cái khung lớn trên tường, Quý biết là hình một người đàn ông đứng tuổi, có bộ râu cong như tay lái xe đạp, những lúc im lặng Quý nghe thấy cả những tiếng tích tắc đồng hồ bên kia.

Có người cho đấy là một tính tò mò đáng chê. Các ông khó tính quá. Tại sao mà đáng chê? Hay tại các ông thấy đời mình có nhiều điều muốn giấu? Cuộc đời bao nhiêu chuyện hay, mà chỉ vì vô tình với việc quanh mình nên bỏ mất. Quí, một tâm hồn đã chán chường, ngồi cửa sổ trông sang bên kia, như ngồi trong chiếc ghế nhà chiếu bóng, xem một cuốn phim theo với thời gian, không bao giờ hết.

Những người ở bên kia, một hạng người mà cách sống thường biểu lộ cả ra ngoài cử chỉ, không ngờ có cặp mắt tò mò mà ranh mãnh vẫn nhìn mình.

*
* *

Người đàn ông, anh chồng dắt xe đạp đi. Cánh cửa khép lại. Quý đoán cô vợ đang thay quần áo để đi chợ, như mọi sáng. Nhà bên ấy có ba người, một đôi vợ chồng trẻ và một con ở. Theo cách ăn mặc thì anh chồng như làm ở một nhà buôn nào. Vợ như một cô gái nhảy, nhí nhảnh và cười suốt ngày. Họ như yêu nhau lắm. Những lúc cả hai vợ chồng ở nhà, là lúc Quý ưa ngồi nhìn sang nhất, chàng phải kéo cái màn cửa sổ để họ khỏi thấy mình. Có khi đang ăn họ cũng buông đũa bát nô giỡn, vật nhau xuống cái đi văng gần đấy, cô vợ cười như có người cù. Nhìn họ yêu nhau, Quý cũng thấy vui vẻ, cái vui thanh cao của người không vị kỷ, chỉ cần thấy hạnh phúc ở người khác.


Cửa sổ mở: cô vợ mặc cái áo mạ non, đi lăng xăng trong nhà, lắm lúc bị che khuất vì vào nhà trong hay ra ngoài khung cửa. Quý đoán cô đi lấy tiền. Một lát sau, cái nắm cửa ra vào động đậy; cô con gái vừa ra thì gặp ngay một người đàn ông đi đến. Người này Quý đã thấy đến chơi bên ấy nhiều lần, có lẽ là bạn người chồng. Người con gái không đi chợ nữa, họ quay cả vào nhà. Quý thấy hai nửa người nói chuyện, cách nhau một cái bàn. Họ nói nhỏ quá như nói thầm. Cô con gái vào nhà trong một lúc, rồi thấy người ở xách giỏ mây đi.

Có lẽ người con gái không đi chợ vì có khách. Nhưng sao họ lại đóng cả cửa? Một bàn tay vừa thò ra kéo cánh cửa sổ. Cánh cửa đập một tiếng gỗ khô, cái nhà kín mít, lạnh lùng. Im một lúc, rồi Quý nghe thấy tiếng cười chàng vẫn thường được nghe, lúc vợ chồng họ đùa nhau, nhưng lần này tiếng cười bị bịt ngay lại. Rồi im.

Đúng một giờ sau, cánh cửa mở hé, đầu người đàn bà thò ra nhìn quanh rồi người đàn ông ban nãy chạy vội ra, đi khỏi mấy nhà, anh chàng mới từ từ bước, huýt sáo coi bộ ung dung lắm. Lúc người ở xách giỏ về thì mọi cửa đã mở. Chị chàng ngồi đan len, trong nhà như không có chuyện gì.

Quý vừa trông thấy, hay nói cho đúng hơn, vừa "nghe" thấy một chuyện ngoại tình. Từ đấy, Quý thấy vẻ mặt người đàn bà "gian" lắm. Chàng ngạc nhiên sao không thấy vẻ đó từ trước. Biết được câu chuyện ấy, Quý cũng tự thấy mình gian nữa. Nhưng biết sao? Mách người chồng? Viết thư nặc danh? Quý mỉm cười vì những ý nghĩ ngốc nghếch. Ai mượn chàng làm những việc ấy? Người ta yêu nhau thì liên can gì đến chàng, một anh chỉ ngồi ro ró trong cửa sổ uống cà phê nguội, và đốt thuốc lá? Người có quyền nhất là người chồng. Họ không giữ được hạnh phúc của họ thì... mặc!

Nghĩ vậy, nhưng Quý vẫn thấy tưng tức thương hại anh chồng bị tình phụ. Quý thấy anh ta ngu ngốc lạ. Anh chàng vẫn yêu Quý vợ, họ vẫn đùa nhau, vật nhau, cô ả vẫn cười. Ngồi bên này, qua tấm màn cửa mỏng, Quý vẫn trông thấy những cử chỉ âu yếm. Quý muốn kêu to bảo người chồng: "Vợ anh có nhân tình đấy, nhân tình với người bạn anh, người vẫn đến đây chơi. Anh trông mặt nó xem, có phải gian lắm không? Ngay sáng nay tình nhân nó còn đến ngay đây. Anh nhìn đệm, gối xem, có khác sáng ngày, lúc anh đi không? Nó giả dối lắm, con người ấy thì yêu làm gì, nên đánh cho một trận rồi đuổi đi."

Quý thấy như những đồ vật trong nhà trước cửa đều có ý mách người chồng lỗi của cô vợ. Gối đệm, ghế ngồi, ấm chén, vật nào cũng như có giữ lại một ít tang chứng. Nhất là cái gương soi, như chàng đã lặng lẽ nhìn cặp nhân tình. Cái gương treo chênh chếch trên tường ngay cuối đi văng chắc còn biết nhiều chuyện kín đáo hơn.



Quý đoán thấy câu chuyện sắp đến lúc hay. Không lẽ anh chồng gà mờ mãi. Trong những trường hợp này, người chồng bao giờ cũng biết sau cùng, nhưng thường thế nào rồi cũng biết. Tấn kịch càng dài, càng hay, Quý càng thấy nhiều cảm giác lạ. Chàng chỉ việc mua một gói thuốc lá ngon, ngồi chờ.

Một ý tưởng lạ và ngộ nghĩnh ấy nảy ra trong trí chàng: chàng thấy mình như là đồng đảng của đôi nhân tình, không những chỉ ngồi nhìn, chàng lại còn như về hùa với họ để lừa dối anh chồng xấu số. Những hôm người tình nhân không đến, Quý bực mình như chàng đã bỏ phí mất một ngày có lẽ chàng mong hơn người đàn bà mà mới mấy hôm trước đây chàng còn cho là bất chính. Bây giờ chàng không thấy gì là bất chính cả; người nhân ngãi mới là người đáng cô yêu. Vì lẽ gì, Quý không biết, chàng chỉ lờ mờ thấy có thiện cảm với người tình nhân hơn với người chồng. Khi cặp trai gái ở trong nhà, cửa đã đóng kín, Quý như ngồi canh cho họ, mắt dán vào cánh cửa, chàng đếm từng phút, từng giây, để ý đến hết thảy mọi người đi qua, như những người này có thể làm phiền được họ. Có lúc gặp người con gái ở lối đi mắt chàng như nói: "Tôi biết rõ cả, nhưng cô đừng lo. Cứ yêu nhau đi, đã có tôi che chở cho".

Sự che chở của Quý cũng không ngăn được, câu chuyện vỡ lở, vỡ lở giữa lúc Quí, cũng như đôi kia, không ngờ đến. Sao anh chồng biết, có ai mách? Thiên hạ thiếu gì người ăn không ngồi rồi, những "ông Ký Cóp"1 chỉ quen can thiệp đến những việc không dính dáng tới mình. Họ còn cho là bổn phận của họ thế: dẹp những nỗi bất bình giữa đường như Đôngkisốt.

Người chồng đi làm, con ở đi chợ; anh nhân tình đã lộn vào. Bên này Quý đã châm thuốc lá, ngồi canh cửa. Mười lăm phút sau anh chồng dắt xe đạp về.

Hắn đi vội lắm, cái xe chệch choạc không thẳng đường. Quý đứng phắt dậy, như muốn ra ngăn lại. Không kịp. Hắn đã đến trước cửa, vứt cái xe đạp vào tường, đến xoay mạnh nắm cửa. Một phút yên lặng: Quý thấy mạch máu căng ra, và nghe tiếng trái tim mình đập. Bọn kia làm gì trong nhà? Chắc người đàn bà mắt lạc đi, nói không ra tiếng: "Thôi chết! Nhà tôi về..."

Người chồng một tay quay quả nắm, một tay đấm mạnh vào cửa. Thằng khả ố tệ, làm rầm rầm, không nể gì hàng xóm. Chừng không đợi được nữa. Hắn hích mạnh vai phá cửa, vào trong nhà.

Quý đã đứng dậy, đứng sát mũi vào cửa kính, điếu thuốc lá đã cháy đến ngón tay. Một tiếng ầm như cái bàn đổ, lẫn tiếng ấm chén vỡ xuống gạch, một người đàn ông, mặc quần đùi, tay ôm một đống quần áo chạy vọt ra, chạy nhanh đến nỗi Quý không nhìn rõ mặt, chỉ thấy cái sơ mi dài bay đằng sau như cái đuôi. Người chồng chạy ra sau nhưng không đuổi kịp lại quay về.

Thế rồi mọi người ở đâu kéo đến. Bắt đầu là trẻ con; chúng đứng đầy trước cửa, rồi đến người nhớn quây vòng ngoài. Quý chỉ còn thấy lố nhố những đầu người che kín hai cái cửa, nghé xem tấn kịch diễn trong nhà. Nhiều khi đi xem kịch, cảnh trên sân khấu lại không hay bằng cảnh dưới: những người xem. Quý ngắm họ và nghe. Những tiếng gầm ghè, gào thét như trong một nhà thương điên. Anh chồng ghen có lẽ điên thực. Tiếng quát tháo nhỏ đi lui vào phía trong. Quý đoán người vợ vào nhà trong, anh chồng theo vào. Rồi tiếng ấy lại dồn ra ngoài, mạnh hơn. Bát đĩa choang choang đập vào tường, tiếng đánh đập huỳnh huỵch. Chị vợ không thấy kêu một tiếng nào. Quý phục cái can đảm ấy. Phải, việc gì mà kêu? Mình phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Quý cũng không chê anh chồng: hắn có quyền giữ gìn hạnh phúc, trừng phạt người vợ có tội. Nhưng Quý thấy hắn vũ phu quá, sao không dùng cách khác, lịch sự, kín đáo hơn?

Buổi chiều hôm ấy, chỉ thấy một mình anh chồng ngồi ăn cơm. Anh chàng chỉ ăn một bát rồi đứng lên đi chơi. Một lát sau mới thấy chị vợ ra, mặt mũi thâm tím, chị chàng sai con ở đi mua quà, rồi ăn rất ngon lành. Lúc chồng về họ giáp mặt nhau. Quý thấy buồn tẻ ngắt. Hai người dưng nhìn nhau cũng không đến nỗi lạnh lùng như thế. Cái lạnh lẽo như tràn cả sang bên này. Quý thấy khó chịu không muốn nhìn nữa. Chàng mặc áo đi xem chiếu bóng.

Hai hôm sau, họ đã cùng ngồi ăn với nhau.

Trên bàn thấy có bát đĩa mới, và họ cười, vật nhau xuống đi văng. Cô gái cười như có người cù. Có lẽ chỉ còn Quí, người làm chứng lặng lẽ, nhớ lại câu chuyện vừa qua. Và anh chàng mặc quần đùi, ôm quần áo chạy...

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội,1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu08.htm



NN196 - "Gác cho thuê" - Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu *


Gác cho thuê

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.


Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Gác cho thuê




Khôi đang lúc cần, và nhà cho thuê rất hiếm, nên chàng phải bằng lòng cái gác đó. Nhà dưới là một cửa hàng tạp hóa, hơi chật, lủng củng những đồ đạc. Một lối đi hẹp, lách vào bên trong là chỗ cầu thang lên gác. Gian gác vuông vắn, kê được độ bốn cái giường. Phía trông ra phố có một cái cửa sổ, lúc nào cũng đóng để tránh bụi, thành bên trong tối tăm và ẩm. Lúc mặt trời gần đứng bóng, mới thấy mấy ô ánh nắng ở chỗ nóc để hở, lắp kính chiếu xuống.
Mở cửa sổ đằng trước, cũng không có cảnh gì đẹp. Mái hiên nhà dưới thè ra che một nửa phố. Mấy chiếc cửa sổ của gác nhà phía trước, một cột xi măng chằng chịt những dây điện, một cành cây vươn ngang qua, mà ít khi có chim đến đậu, hoặc gió đến lung lay.

Mấy tháng nay Khôi lang thang ở Hà Nội, không có chỗ ở nhất định. Ngày ngày lượn quanh phố, lúc đói vào ăn ở bất cứ hiệu cao lâu, hiệu phở nào. Tối ngủ ở tiệm hút, nhà ả đào hay nhà anh em bạn. Một chiếc va ly gửi người quen, thỉnh thỏang Khôi về tắm rửa, thay quần áo, rồi lại đi.

Các bạn Khôi xem ý thích lối sống ấy. Họ cho thế mới hợp với tâm hồn nghệ sĩ, không bị ràng buộc. Nhưng ít lâu nay, mỗi lần họ ca tụng cách sống của chàng, Khôi lại có nụ cười hoài nghi và chán nản. Khôi thấy ngày giờ trôi phí nhiều, và tiêu tốn. Chàng nhẩm tính mấy tháng sau mới lấy được bản quyền một quyển sách mới. Ăn uống thất thường làm người yếu dần. Chàng nghĩ đến thuê nhà, để có chỗ làm việc nhất định.

*
* *

Khôi đang lúc cần, và nhà cho thuê rất hiếm, nên chàng phải bằng lòng cái gác đó. Chủ nhà, một người đàn bà góa, thấy chàng ở một mình, không cần thổi nấu ở bếp dưới - một điều rất khó chịu đã sinh nhiều chuyện bất bình với mấy người thuê trước - cũng vui lòng, cho là một dịp may.

- Thưa ông, nhà ít người và hàng họ ế ẩm, nên phải cho thuê bớt để đỡ tiền. Ông có một mình, ở đây tiện lắm. Nếu ông muốn xơi cơm với chúng tôi thì cũng xin vui lòng thổi nấu giùm ông. Chúng tôi rất cẩn thận. Vả lại người lịch sự, biết điều ở với nhau thì bao giờ cũng dễ dàng.

Khôi nghe hai tiếng "lịch sự", mỉm cười:

- Nhưng tôi hay đi chơi khuya, sợ mỗi khi về gọi cửa, phiền...

- Thưa ông không can gì. ở Hà Nội, thức khuya là thường. Thỉnh thỏang ông có đi xem xi nê, hay đi chơi tối, thì đã có vú già nằm ngay ngoài cửa hàng. Vú ấy tỉnh ngủ lắm.

Một giọng con gái gọi với lên:

- Me xuống bán hàng.

- Xin lỗi ông.

Người đàn bà vội vàng đi xuống, tiếng guốc lộc cộc ở thang. Hai hôm sau, Khôi cho khuân đến một cái đi văng và một cái bàn mộc: đồ đạc cần thiết để ngủ và làm việc. Chỉ có thế. Nhà chủ cho mượn thêm những thứ cần dùng: ghế ngồi, đồ rửa mặt, một bộ ấm chén. Buổi sáng, khi Khôi còn ngủ, người vú già lên quét dọn, lấy nước rửa mặt, pha sẵn một ấm chè rồi lại lẳng lặng xuống. Đến hôm Khôi ăn cơm ở đấy mới biết rõ nhà dưới có ba người: bà chủ nhà, một cô con gái trạc hai mươi, và một bà cụ già, thường nằm suốt ngày ở chiếc giường sát chân thang, lúc nào cũng buông màn, và vẫn ăn cơm riêng. Thêm một người vú già, ngoài mấy bữa cơm trong bếp thì lại ra ngồi trông hàng.

Hôm đầu tiên ngủ đấy, Khôi thấy một cảm giác lạ, nhất là lúc sáng dậy. Buổi sáng mọi ngày, chàng thường trầm ngâm trước ấm chè và vài đĩa síu mại của một hiệu nào. Rồi tùy theo trời mưa hay nắng, Khôi vào thư viện, đến tán chuyện với mấy người bạn rỗi rãi, hay ra ga nhìn hành khách xuôi ngược, tuy không đón đưa ai. Hôm nào buồn quá, và nhằm ngày phiên tòa, Khôi đi xem xử án.

Khôi như ngạc nhiên không thấy phải mặc áo về ngoài phố. Chàng nằm im, mắt mở nhìn chung quanh, thấy một cảm giác là lạ, và dễ chịu. Đầu chàng còn hơi nặng vì rượu uống với anh em đêm qua. Trên tay ghế, chiếc áo vắt xốc xếch rủ một tay xuống sàn gác. Từ dưới đưa lên những tiếng động của một phố náo nhiệt: còi xe hơi, chuông xe điện, và Khôi như thấy mọi người đương lăn lộn trong cuộc mưu sinh. Xưa nay chàng vẫn lẫn trong những tiếng đó, và lãnh đạm đi qua. Khôi nhớ lại đêm qua, lúc chàng về, bà cụ nổi một trận ho dữ dội, rồi nó cứ dai dẳng kéo từng cơn mãi đến chàng lúc ngủ, thôi nghe tiếng. Theo một thói quen, Khôi trở dậy, mặc quần áo ra hiệu ăn sáng. Rồi đi ra lối thư viện. Nhưng qua vài phố, chẳng biết nghĩ sao, chàng quay "về nhà" đọc sách.

Trong mấy bữa cơm đầu tiên, cô con gái chỉ cắm cổ ăn, không hề nhìn lên Khôi. Bà mẹ thường săn sóc đến chàng, giục gắp những miếng ngon, có khi lại gắp giùm vào bát. Thấy Khôi khảnh ăn, bà thường ép chàng ăn nhiều thêm.

- Cậu - tiếng cậu đã thay cho tiếng ông, vì Khôi ít tuổi và bà đã coi như người nhà - ăn ít quá, lấy đâu sức khỏe mà làm việc. Cậu lại hay đi chơi và xem sách khuya. Cậu làm gì nhỉ? à, làm báo. Tôi thấy những ông làm báo hình như phải lo nghĩ nhiều lắm. Lao tâm hại hơn hơn lao lực, cậu cần phải tẩm bổ nhiều lắm. Cậu xơi món này đi...

Bà gắp cho Khôi một miếng đùi gà rán, hay lườn con cá hấp.

Cô con gái cũng dần mất tính bẽn lẽn, vui vẻ nói chuyện như mẹ, và thường để ý đón bát của Khôi để xới cơm. Mà quả nhiên Khôi ăn nhiều lên thật! Chàng thấy sức khỏe trở lại, người dễ chịu hơn, và làm việc được nhiều.

Được ít lâu, Khôi bỏ thói đi ăn sáng ở hiệu "cho đỡ mất thì giờ".

Mỗi sáng, vú già mang lên một khay: trứng, sữa, bánh mỳ, bánh cuốn, cà phê... thay đổi hàng ngày. Khôi thấy cũng sạch sẽ, ngon lành.

Rồi Khôi bỏ cả tính đi khuya. Mỗi lần chàng về đêm, tuy hết sức nhẹ bước, nhưng tiếng giầy rón rén lên thang cũng đủ làm mất giấc ngủ mỏng manh của bà cụ già, thường liền ngay đấy, bà cụ thức giấc, ho một hồi lâu. Tuy không ai nói gì, nhưng Khôi cũng thấy phiền cho họ. Chàng ở nhà mấy đêm, thấy quen. Mỗi lần muốn đi, chàng lại nghĩ cảnh ngoài phố ngày nào cũng giống ngày nào, không có gì đáng để ý. Khôi lại ngồi xem sách, hoặc viết. Bản thảo mỗi ngày một dầy thêm. Khôi vui vẻ đã không bỏ phí thì giờ, và thấy cách sống bình tĩnh, điều hòa cần cho sự làm việc.

Dù Khôi ở nhà, chàng cũng như đi vắng, vì không phiền đến ai. Bà chủ càng chiều chuộng chăm nom. Một lần Khôi nghe tiếng ở nhà dưới nói đến tên chàng. Bà chủ tưởng Khôi đi vắng, nói chuyện với mấy người quen. Khôi không rõ bà nói gì, mà cũng không muốn nghe, đi mạnh bước cho họ thôi.

*
* *

Bữa ăn đã xong, người nào cũng ngà ngà say. Họ bắt đầu nói to, coi như trong hiệu không còn ai.

- Bây giờ chúng mình làm gì?

- Đã lâu anh Khôi không đi chơi, vậy theo ý anh ấy. Anh Khôi, đi đâu?

Khôi điềm đạm trả lời:

- Tôi đi về.

T. to tiếng nhất, và như đã quá chén:

- Các anh thấy chưa? Anh Khôi muốn đi về! Xưa nay anh ấy có nói thế bao giờ? Mà về đâu? Bây giờ phải về, để cho cô bé khỏi phải chờ khuya mở cửa. Cô bé tuy cũng khá nhưng nhờ giời không có chút thông minh nào. Càng hay. Nếu họ thông minh, khôn hồn, họ đã chẳng lấy bọn mình. Rồi các anh sẽ được đi ăn cưới anh Khôi lấy cô... cô... cô con gái bà chủ. Ha, ha, ha.

- Như thế thì đã sao? Anh cấm người ta lấy nhau ư? Các anh cho rằng một nghệ sĩ không được có gia đình, bị ràng buộc. Chỉ là một ý tưởng nhầm. Bao nhiêu nhà văn, vợ con đề huề, mà vẫn có những tác phẩm siêu việt...

- Tôi không nói nghệ sĩ không được lấy vợ, nhưng không nên. Anh Khôi lại càng không nên lắm, tôi quyết thế. Các anh thấy anh ấy dạo này viết được nhiều, nhưng các anh có thấy giá trị tác phẩm anh ấy không? Một cối hai. Anh Khôi ạ, một cối hai. Anh hiểu chưa? Họ còn nể anh, họ chưa nói rõ. Anh về đọc lại xem ít lâu nay anh viết những gì? Các anh sẽ thấy xuất hiện một loại sách cho các cụ già kém ngủ. Anh Khôi không cần nghĩ đến. Nhưng anh còn cầm bút, và còn "tôi đi về" thì loại sách ấy tự nhiên ra. Các anh thấy không?

Mọi người đều khó chịu. Khôi ngồi lẳng lặng nghe.

Đêm ấy và mấy đêm sau, Khôi suy nghĩ rất nhiều. Câu của T., có một ít lẽ phải. Mấy lần chàng đi chơi về, mới dừng tiếng giầy trước cửa và gõ một tiếng, cánh cửa đã mở. Cô con gái như vẫn đợi nghe chàng về. Bữa điểm tâm sáng hôm sau thấy dồi dào hơn. Khôi nhận thấy chung quanh mình có những sự chăm nom bao bọc, và... chàng tự để trôi theo.

Khôi xem lại những bài viết mới. Lối viết dễ dàng, những tư tưởng tầm thường, ủy mị. Chàng ngồi suốt đêm, chống tay vào má, đăm đăm nhìn đống giấy trước mặt. Thời khắc qua, người thanh niên vẫn ngồi như pho tượng, có lúc thở dài, mơ màng; có lúc mắt sáng lên, đầy nghị lực. Gần sáng, chàng đem đốt hết những bản thảo mới viết.

Mấy hôm sau, Khôi lại lang thang ngoài phố, không có chỗ ở nhất định. Và trước cửa hàng, lại thấy cái biển:

"Gác cho thuê"

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội, 1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu16.htm




Gác cho thuê

Truyện ngắn của Đỗ Đức Thu
Minh họa Ái Mỹ
Đăng trên báo Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Mời xem bản đánh máy
Mời xem bản Photocopy (Để xem ảnh ở độ phóng đại lớn, xin nhấp chuột vào ảnh).



Nguồn: Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.


Mời xem bản đánh máy


Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Gác cho thuê




Khôi đang lúc cần, và nhà cho thuê rất hiếm, nên chàng phải bằng lòng cái gác đó. Nhà dưới là một cửa hàng tạp hóa, hơi chật, lủng củng những đồ đạc. Một lối đi hẹp, lách vào bên trong là chỗ cầu thang lên gác. Gian gác vuông vắn, kê được độ bốn cái giường. Phía trông ra phố có một cái cửa sổ, lúc nào cũng đóng để tránh bụi, thành bên trong tối tăm và ẩm. Lúc mặt trời gần đứng bóng, mới thấy mấy ô ánh nắng ở chỗ nóc để hở, lắp kính chiếu xuống.
Mở cửa sổ đằng trước, cũng không có cảnh gì đẹp. Mái hiên nhà dưới thè ra che một nửa phố. Mấy chiếc cửa sổ của gác nhà phía trước, một cột xi măng chằng chịt những dây điện, một cành cây vươn ngang qua, mà ít khi có chim đến đậu, hoặc gió đến lung lay.

Mấy tháng nay Khôi lang thang ở Hà Nội, không có chỗ ở nhất định. Ngày ngày lượn quanh phố, lúc đói vào ăn ở bất cứ hiệu cao lâu, hiệu phở nào. Tối ngủ ở tiệm hút, nhà ả đào hay nhà anh em bạn. Một chiếc va ly gửi người quen, thỉnh thỏang Khôi về tắm rửa, thay quần áo, rồi lại đi.

Các bạn Khôi xem ý thích lối sống ấy. Họ cho thế mới hợp với tâm hồn nghệ sĩ, không bị ràng buộc. Nhưng ít lâu nay, mỗi lần họ ca tụng cách sống của chàng, Khôi lại có nụ cười hoài nghi và chán nản. Khôi thấy ngày giờ trôi phí nhiều, và tiêu tốn. Chàng nhẩm tính mấy tháng sau mới lấy được bản quyền một quyển sách mới. Ăn uống thất thường làm người yếu dần. Chàng nghĩ đến thuê nhà, để có chỗ làm việc nhất định.

*
* *

Khôi đang lúc cần, và nhà cho thuê rất hiếm, nên chàng phải bằng lòng cái gác đó. Chủ nhà, một người đàn bà góa, thấy chàng ở một mình, không cần thổi nấu ở bếp dưới - một điều rất khó chịu đã sinh nhiều chuyện bất bình với mấy người thuê trước - cũng vui lòng, cho là một dịp may.

- Thưa ông, nhà ít người và hàng họ ế ẩm, nên phải cho thuê bớt để đỡ tiền. Ông có một mình, ở đây tiện lắm. Nếu ông muốn xơi cơm với chúng tôi thì cũng xin vui lòng thổi nấu giùm ông. Chúng tôi rất cẩn thận. Vả lại người lịch sự, biết điều ở với nhau thì bao giờ cũng dễ dàng.

Khôi nghe hai tiếng "lịch sự", mỉm cười:

- Nhưng tôi hay đi chơi khuya, sợ mỗi khi về gọi cửa, phiền...

- Thưa ông không can gì. ở Hà Nội, thức khuya là thường. Thỉnh thỏang ông có đi xem xi nê, hay đi chơi tối, thì đã có vú già nằm ngay ngoài cửa hàng. Vú ấy tỉnh ngủ lắm.

Một giọng con gái gọi với lên:

- Me xuống bán hàng.

- Xin lỗi ông.

Người đàn bà vội vàng đi xuống, tiếng guốc lộc cộc ở thang. Hai hôm sau, Khôi cho khuân đến một cái đi văng và một cái bàn mộc: đồ đạc cần thiết để ngủ và làm việc. Chỉ có thế. Nhà chủ cho mượn thêm những thứ cần dùng: ghế ngồi, đồ rửa mặt, một bộ ấm chén. Buổi sáng, khi Khôi còn ngủ, người vú già lên quét dọn, lấy nước rửa mặt, pha sẵn một ấm chè rồi lại lẳng lặng xuống. Đến hôm Khôi ăn cơm ở đấy mới biết rõ nhà dưới có ba người: bà chủ nhà, một cô con gái trạc hai mươi, và một bà cụ già, thường nằm suốt ngày ở chiếc giường sát chân thang, lúc nào cũng buông màn, và vẫn ăn cơm riêng. Thêm một người vú già, ngoài mấy bữa cơm trong bếp thì lại ra ngồi trông hàng.

Hôm đầu tiên ngủ đấy, Khôi thấy một cảm giác lạ, nhất là lúc sáng dậy. Buổi sáng mọi ngày, chàng thường trầm ngâm trước ấm chè và vài đĩa síu mại của một hiệu nào. Rồi tùy theo trời mưa hay nắng, Khôi vào thư viện, đến tán chuyện với mấy người bạn rỗi rãi, hay ra ga nhìn hành khách xuôi ngược, tuy không đón đưa ai. Hôm nào buồn quá, và nhằm ngày phiên tòa, Khôi đi xem xử án.

Khôi như ngạc nhiên không thấy phải mặc áo về ngoài phố. Chàng nằm im, mắt mở nhìn chung quanh, thấy một cảm giác là lạ, và dễ chịu. Đầu chàng còn hơi nặng vì rượu uống với anh em đêm qua. Trên tay ghế, chiếc áo vắt xốc xếch rủ một tay xuống sàn gác. Từ dưới đưa lên những tiếng động của một phố náo nhiệt: còi xe hơi, chuông xe điện, và Khôi như thấy mọi người đương lăn lộn trong cuộc mưu sinh. Xưa nay chàng vẫn lẫn trong những tiếng đó, và lãnh đạm đi qua. Khôi nhớ lại đêm qua, lúc chàng về, bà cụ nổi một trận ho dữ dội, rồi nó cứ dai dẳng kéo từng cơn mãi đến chàng lúc ngủ, thôi nghe tiếng. Theo một thói quen, Khôi trở dậy, mặc quần áo ra hiệu ăn sáng. Rồi đi ra lối thư viện. Nhưng qua vài phố, chẳng biết nghĩ sao, chàng quay "về nhà" đọc sách.

Trong mấy bữa cơm đầu tiên, cô con gái chỉ cắm cổ ăn, không hề nhìn lên Khôi. Bà mẹ thường săn sóc đến chàng, giục gắp những miếng ngon, có khi lại gắp giùm vào bát. Thấy Khôi khảnh ăn, bà thường ép chàng ăn nhiều thêm.

- Cậu - tiếng cậu đã thay cho tiếng ông, vì Khôi ít tuổi và bà đã coi như người nhà - ăn ít quá, lấy đâu sức khỏe mà làm việc. Cậu lại hay đi chơi và xem sách khuya. Cậu làm gì nhỉ? à, làm báo. Tôi thấy những ông làm báo hình như phải lo nghĩ nhiều lắm. Lao tâm hại hơn hơn lao lực, cậu cần phải tẩm bổ nhiều lắm. Cậu xơi món này đi...

Bà gắp cho Khôi một miếng đùi gà rán, hay lườn con cá hấp.

Cô con gái cũng dần mất tính bẽn lẽn, vui vẻ nói chuyện như mẹ, và thường để ý đón bát của Khôi để xới cơm. Mà quả nhiên Khôi ăn nhiều lên thật! Chàng thấy sức khỏe trở lại, người dễ chịu hơn, và làm việc được nhiều.

Được ít lâu, Khôi bỏ thói đi ăn sáng ở hiệu "cho đỡ mất thì giờ".

Mỗi sáng, vú già mang lên một khay: trứng, sữa, bánh mỳ, bánh cuốn, cà phê... thay đổi hàng ngày. Khôi thấy cũng sạch sẽ, ngon lành.

Rồi Khôi bỏ cả tính đi khuya. Mỗi lần chàng về đêm, tuy hết sức nhẹ bước, nhưng tiếng giầy rón rén lên thang cũng đủ làm mất giấc ngủ mỏng manh của bà cụ già, thường liền ngay đấy, bà cụ thức giấc, ho một hồi lâu. Tuy không ai nói gì, nhưng Khôi cũng thấy phiền cho họ. Chàng ở nhà mấy đêm, thấy quen. Mỗi lần muốn đi, chàng lại nghĩ cảnh ngoài phố ngày nào cũng giống ngày nào, không có gì đáng để ý. Khôi lại ngồi xem sách, hoặc viết. Bản thảo mỗi ngày một dầy thêm. Khôi vui vẻ đã không bỏ phí thì giờ, và thấy cách sống bình tĩnh, điều hòa cần cho sự làm việc.

Dù Khôi ở nhà, chàng cũng như đi vắng, vì không phiền đến ai. Bà chủ càng chiều chuộng chăm nom. Một lần Khôi nghe tiếng ở nhà dưới nói đến tên chàng. Bà chủ tưởng Khôi đi vắng, nói chuyện với mấy người quen. Khôi không rõ bà nói gì, mà cũng không muốn nghe, đi mạnh bước cho họ thôi.

*
* *

Bữa ăn đã xong, người nào cũng ngà ngà say. Họ bắt đầu nói to, coi như trong hiệu không còn ai.

- Bây giờ chúng mình làm gì?

- Đã lâu anh Khôi không đi chơi, vậy theo ý anh ấy. Anh Khôi, đi đâu?

Khôi điềm đạm trả lời:

- Tôi đi về.

T. to tiếng nhất, và như đã quá chén:

- Các anh thấy chưa? Anh Khôi muốn đi về! Xưa nay anh ấy có nói thế bao giờ? Mà về đâu? Bây giờ phải về, để cho cô bé khỏi phải chờ khuya mở cửa. Cô bé tuy cũng khá nhưng nhờ giời không có chút thông minh nào. Càng hay. Nếu họ thông minh, khôn hồn, họ đã chẳng lấy bọn mình. Rồi các anh sẽ được đi ăn cưới anh Khôi lấy cô... cô... cô con gái bà chủ. Ha, ha, ha.

- Như thế thì đã sao? Anh cấm người ta lấy nhau ư? Các anh cho rằng một nghệ sĩ không được có gia đình, bị ràng buộc. Chỉ là một ý tưởng nhầm. Bao nhiêu nhà văn, vợ con đề huề, mà vẫn có những tác phẩm siêu việt...

- Tôi không nói nghệ sĩ không được lấy vợ, nhưng không nên. Anh Khôi lại càng không nên lắm, tôi quyết thế. Các anh thấy anh ấy dạo này viết được nhiều, nhưng các anh có thấy giá trị tác phẩm anh ấy không? Một cối hai. Anh Khôi ạ, một cối hai. Anh hiểu chưa? Họ còn nể anh, họ chưa nói rõ. Anh về đọc lại xem ít lâu nay anh viết những gì? Các anh sẽ thấy xuất hiện một loại sách cho các cụ già kém ngủ. Anh Khôi không cần nghĩ đến. Nhưng anh còn cầm bút, và còn "tôi đi về" thì loại sách ấy tự nhiên ra. Các anh thấy không?

Mọi người đều khó chịu. Khôi ngồi lẳng lặng nghe.

Đêm ấy và mấy đêm sau, Khôi suy nghĩ rất nhiều. Câu của T., có một ít lẽ phải. Mấy lần chàng đi chơi về, mới dừng tiếng giầy trước cửa và gõ một tiếng, cánh cửa đã mở. Cô con gái như vẫn đợi nghe chàng về. Bữa điểm tâm sáng hôm sau thấy dồi dào hơn. Khôi nhận thấy chung quanh mình có những sự chăm nom bao bọc, và... chàng tự để trôi theo.

Khôi xem lại những bài viết mới. Lối viết dễ dàng, những tư tưởng tầm thường, ủy mị. Chàng ngồi suốt đêm, chống tay vào má, đăm đăm nhìn đống giấy trước mặt. Thời khắc qua, người thanh niên vẫn ngồi như pho tượng, có lúc thở dài, mơ màng; có lúc mắt sáng lên, đầy nghị lực. Gần sáng, chàng đem đốt hết những bản thảo mới viết.

Mấy hôm sau, Khôi lại lang thang ngoài phố, không có chỗ ở nhất định. Và trước cửa hàng, lại thấy cái biển:

"Gác cho thuê"

Đỗ Đức Thu

Rút từ tập truyện ngắn Nhà bên kia,
Nxb. Cộng lực, Hà Nội, 1942




Nguồn: http://chimviet.free.fr/tienchie/0060ddt/ddthu16.htm