Hiển thị các bài đăng có nhãn Tô Ngọc Vân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2022

Ảnh Tô Ngọc Vân




Ảnh Tô Ngọc Vân

Tô Ngọc Vân

1928
1932






Ảnh Tô Ngọc Vân

Tô Ngọc Vân

1928
1932



Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2022

Tô Ngọc Vân – Tô Ngọc Thành, NXB Mỹ thuật Hà Nội, 1999

Mời xem và lấy về bản PDF





Mời xem và lấy về bản PDF





Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2022

Tô Ngọc Vân - NXB Mỹ thuật

Tô Ngọc Vân

Nhà xuất bản Mỹ thuật

Tô Ngọc Vân

Nhà xuất bản Mỹ thuật

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

1 PHIÊN ĐẤU CÓ 2 TRANH VIỆT BÁN TRÊN 1 TRIỆU USD - CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng - Văn Bảy

CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Phiên đấu Thế kỷ 20 và nghệ thuật đương đại tiếp tục diễn ra tại Christie’s Hong Kong vào sáng nay 26/5/2019, từ lúc 10h (tức 9h Việt Nam). Với 138/232 lô hàng dành cho nghệ thuật Việt, đây là một sự áp đảo về số lượng. CỰC SỐC: Kết quả có 138/138 lô hàng Việt Nam được bán.


Bức tiêu điểm của Lê Phổ là Khỏa thân (sơn dầu, 90,5cm x 180,5cm, 1931) không nằm ngoài dự đoán từ sớm, đã bán 10.925.000 HKD, tương đương gần 1,4 triệu USD, hơn 32,3 tỷ đồng.



Kiệt tác "Khỏa thân" của Lê Phổ - quán quân mới về giá bán công khai của tranh Việt (CHRISTIE'S - LOT 107)


Bức này có dự đoán ban đầu từ 4.000.000 đến 6.000.000 HKD, thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham (California, USA), tăng giá hơn 250% giá sàn.

Một tác phẩm khỏa thân độc đáo khác của Lê Phổ là Le Bain de Mer (Tắm biển, lụa bồi giấy, 88cm x 56,5cm, khoảng 1938) đã bán 3.965.000 HKD, tương đương hơn 11,7 tỷ đồng, trong khi giá dự đoán từ 2.000.000 đến 3.000.000 HKD. Bức này cũng thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham.
Bức "Tắm biển" của Lê Phổ mới lạ, táo bạo về bố cục. (CHRISTIE'S - LOT 106)

Cả hai tác phẩm khỏa thân này đều xứng tầm là kiệt tác, vì có ý nghĩa lớn về mặt nghệ thuật, được vẽ từ rất sớm - trước năm 1940 - nên đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử hội họa Việt Nam. Với bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ, gần như việc vẽ một tranh khỏa thân là điều không thể tưởng tượng và khó chấp nhận được.
Nếu bức Khỏa thân có bố cục và cảm hứng Tây phương, thì bức Tắm biển có cảm hứng từ nàng Tiên Dung táo bạo, sẵn sàng vượt qua ràng buộc, sẵn sàng “tắm tiên” những nơi mình thích.
Cũng nên lưu ý thêm rằng, thời bấy giờ tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội, gần như tất cả mẫu đều là nam giới và đều là tù nhân được đưa ra khỏi nơi giam giữ vài giờ để phục vụ cho việc giáo dục. Vẽ khỏa thân nữ như Lê Phổ không chỉ táo bạo về mặt tư duy hình họa, mà còn là điều khó khăn về nhiều thứ, trong đó có cả chuyện vượt lề thói bảo thủ.

Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã bán hơn 27 tỷ đồng, hơn 1,1 triệu USD, tăng gần 400% so với mức sàn.
Không bất ngờ khi kiệt tác này trở nên cao giá nhất của Tô Ngọc Vân và gần như cao giá nhất của cả bộ tứ Trí - Lân - Vân - Cẩn trên thị trường công khai. Chúng tôi sẽ trở lại với bức này trong một dịp gần đây.

Bức "Gia đình ngư dân" của danh họa Lương Xuân Nhị. (CHRISTIE'S - LOT 110)

Bức Le Pécheur et Sa Famille (Gia đình ngư dân, lụa, 67cm x 110cm, 1940) của Lương Xuân Nhị bán hơn 13,8 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Vị quan" của Vũ Cao Đàm. (CHRISTIE'S - LOT 111)

Bức Le Mandarin (Vị quan, lụa, 145,5cm x 71cm, 1942) của Vũ Cao Đàm bán hơn 5,5 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Say ngủ" của Mai Trung Thứ. (CHRISTIE'S - LOT 112)

Bức Le Sommeil (Say ngủ, lụa, 65cm x 54,5cm, 1938) của Mai Trung Thứ bán 7,4 tỷ đồng. Bức Femmes (Quý cô, sơn mài, 80cm x 60cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí bán hơn 2,7 tỷ đồng. Bức Mère et Enfant (Mẫu tử, lụa, 63cm x 49cm, 1960) của Lê Thị Lựu bán hơn 4,8 tỷ đồng.


Bức "Mẫu tử" của Lê Thị Lựu. (CHRISTIE'S - LOT 104)


Bức "Quý cô" của Nguyễn Gia Trí (CHRISTIE'S - LOT 113)
Bức Múa cổ (sơn mài, 80cm x 95cm, 1974) của Nguyễn Tư Nghiêm bán gần 630 triệu đồng. Bức Vịnh Hạ Long (sơn mài, 40,5cm x 60cm) của Phạm Văn Đôn bán hơn 592 triệu đồng. Bức Mẹ và con (sơn dầu trên toan, 149cm x 149cm, 1999) của Nguyễn Trung bán hơn 592 triệu đồng.


Bức "Múa cổ" của Nguyễn Tư Nghiêm. (CHRISTIE'S - LOT 123)


Bức "Vịnh Hạ Long" của Phạm Văn Đôn. (CHRISTIE'S - LOT 122)


Bức "Mẹ và con" của Nguyễn Trung. (CHRISTIE'S - LOT 124)

Chừng 6-7 năm trước thôi, khi đứng gần các danh họa trong/của khu vực Đông Nam Á như Affandi (1907-1990), Hendra Gunawan (1918-1983), Lee Man Fong (1913-1988), S. Sudjojono (1914-1986), Adrien-Jean Le Mayeur De Merprès (1880-1958), Willem Gerard Hofker (1902-1981), Fernando Cueto Amorsolo (1892-1972), Raden Saleh Sjarif Boestaman (1807-1880), Arie Smit (1916-2016), Chen Wen Hsi (1906-1991)…, giá bán dự đoán của tranh Việt có ít nhiều lép vế.

Bây giờ đã khác, tình thế ngang ngửa nhiều hơn, đôi khi tiêu điểm như phiên này, khi khởi động đã là nghệ thuật Việt Nam, với 5-6 tác phẩm dẫn đầu về thứ tự và giá bán.

Phiên đấu này cũng giới thiệu 17 tác phẩm thuộc sưu tập của Tuấn Phạm (California, Mỹ), trong đó có vài kiệt tác. Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn) tình cờ mua một tranh Lê Phổ tại Nam Florida vào những năm cuối thập niên 1990, tưởng đó là tranh Trung Quốc, do thấy chữ Nho. Nhưng sự tình cờ đó làm nên định mệnh, 20 năm qua ông đã nhanh chóng “càn quét”, để ngày nay trở thành một “gấu bự” tranh Việt.
Nhà sưu tập Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn). Ảnh trích từ phim của Christie’s.

“Tôi bắt đầu Phamatech, một công ty công nghệ sinh học và phòng thí nghiệm, vào năm 1991. Nhiệm vụ của tôi là sử dụng các công nghệ mới và mới nổi để cung cấp nhận thức về sức khỏe tốt hơn, chẩn đoán sớm các điều kiện y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống và lựa chọn điều trị cho bệnh nhân. Sau đó, tôi không chỉ có thể đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình trong việc xây dựng một công ty đáng kính và có ý nghĩa, tôi còn có thể chia sẻ thành công của Phamatech bằng cách trả lại cho cộng đồng. Trong nhiều năm, Phamatech là nhà tài trợ thường xuyên cho nhiều sự kiện cộng đồng. Chúng tôi giúp thành lập một nhóm phi lợi nhuận dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, và trong 10 năm qua, Phamatech đã trao học bổng đại học cho nhiều sinh viên kém đặc quyền để đạt được ước mơ của họ trong đại học” - Tuấn Phạm chia sẻ.

Nhà sưu tập Tuấn Phạm nói thêm: “Tôi đã gắn bó với nhiều bức tranh, nhưng giống như họa sĩ vẽ nó, nó thực sự không phải là tranh của tôi, cho nên nó tiếp tục tìm vị trí của nó trong số các nhà sưu tập thực thụ hơn. Hành trình của tôi đã hoàn tất, đã đến lúc để người khác bắt đầu hành trình cá nhân của riêng họ”.
Văn Bảy



Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 26/05/2019 10:48




CHRISTIE'S
SALE 15616

20th Century & Contemporary Art

(Morning Session)
Hong Kong|26 May 2019

LOT 109 |AN IMPORTANT COLLECTION OF VIETNAMESE PAINTINGS FEATURING THE TUAN PHAM COLLECTION
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)

Price realised
HKD 9,125,000

Estimate
HKD 2,000,000 - HKD 3,000,000

Condition Report
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)
signed and dated 'To ngoc Van 1932'; inscribed in Chinese (upper left)
ink and gouache on silk
92.5 x 57 cm. (36 3/8 x 22 1/2 in.)
Painted in 1932

Provenance
Agence Economique de l'Indochine (AGINDO), Paris
Private Collection, Paris, 1993
Anon. Sale, Sotheby's Singapore, 6 April 2003, lot 110
Acquired at the above sale by the present owner
Collection of Mr Tuan H Pham, California, USA
Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Phiên đấu Thế kỷ 20 và nghệ thuật đương đại tiếp tục diễn ra tại Christie’s Hong Kong vào sáng nay 26/5/2019, từ lúc 10h (tức 9h Việt Nam). Với 138/232 lô hàng dành cho nghệ thuật Việt, đây là một sự áp đảo về số lượng. CỰC SỐC: Kết quả có 138/138 lô hàng Việt Nam được bán.


Bức tiêu điểm của Lê Phổ là Khỏa thân (sơn dầu, 90,5cm x 180,5cm, 1931) không nằm ngoài dự đoán từ sớm, đã bán 10.925.000 HKD, tương đương gần 1,4 triệu USD, hơn 32,3 tỷ đồng.



Kiệt tác "Khỏa thân" của Lê Phổ - quán quân mới về giá bán công khai của tranh Việt (CHRISTIE'S - LOT 107)


Bức này có dự đoán ban đầu từ 4.000.000 đến 6.000.000 HKD, thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham (California, USA), tăng giá hơn 250% giá sàn.

Một tác phẩm khỏa thân độc đáo khác của Lê Phổ là Le Bain de Mer (Tắm biển, lụa bồi giấy, 88cm x 56,5cm, khoảng 1938) đã bán 3.965.000 HKD, tương đương hơn 11,7 tỷ đồng, trong khi giá dự đoán từ 2.000.000 đến 3.000.000 HKD. Bức này cũng thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham.
Bức "Tắm biển" của Lê Phổ mới lạ, táo bạo về bố cục. (CHRISTIE'S - LOT 106)

Cả hai tác phẩm khỏa thân này đều xứng tầm là kiệt tác, vì có ý nghĩa lớn về mặt nghệ thuật, được vẽ từ rất sớm - trước năm 1940 - nên đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử hội họa Việt Nam. Với bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ, gần như việc vẽ một tranh khỏa thân là điều không thể tưởng tượng và khó chấp nhận được.
Nếu bức Khỏa thân có bố cục và cảm hứng Tây phương, thì bức Tắm biển có cảm hứng từ nàng Tiên Dung táo bạo, sẵn sàng vượt qua ràng buộc, sẵn sàng “tắm tiên” những nơi mình thích.
Cũng nên lưu ý thêm rằng, thời bấy giờ tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội, gần như tất cả mẫu đều là nam giới và đều là tù nhân được đưa ra khỏi nơi giam giữ vài giờ để phục vụ cho việc giáo dục. Vẽ khỏa thân nữ như Lê Phổ không chỉ táo bạo về mặt tư duy hình họa, mà còn là điều khó khăn về nhiều thứ, trong đó có cả chuyện vượt lề thói bảo thủ.

Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã bán hơn 27 tỷ đồng, hơn 1,1 triệu USD, tăng gần 400% so với mức sàn.
Không bất ngờ khi kiệt tác này trở nên cao giá nhất của Tô Ngọc Vân và gần như cao giá nhất của cả bộ tứ Trí - Lân - Vân - Cẩn trên thị trường công khai. Chúng tôi sẽ trở lại với bức này trong một dịp gần đây.

Bức "Gia đình ngư dân" của danh họa Lương Xuân Nhị. (CHRISTIE'S - LOT 110)

Bức Le Pécheur et Sa Famille (Gia đình ngư dân, lụa, 67cm x 110cm, 1940) của Lương Xuân Nhị bán hơn 13,8 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Vị quan" của Vũ Cao Đàm. (CHRISTIE'S - LOT 111)

Bức Le Mandarin (Vị quan, lụa, 145,5cm x 71cm, 1942) của Vũ Cao Đàm bán hơn 5,5 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Say ngủ" của Mai Trung Thứ. (CHRISTIE'S - LOT 112)

Bức Le Sommeil (Say ngủ, lụa, 65cm x 54,5cm, 1938) của Mai Trung Thứ bán 7,4 tỷ đồng. Bức Femmes (Quý cô, sơn mài, 80cm x 60cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí bán hơn 2,7 tỷ đồng. Bức Mère et Enfant (Mẫu tử, lụa, 63cm x 49cm, 1960) của Lê Thị Lựu bán hơn 4,8 tỷ đồng.


Bức "Mẫu tử" của Lê Thị Lựu. (CHRISTIE'S - LOT 104)


Bức "Quý cô" của Nguyễn Gia Trí (CHRISTIE'S - LOT 113)
Bức Múa cổ (sơn mài, 80cm x 95cm, 1974) của Nguyễn Tư Nghiêm bán gần 630 triệu đồng. Bức Vịnh Hạ Long (sơn mài, 40,5cm x 60cm) của Phạm Văn Đôn bán hơn 592 triệu đồng. Bức Mẹ và con (sơn dầu trên toan, 149cm x 149cm, 1999) của Nguyễn Trung bán hơn 592 triệu đồng.


Bức "Múa cổ" của Nguyễn Tư Nghiêm. (CHRISTIE'S - LOT 123)


Bức "Vịnh Hạ Long" của Phạm Văn Đôn. (CHRISTIE'S - LOT 122)


Bức "Mẹ và con" của Nguyễn Trung. (CHRISTIE'S - LOT 124)

Chừng 6-7 năm trước thôi, khi đứng gần các danh họa trong/của khu vực Đông Nam Á như Affandi (1907-1990), Hendra Gunawan (1918-1983), Lee Man Fong (1913-1988), S. Sudjojono (1914-1986), Adrien-Jean Le Mayeur De Merprès (1880-1958), Willem Gerard Hofker (1902-1981), Fernando Cueto Amorsolo (1892-1972), Raden Saleh Sjarif Boestaman (1807-1880), Arie Smit (1916-2016), Chen Wen Hsi (1906-1991)…, giá bán dự đoán của tranh Việt có ít nhiều lép vế.

Bây giờ đã khác, tình thế ngang ngửa nhiều hơn, đôi khi tiêu điểm như phiên này, khi khởi động đã là nghệ thuật Việt Nam, với 5-6 tác phẩm dẫn đầu về thứ tự và giá bán.

Phiên đấu này cũng giới thiệu 17 tác phẩm thuộc sưu tập của Tuấn Phạm (California, Mỹ), trong đó có vài kiệt tác. Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn) tình cờ mua một tranh Lê Phổ tại Nam Florida vào những năm cuối thập niên 1990, tưởng đó là tranh Trung Quốc, do thấy chữ Nho. Nhưng sự tình cờ đó làm nên định mệnh, 20 năm qua ông đã nhanh chóng “càn quét”, để ngày nay trở thành một “gấu bự” tranh Việt.
Nhà sưu tập Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn). Ảnh trích từ phim của Christie’s.

“Tôi bắt đầu Phamatech, một công ty công nghệ sinh học và phòng thí nghiệm, vào năm 1991. Nhiệm vụ của tôi là sử dụng các công nghệ mới và mới nổi để cung cấp nhận thức về sức khỏe tốt hơn, chẩn đoán sớm các điều kiện y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống và lựa chọn điều trị cho bệnh nhân. Sau đó, tôi không chỉ có thể đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình trong việc xây dựng một công ty đáng kính và có ý nghĩa, tôi còn có thể chia sẻ thành công của Phamatech bằng cách trả lại cho cộng đồng. Trong nhiều năm, Phamatech là nhà tài trợ thường xuyên cho nhiều sự kiện cộng đồng. Chúng tôi giúp thành lập một nhóm phi lợi nhuận dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, và trong 10 năm qua, Phamatech đã trao học bổng đại học cho nhiều sinh viên kém đặc quyền để đạt được ước mơ của họ trong đại học” - Tuấn Phạm chia sẻ.

Nhà sưu tập Tuấn Phạm nói thêm: “Tôi đã gắn bó với nhiều bức tranh, nhưng giống như họa sĩ vẽ nó, nó thực sự không phải là tranh của tôi, cho nên nó tiếp tục tìm vị trí của nó trong số các nhà sưu tập thực thụ hơn. Hành trình của tôi đã hoàn tất, đã đến lúc để người khác bắt đầu hành trình cá nhân của riêng họ”.
Văn Bảy



Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 26/05/2019 10:48




CHRISTIE'S
SALE 15616

20th Century & Contemporary Art

(Morning Session)
Hong Kong|26 May 2019

LOT 109 |AN IMPORTANT COLLECTION OF VIETNAMESE PAINTINGS FEATURING THE TUAN PHAM COLLECTION
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)

Price realised
HKD 9,125,000

Estimate
HKD 2,000,000 - HKD 3,000,000

Condition Report
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)
signed and dated 'To ngoc Van 1932'; inscribed in Chinese (upper left)
ink and gouache on silk
92.5 x 57 cm. (36 3/8 x 22 1/2 in.)
Painted in 1932

Provenance
Agence Economique de l'Indochine (AGINDO), Paris
Private Collection, Paris, 1993
Anon. Sale, Sotheby's Singapore, 6 April 2003, lot 110
Acquired at the above sale by the present owner
Collection of Mr Tuan H Pham, California, USA
Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Video "Người vẽ cuộc đời" - Chuyện kể của những người con - VTV 2015

Người vẽ cuộc đời - Chuyện kể của những người con

VTV 2015


Phim về họa sĩ TÔ NGỌC VÂN do đài truyền hình Việt Nam (VTV) thực hiện năm 2015. Phim nằm trong serie phim về các văn nghệ sĩ đã tham gia kháng chiến chống Pháp và có đóng góp công sức lớn cho đất nước trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Mỗi phim kể về một nhân vật tiêu biểu như: nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nhà thơ Quang Dũng, ...
To Ngoc Thao


Nguồn: Youtube - To Ngoc Thao - Xuất bản 14 thg 8, 2017.


FB Nguyễn Bảo Chân
Giữa năm 2015, Ban Văn Nghệ, VTV bắt đầu sản xuất series phim tài liệu “Chuyện kể của những người con”, về những cố văn nghệ sĩ có đóng góp lớn cho nền văn nghệ Việt Nam. Tôi được giao thực hiện bốn tập đầu tiên về
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (“Người trong nỗi nhớ”),
nhạc sỹ Văn Cao (“Người về trên những cung đàn”),
nhạc sỹ Đỗ Nhuận (“Người hát cùng lịch sử”),
hoạ sỹ Tô Ngọc Vân (“Người vẽ cuộc đời”),
để phát sóng liền trong tháng 8 năm ấy...
VTV1
Thứ Hai ngày 17/8/2015 02:30
Thứ sáu ngày 21/08/2015 10:30
Thứ tư ngày 8/9/2015 07:30
Thứ năm ngày 9/9/2015 00:30
Văn học nghệ thuật Chuyện kể của những người con – Số 2: Người vẽ cuộc đời

FB Tô Ngọc Thảo



[FULL ] HÀ NỘI MÙA ĐÔNG NĂM 1946

Người vẽ cuộc đời - Chuyện kể của những người con

VTV 2015


Phim về họa sĩ TÔ NGỌC VÂN do đài truyền hình Việt Nam (VTV) thực hiện năm 2015. Phim nằm trong serie phim về các văn nghệ sĩ đã tham gia kháng chiến chống Pháp và có đóng góp công sức lớn cho đất nước trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Mỗi phim kể về một nhân vật tiêu biểu như: nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nhà thơ Quang Dũng, ...
To Ngoc Thao


Nguồn: Youtube - To Ngoc Thao - Xuất bản 14 thg 8, 2017.


FB Nguyễn Bảo Chân
Giữa năm 2015, Ban Văn Nghệ, VTV bắt đầu sản xuất series phim tài liệu “Chuyện kể của những người con”, về những cố văn nghệ sĩ có đóng góp lớn cho nền văn nghệ Việt Nam. Tôi được giao thực hiện bốn tập đầu tiên về
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (“Người trong nỗi nhớ”),
nhạc sỹ Văn Cao (“Người về trên những cung đàn”),
nhạc sỹ Đỗ Nhuận (“Người hát cùng lịch sử”),
hoạ sỹ Tô Ngọc Vân (“Người vẽ cuộc đời”),
để phát sóng liền trong tháng 8 năm ấy...
VTV1
Thứ Hai ngày 17/8/2015 02:30
Thứ sáu ngày 21/08/2015 10:30
Thứ tư ngày 8/9/2015 07:30
Thứ năm ngày 9/9/2015 00:30
Văn học nghệ thuật Chuyện kể của những người con – Số 2: Người vẽ cuộc đời

FB Tô Ngọc Thảo



[FULL ] HÀ NỘI MÙA ĐÔNG NĂM 1946

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

Ba thiếu nữ mặc áo dài và ba con chim (1940) - Tô Ngọc Vân

Ba thiếu nữ mặc áo dài và ba con chim -

Tô Ngọc Vân (1940)


Ba thiếu nữ mặc áo dài và ba con chim -

Tô Ngọc Vân (1940)


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

NN027 - "Ngày xưa" - Tranh minh họa bìa báo Ngày Nay số 027 27/09/36

Ngày xưa

Tranh minh họa bìa báo Ngày Nay số 027 27/09/36
Tô Ngọc Vân





Nguồn: Ngày Nay số 027 - 27/09/1936, Tr. 1.


Ngày xưa

Tranh minh họa bìa báo Ngày Nay số 027 27/09/36
Tô Ngọc Vân





Nguồn: Ngày Nay số 027 - 27/09/1936, Tr. 1.


Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

Tô Ngọc Vân Biography (VIETNAM The Art of War)

Tô Ngọc Vân Biography




First Generation Artist: École des Beaux Arts de l’Indochine French Influenced

“War can be waged through painting.”[1]



Tô Ngọc Vân was born in Hanoi, on Hàng Quạt Street on 15 December 1906. His father was Tô Văn Phú and his mother Nguyễn Thị Nhớn. His paternal family was urban bourgeoisie, while his poor maternal family came from Confucian scholars who lived from small trade. Being from a poor family, he had to start working at a young age. From age six onwards, he had to live as an adopted child in the family of his grandmother and aunt, because of his parents’ poverty. He was poorly treated and only permitted to meet his parents a few times a year.

After finishing his third school year at Bưởi secondary school, he quit and began painting in preparation for his entrance exam to fine art school. After several months training in the preparatory class, he passed the official entrance exam to École Supérieure des Beaux Arts de l’Indochine, entering the second course of 1926-1931. He received the highest score in his final exams.

To begin with, Vân had a difficult time surviving as an artist and had to give private drawing lessons as well as working for magazines and newspapers such as Nhân loại newspaper, Phong hóa, Ngày Nay and Thanh Nghị. He wrote under the pen name Ái Mỹ. Other pseudonyms that he used were To Van Xuan and To Tu.

In 1931, he won the silver medal at the colonial exhibition in Paris for his oil painting “A letter”. In 1932, he received an honorary award at the French painters exhibition. When his skills were finally recognized in the early 30s, he was finally able to make a sustainable living as a painter.

On January 1, 1932 he married Nguyễn Thị Hoàn – his first model – with whom he had five children. His wife finished the second year at a teacher training school. In 1933 he became a member of the French artists association. In the same year, he was invited by the emperor Bao Dai to the palace in Hue to paint. In 1935 he won an award at SADEAI. During those years, armed with folding easel and paint tubes, he walked all over the countryside near Hanoi trying to render its beauty and variety.

Between 1935 and 1938 he taught at Sisowath School in Cambodia, and painted in Phnom Penh. From 1938 to 1939 he taught at Bưởi school – the school of his childhood. From 1939 he taught drawing at École Supérieure des Beaux Arts de l’Indochine, then became an official teacher and professor at the art college.

In 1943 he took part in FARTA and also wrote about art for Hanoi newspapers. In 1945, after the revolution, he made two large posters. In 1946 he made a portrait of Ho Chi Minh and was appointed director of the new Vietnam Fine Arts College. In 1944, when college school moved to Son Tay after heavy fighting, he organized an exhibition of students’ work together with Joseph Inguimberty at the House of Information on Trang Tien Street. A year later, he left Hanoi for Bat Trang.

In 1946 he participated in the Viet Bac Propaganda Group, making posters and slogans on walls. He then took part in the August theatrical group, doing make up and playing minor parts on stage. In 1947 he became leader of the Cultural Group for the National Good in the 10th zone.

In 1948 Vân worked as chief of resistance in the culture group in Vĩnh Chânh. He then became director of the lacquer-painting workshop and founded the literature and arts newspaper, writing many articles. In the same year, Vân took part in National Convention on Art and Literature, having heated arguments with the Party General Secretary, Truong Chinh, on the topic of whether propaganda paintings could be considered works of art. These debates highlighted Vân’s lukewarm acceptance of the principles of revolutionary ideals and social realism in art.

In 1949, Vân followed the Capital Regiment in order to paint its fighter’s activities for three months. He also decorated the governmental relation salon with paintings. Upon his return in 1950, he was made director of the Central Fine Arts College in Phú Thọ Province. A year later, Vân was reinstated as director of the Fine Arts College of Vietnam.

Vân participated in the Biên Giới border campaign and the liberation of Lào Cai in 1950. In 1952 he joined the campaign to boost production and economization by drawing further portraits of Ho Chi Minh and made use of a new subject – renowned French impressionist painter, Henri-Jean Guillaume Martin.

In 1953 he went on a re-educational pilgrimage to live in the village Ninh Dân in Phu Tho province. He lived with the villagers and painted pictures of their struggle against landlords. In 1954, he made a series of sketches of peasants’ life.

In April 1954 he was ordered to go to Ðiện Biên Phủ to make sketches of military activities at the front, depicting soldiers and people’s lives in Tây Bắc and Ðiện Biên Phủ. On June 17, 1954 he died at the 14th kilometre of Ba Khe beyond the Lũng Lô pass, while on a live sketch assignment. His death so close to battle, one that would mark a turning point in the war, made him a national hero.

In November of that year, his paintings made at that time were awarded at the national fine arts exhibition.

In 1985 a street in Hồ Chí Minh City was named after him and, in 1995, a street in Hanoi was named after him.



References[2]



GALLERY


Publications

Corinne de Ménonville, Vietnamese Painting: From Tradition to Modernity, ARHIS: Les Editions d’Art et d’Histoire, Paris

Il drago e la Farfalla, Arte Contemporanea in Vietnam, 2006, Gangemi Editore, Rome



Collections

Vietnam Fine Art Museum, Hà Nội

Private international collections



Exhibitions

1931 – Exposition Coloniale, Paris, France

1932 – Exhibition of French Painters’ Association, Paris, France

1954 – awarded at the National Fine Arts Exhibition

1996 – Paris – Hanoi – Saigon: L’aventure de l’art moderne au Viêt Nam, Pavillon des Arts, Paris, France

2006 – Il drago e la Farfalla, Complesso del Vittoriano, Rome, Italy

2013 – Du Fleuve Rouge au Mékong, Musée Cernuschi, Paris, France



Official Roles

1935-1938 – Taught at Sisowath School in Cambodia

1939 – Began teaching at École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine

1946 – Appointed director of the new Vietnam Fine Arts College

1947 – Leader of the Cultural Group for the National Good in the 10th zone

1950 – Director of the Central Fine Arts College in Nghĩa Quân, Yên Phú

1951 – Reinstated as director of the Fine Arts College of Vietnam



Awards

1931 – Won the silver medal at the Exposition Coloniale for his oil painting “A letter”, Paris, France

1932 – Received an honorary award at the French painters’ exhibition

1985 – A street in Ho Chi Minh City was named after him

1995 – A street in Hanoi was named after him.

References and footnotes:
[1] A favourite quote of Vân’s taken from a speech Picasso made to Vietnamese artists, despite his cool acceptance of extreme revolutionary ideals. Taken from Corinne de Ménonville, Vietnamese Painting: From Tradition to Modernity, ARHIS: Les Editions d’Art et d’Histoire, Paris.

[2] Tô Ngọc Vân biography compiled by independent research


Nguồn: Vietnam: The Art of War -

Tô Ngọc Vân Biography




First Generation Artist: École des Beaux Arts de l’Indochine French Influenced

“War can be waged through painting.”[1]



Tô Ngọc Vân was born in Hanoi, on Hàng Quạt Street on 15 December 1906. His father was Tô Văn Phú and his mother Nguyễn Thị Nhớn. His paternal family was urban bourgeoisie, while his poor maternal family came from Confucian scholars who lived from small trade. Being from a poor family, he had to start working at a young age. From age six onwards, he had to live as an adopted child in the family of his grandmother and aunt, because of his parents’ poverty. He was poorly treated and only permitted to meet his parents a few times a year.

After finishing his third school year at Bưởi secondary school, he quit and began painting in preparation for his entrance exam to fine art school. After several months training in the preparatory class, he passed the official entrance exam to École Supérieure des Beaux Arts de l’Indochine, entering the second course of 1926-1931. He received the highest score in his final exams.

To begin with, Vân had a difficult time surviving as an artist and had to give private drawing lessons as well as working for magazines and newspapers such as Nhân loại newspaper, Phong hóa, Ngày Nay and Thanh Nghị. He wrote under the pen name Ái Mỹ. Other pseudonyms that he used were To Van Xuan and To Tu.

In 1931, he won the silver medal at the colonial exhibition in Paris for his oil painting “A letter”. In 1932, he received an honorary award at the French painters exhibition. When his skills were finally recognized in the early 30s, he was finally able to make a sustainable living as a painter.

On January 1, 1932 he married Nguyễn Thị Hoàn – his first model – with whom he had five children. His wife finished the second year at a teacher training school. In 1933 he became a member of the French artists association. In the same year, he was invited by the emperor Bao Dai to the palace in Hue to paint. In 1935 he won an award at SADEAI. During those years, armed with folding easel and paint tubes, he walked all over the countryside near Hanoi trying to render its beauty and variety.

Between 1935 and 1938 he taught at Sisowath School in Cambodia, and painted in Phnom Penh. From 1938 to 1939 he taught at Bưởi school – the school of his childhood. From 1939 he taught drawing at École Supérieure des Beaux Arts de l’Indochine, then became an official teacher and professor at the art college.

In 1943 he took part in FARTA and also wrote about art for Hanoi newspapers. In 1945, after the revolution, he made two large posters. In 1946 he made a portrait of Ho Chi Minh and was appointed director of the new Vietnam Fine Arts College. In 1944, when college school moved to Son Tay after heavy fighting, he organized an exhibition of students’ work together with Joseph Inguimberty at the House of Information on Trang Tien Street. A year later, he left Hanoi for Bat Trang.

In 1946 he participated in the Viet Bac Propaganda Group, making posters and slogans on walls. He then took part in the August theatrical group, doing make up and playing minor parts on stage. In 1947 he became leader of the Cultural Group for the National Good in the 10th zone.

In 1948 Vân worked as chief of resistance in the culture group in Vĩnh Chânh. He then became director of the lacquer-painting workshop and founded the literature and arts newspaper, writing many articles. In the same year, Vân took part in National Convention on Art and Literature, having heated arguments with the Party General Secretary, Truong Chinh, on the topic of whether propaganda paintings could be considered works of art. These debates highlighted Vân’s lukewarm acceptance of the principles of revolutionary ideals and social realism in art.

In 1949, Vân followed the Capital Regiment in order to paint its fighter’s activities for three months. He also decorated the governmental relation salon with paintings. Upon his return in 1950, he was made director of the Central Fine Arts College in Phú Thọ Province. A year later, Vân was reinstated as director of the Fine Arts College of Vietnam.

Vân participated in the Biên Giới border campaign and the liberation of Lào Cai in 1950. In 1952 he joined the campaign to boost production and economization by drawing further portraits of Ho Chi Minh and made use of a new subject – renowned French impressionist painter, Henri-Jean Guillaume Martin.

In 1953 he went on a re-educational pilgrimage to live in the village Ninh Dân in Phu Tho province. He lived with the villagers and painted pictures of their struggle against landlords. In 1954, he made a series of sketches of peasants’ life.

In April 1954 he was ordered to go to Ðiện Biên Phủ to make sketches of military activities at the front, depicting soldiers and people’s lives in Tây Bắc and Ðiện Biên Phủ. On June 17, 1954 he died at the 14th kilometre of Ba Khe beyond the Lũng Lô pass, while on a live sketch assignment. His death so close to battle, one that would mark a turning point in the war, made him a national hero.

In November of that year, his paintings made at that time were awarded at the national fine arts exhibition.

In 1985 a street in Hồ Chí Minh City was named after him and, in 1995, a street in Hanoi was named after him.



References[2]



GALLERY


Publications

Corinne de Ménonville, Vietnamese Painting: From Tradition to Modernity, ARHIS: Les Editions d’Art et d’Histoire, Paris

Il drago e la Farfalla, Arte Contemporanea in Vietnam, 2006, Gangemi Editore, Rome



Collections

Vietnam Fine Art Museum, Hà Nội

Private international collections



Exhibitions

1931 – Exposition Coloniale, Paris, France

1932 – Exhibition of French Painters’ Association, Paris, France

1954 – awarded at the National Fine Arts Exhibition

1996 – Paris – Hanoi – Saigon: L’aventure de l’art moderne au Viêt Nam, Pavillon des Arts, Paris, France

2006 – Il drago e la Farfalla, Complesso del Vittoriano, Rome, Italy

2013 – Du Fleuve Rouge au Mékong, Musée Cernuschi, Paris, France



Official Roles

1935-1938 – Taught at Sisowath School in Cambodia

1939 – Began teaching at École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine

1946 – Appointed director of the new Vietnam Fine Arts College

1947 – Leader of the Cultural Group for the National Good in the 10th zone

1950 – Director of the Central Fine Arts College in Nghĩa Quân, Yên Phú

1951 – Reinstated as director of the Fine Arts College of Vietnam



Awards

1931 – Won the silver medal at the Exposition Coloniale for his oil painting “A letter”, Paris, France

1932 – Received an honorary award at the French painters’ exhibition

1985 – A street in Ho Chi Minh City was named after him

1995 – A street in Hanoi was named after him.

References and footnotes:
[1] A favourite quote of Vân’s taken from a speech Picasso made to Vietnamese artists, despite his cool acceptance of extreme revolutionary ideals. Taken from Corinne de Ménonville, Vietnamese Painting: From Tradition to Modernity, ARHIS: Les Editions d’Art et d’Histoire, Paris.

[2] Tô Ngọc Vân biography compiled by independent research


Nguồn: Vietnam: The Art of War -

To Ngoc Van on Mercury

Planetary Names: Crater, craters: To Ngoc Van on Mercury

IAU | USGS Astrogeology Science Center | NASA


Tên To Ngoc Van được đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy (Mercury).

To Ngoc Van



Feature Name To Ngoc Van
Clean Name To Ngoc Van
Feature ID 14589
Target Mercury
Feature Type Crater, craters
Coordinate System Planetographic, +West, 0 - 360
Control Network MESSENGER Team
Northernmost Latitude 53.29 °
Southernmost Latitude 51.67 °
Easternmost Longitude 110.33 °
Westernmost Longitude 113.07 °
Diameter 71 KM
Center Latitude 52.49 °
Center Longitude 111.7 °
kml download To Ngoc Van.kml
Continent Asia
Ethnic/Cultural
Group or Country Vietnam
Quad H-03 [pdf]
Map of the H-3 (Shakespeare) Quadrangle of Mercury
Scale 1:4,765,000 at 28° and 62° latitude
Lambert Conformal Projection
Reference [211] - The Dictionary of Art, Vols. 1-33, edited by Jane Turne: Macmillan Publishers, New York, 1996.
Approval Status Adopted by IAU
Approval Date Jul 9, 2009
Origin To Ngoc Van; Vietnamese painter (1906-1954).
Last Updated Oct 14, 2016 9:49:45 AM


PDF Maps of Mercury




https://planetarynames.wr.usgs.gov/Page/mercuryQuadMap Please choose the quadrangle Shakespeare
1:5 million-scale

The boundaries shown on the maps above are approximate and are intended only to portray the locations of named features and their rough extents.
Get help using the map above.

Changes in the control network drop down are not reflected in the feature boundaries in the map above. Only the primary control network feature boundaries (in green) are displayed on the map.

IAU | USGS Astrogeology Science Center | NASA
Nguồn: Gazetteer of Planetary Nomenclature - International Astronomical Union (IAU) Working Group for Planetary System Nomenclature (WGPSN)



Planetary Names: Crater, craters: To Ngoc Van on Mercury

IAU | USGS Astrogeology Science Center | NASA


Tên To Ngoc Van được đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy (Mercury).

To Ngoc Van



Feature Name To Ngoc Van
Clean Name To Ngoc Van
Feature ID 14589
Target Mercury
Feature Type Crater, craters
Coordinate System Planetographic, +West, 0 - 360
Control Network MESSENGER Team
Northernmost Latitude 53.29 °
Southernmost Latitude 51.67 °
Easternmost Longitude 110.33 °
Westernmost Longitude 113.07 °
Diameter 71 KM
Center Latitude 52.49 °
Center Longitude 111.7 °
kml download To Ngoc Van.kml
Continent Asia
Ethnic/Cultural
Group or Country Vietnam
Quad H-03 [pdf]
Map of the H-3 (Shakespeare) Quadrangle of Mercury
Scale 1:4,765,000 at 28° and 62° latitude
Lambert Conformal Projection
Reference [211] - The Dictionary of Art, Vols. 1-33, edited by Jane Turne: Macmillan Publishers, New York, 1996.
Approval Status Adopted by IAU
Approval Date Jul 9, 2009
Origin To Ngoc Van; Vietnamese painter (1906-1954).
Last Updated Oct 14, 2016 9:49:45 AM


PDF Maps of Mercury




https://planetarynames.wr.usgs.gov/Page/mercuryQuadMap Please choose the quadrangle Shakespeare
1:5 million-scale

The boundaries shown on the maps above are approximate and are intended only to portray the locations of named features and their rough extents.
Get help using the map above.

Changes in the control network drop down are not reflected in the feature boundaries in the map above. Only the primary control network feature boundaries (in green) are displayed on the map.

IAU | USGS Astrogeology Science Center | NASA
Nguồn: Gazetteer of Planetary Nomenclature - International Astronomical Union (IAU) Working Group for Planetary System Nomenclature (WGPSN)



Chân dung Tô Ngọc Vân (1942)

PORTRAIT DU PEINTRE TO NGOC VAN (1942)

Joseph Inguimberty [?] (1896-1971)

Chân dung Tô Ngọc Vân (1942), được cho là vẽ
bởi Joseph Inguimberty [?] (1896-1971)

Theo nguồn https://www.pinterest.fr/pin/536702480575738253/; tuy nhiên, trên vấn đề này, người viết xin chân thành cảm tạ nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi đã cho biết ông hoàn toàn đặt nghi vấn về tính đích thực của bức tranh này: xin được cảnh báo cùng quý bạn đọc.

Description du lot
Joseph Inguimberty (1896-1971)
PORTRAIT OF THE PAINTER TO NGOC VAN (1942)
Oil on panel framed, signed, dedicated, dated and situated Hanoi in 1942
on the back. Size 60x48 cm.
Tô Ngoc Vân (1906 or 1908-1954) painter and art critic, is considered the first Vietnamese artist to have used the oil painting in Indochina. Professor at the School of Fine Arts, he exerted considerable influence on a whole generation of artists Indochinese. Several of his works are exhibited at the National Museum of Fine Arts of Vietnam.
To Ngoc Van fixed us, laughing eyes and cherry lips a hint of a smile. The very tight framing - typical of the art of the portrait of Joseph Inguimberty gives the model a charming and seductive portrait. This is in suit and tie the painter chooses to ask, hair slicked to Western fashion of that time, not as the architect for his brushes, reminding us thereby its privileged status of Professor of Fine Arts .

Nguồn: Tuyệt phẩm Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ - Bùi Đức Hào, 10/04/2018, Dien Dan Forum.


Art Valorem

INDOCHINE Mythes Et Réalités 1860-1945
Lundi 23 Mai 2016 13:30
Drouot Richelieu - Salle 6 - salle 6 - 9, rue Drouot 75009 Paris

LOT 141
5 000 - 8 000 €
Joseph INGUIMBERTY (1896-1971)

Portrait du peintre To Ngoc Van (1942)
Huile sur panneau encadrée, signée, dédicacée, datée et située Hanoï 1942 au dos.
Dimensions 60x48 cm.
Tô Ngoc Vân (1906 ou 1908 - 1954) peintre et critique d'art, est considéré comme le premier artiste vietnamien à avoir utilisé la peinture à l'huile en Indochine.
Professeur à l' École des Beaux-Arts, il a exercé une influence considérable sur toute une génération d'artistes indochinois.
Plusieurs de ses oeuvres sont exposées au Musée national des Beaux-Arts du Vietnam.
To Ngoc Van nous fixe, yeux rieurs et lèvres cerise esquissant un léger sourire.
Le cadrage très resserré - typique de l'art du portrait de Joseph Inguimberty donne du modèle un portrait charmant et séduisant.
C'est en costume-cravate que le peintre choisit de poser, les cheveux gominés à la mode occidentale de cette époque, et non comme l'artisan à ses pinceaux, nous rappelant par là-même son statut privilégié de professeur des Beaux-Arts






Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến.








Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân - Ký họa của Lê Thị Lựu - Đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn Số 67, 25 Tháng Chín 1930.

PORTRAIT DU PEINTRE TO NGOC VAN (1942)

Joseph Inguimberty [?] (1896-1971)

Chân dung Tô Ngọc Vân (1942), được cho là vẽ
bởi Joseph Inguimberty [?] (1896-1971)

Theo nguồn https://www.pinterest.fr/pin/536702480575738253/; tuy nhiên, trên vấn đề này, người viết xin chân thành cảm tạ nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi đã cho biết ông hoàn toàn đặt nghi vấn về tính đích thực của bức tranh này: xin được cảnh báo cùng quý bạn đọc.

Description du lot
Joseph Inguimberty (1896-1971)
PORTRAIT OF THE PAINTER TO NGOC VAN (1942)
Oil on panel framed, signed, dedicated, dated and situated Hanoi in 1942
on the back. Size 60x48 cm.
Tô Ngoc Vân (1906 or 1908-1954) painter and art critic, is considered the first Vietnamese artist to have used the oil painting in Indochina. Professor at the School of Fine Arts, he exerted considerable influence on a whole generation of artists Indochinese. Several of his works are exhibited at the National Museum of Fine Arts of Vietnam.
To Ngoc Van fixed us, laughing eyes and cherry lips a hint of a smile. The very tight framing - typical of the art of the portrait of Joseph Inguimberty gives the model a charming and seductive portrait. This is in suit and tie the painter chooses to ask, hair slicked to Western fashion of that time, not as the architect for his brushes, reminding us thereby its privileged status of Professor of Fine Arts .

Nguồn: Tuyệt phẩm Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ - Bùi Đức Hào, 10/04/2018, Dien Dan Forum.


Art Valorem

INDOCHINE Mythes Et Réalités 1860-1945
Lundi 23 Mai 2016 13:30
Drouot Richelieu - Salle 6 - salle 6 - 9, rue Drouot 75009 Paris

LOT 141
5 000 - 8 000 €
Joseph INGUIMBERTY (1896-1971)

Portrait du peintre To Ngoc Van (1942)
Huile sur panneau encadrée, signée, dédicacée, datée et située Hanoï 1942 au dos.
Dimensions 60x48 cm.
Tô Ngoc Vân (1906 ou 1908 - 1954) peintre et critique d'art, est considéré comme le premier artiste vietnamien à avoir utilisé la peinture à l'huile en Indochine.
Professeur à l' École des Beaux-Arts, il a exercé une influence considérable sur toute une génération d'artistes indochinois.
Plusieurs de ses oeuvres sont exposées au Musée national des Beaux-Arts du Vietnam.
To Ngoc Van nous fixe, yeux rieurs et lèvres cerise esquissant un léger sourire.
Le cadrage très resserré - typique de l'art du portrait de Joseph Inguimberty donne du modèle un portrait charmant et séduisant.
C'est en costume-cravate que le peintre choisit de poser, les cheveux gominés à la mode occidentale de cette époque, et non comme l'artisan à ses pinceaux, nous rappelant par là-même son statut privilégié de professeur des Beaux-Arts






Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến.








Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân - Ký họa của Lê Thị Lựu - Đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn Số 67, 25 Tháng Chín 1930.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Trí, Vân, Lân, Cẩn - Bốn đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam

Trí, Vân, Lân, Cẩn - Bốn đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam

Gửi đến từ LDCT Nhãn Sưu Tầm

Bài nầy chỉ là một góp nhặt và tổng hợp những tài liệu và tranh ảnh trên mạng để người đọc và cả người viết có một ý niệm đại cương về bốn danh họa bậc thầy của Việt Nam.



[...]

Tô Ngọc Vân

• Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời
• Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa. TNV
Tô Ngoc Vân (1906 – 1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh sơn dâu tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Ông la một trong bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn). Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.

Tiểu Sử
Tô Ngọc Vân sinh cuối năm 1906 tại Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội.[1]
Họa sĩ Tô Ngọc Vân mất năm 1954 tại Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do bom của máy bay Pháp, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ.

Sự nghiệp
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1906 (một vài tài liệu ghi là 1908) tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Những năm học ở đây, Tô Ngọc Vân hăng say tiếp nhận những kiến thức về nghệ thuật tạo hình mới của châu Âu, đặc biệt là lối sử dụng chất liệu sơn dầu. Năm 1932, tác phẩm “Bức thư” (tranh lụa) của ông được tặng bằng danh dự của Hội các họa sĩ Pháp và được thưởng Huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Paris. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế... Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí. Ông hợp tác với các báo Phong Hóa và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị.[2]
Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.[3]
Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ": nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Ông đã viết những dòng tự sự ...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới.... Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp duyên dáng của người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ. Hai tác phâm Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) và Hai thiếu nữ và em bé (1944) sau đây có thể xem là tiêu biểu của những dòng tự sự đó.
Thiếu nữ bên hoa huệ Hai thiếu nữ và em bé, 1944.
Nhưng không chỉ có vậy ở những bức ký họa của ông lại tái hiện cả một giai đoạn lịch sử với hiện thực cuộc sống con người. Cuộc sống ở vùng nông thôn với những con người hiền hòa chân chất, những lão nông điền, những người phụ nữ lam lũ hiện ra qua những bức phác thảo của ông. Một bà cụ bán hàng nước, những ngôi làng bình dị và cuộc sống thường nhật của người nông dân được tái hiện đơn giản trên giấy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thiếu thốn của dân tộc. Có khi là hình ảnh cả dãy phố hoang tàn của thị xã Phú Thọ hay những ngôi làng vắng vẻ mà người dân đã tiêu thổ để kháng chiến. Chợ Tết cũng được Tô Ngọc Vân thu vào nét vẽ của mình với hình ảnh nét mặt buồn bã của một cái Tết đi chạy tản cư.
Ở góc độ này chúng ta nhìn rõ hơn những người nông dân đi bán cành đào trong đó có cả những người dân tộc Mường. Điều giống nhau trong bức vẽ đó là hiện diện một cái tết đói kém buồn bã... Tất cả cho thấy mỗi bức họa thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận của nhân vật. Và về điều này gia tài của ông chính là bức tranh phản ánh hiện thực xã hội của đất nước trong một giai đoạn mà ông được vinh dự chứng kiến.
Tô Ngọc Vân cũng có một tuyên ngôn “Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời” cho quan niệm sáng tác của mình. Tuyên ngôn trên của Tô Ngọc Vân chấp nhận nghệ thuật là một phương tiện diễn đạt cảm giác mạnh mẽ chứ không phải là một sự nghiên cứu để hoàn mỹ những hình thức lý tưởng của cái đẹp. Theo ông hội họa phải tìm thấy tầm thước con người trong thiên nhiên, con người có cảm xúc. Ông viết “Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa”.
Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem tiên nữ Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Campuchia, một vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam.
Họa sĩ đã được nhiều giải thưởng về Nghệ thuật và Mỹ thuật như Giải nhất Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 11/1954 tại Hà Nội, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam và cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên Thủy Tinh (Mercury) hay Sao Thủy.[4]
Tại Hà Nội, tên ông được đặt cho con phố nhỏ phía Đông Bắc Hồ Tây, đường Xuân Diệu vào làng Quảng Bá, tới ngã ba hồ bơi Quảng Bá, ngoặt bên trái đi tới cổng nhà nghỉ Công ty Khách sạn và Du lịch công đoàn Hà Nội. Dài 530m.

Tài liệu
1. Tô Ngọc Vân: Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906 - 1954, Phan Cẩm Thượng, Nhà xuất bản Tri Thức, 2013.
2. Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1), Soi
3. 6. 12: Nghe Phan Cẩm Thượng nói về ký họa Tô Ngọc Vân, Soi
4. “Mercury: To_Ngoc_Van”. USGS. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2009.
5. Tô ngoc Vân – Wikipedia tiếng Việt
6. www.invaluable.com › Artists › Tô Ngoc Vân

Vài tác phẩm của Tô ngọc Vân
Vì tài liệu khó tìm về tên tác phẩm nguyên thủy, người sưu tầm bài viết nầy xin cáo lỗi cùng bạn đọc với những tên bằng ngoại ngữ trong vài tác phẩm của Họa sĩ.
Thiếu nữ bên hoa huệ - 1943 Tô Ngoc Vân
Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Tranh thể hiện chân dung thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng mình về phía bình huệ tây trắng (hoa loa kèn). Hình dáng cô gái cùng không gian toát lên nét dung dị, buồn vương nhẹ nhàng.
Hai thiếu nữ và em bé, sơn dầu, 101 x 78,4 cm, 1944 Tô Ngoc Vân Tác phẩm được xếp hạng bảo vật quốc gia số 65 Tác phẩm vẽ một không gian thanh bình, hai phụ nữ mặc áo dài hàn huyên bên hiên nhà. Bên cạnh họ là bé trai ngồi chơi. Tranh có bố cục của hội họa phương Tây nhưng không gian và trang phục nhân vật nữ gợi không khí Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Thiếu nữ bên hoa sen – 1944 Tô Ngoc Vân Người mẫu cho bức tranh là cô Sáu - một người làm mẫu tranh nổi tiếng tại Hà Nội những năm 1940 - Cô từng xuất hiện trong tranh nhiều họa sĩ nổi tiếng như: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị.

Buổi trưa – Tô Ngọcvân - 1936, Sơn dầu
Thiếu nữ ngắm tranh – Tô Ngọc Vân - 1938, sơn dầu
Học thêu Tô Ngọc Vân (1932) – màu nước trên lụa, 68 x 68 cm. (26.8 x 26.8 in.)
Chị em - Tô Ngọc Vân 1932, lụa, 93 x 57 cm. (36.6 x 22.4 in.)
Thuyền trên sông Hương – Tô Ngọc Vân - 1935 50 x 65 cm. (19.7 x 25.6 in.)
Làng quê –Tô Ngọc Vân – 1929 90 x 60 cm. (35.4 x 23.6 in.)
Đền Angkor, Tô Ngọc Vân 1936, 37 x 46.5 cm. (14.6 x 18.3 in.)
Angkor, Tô Ngọc Vân 1935 - 53 x 62.5 cm. (20.9 x 24.6 in.)
Nghỉ chân bên đồi - Tô Ngọc Vân 1953, Sơn mài
La Rencontre Tô Ngọc Vân - 89 x 150 cm. (35 x 59.1 in.)
Ba cô gái Thái - Tô Ngọc Vân
Đốt đuốc đi học - Tô Ngọc Vân – 1954, màu nước. Bảo tàng My thuật Việt Nam
Hai vệ quốc quân– Tô Ngọc Vân
Trong bệnh viện – Tô Ngọc Vân 1951
1946, màu nước
Hà Thành - Tô Ngọc Vân
Bừa trên đồi - Tô Ngọc Vân 1953, Tranh bột màu
Tem Apsara - Bộ tem bưu chính Đông Dương - Tô Ngọc Vân
Đèo Lũng Lô – Tô Ngọc Vân Bức họa sau cùng?
Trí, Vân, Lân, Cẩn
Thiếu nữ tự kỷ - Tô Ngọc Vân


Gửi đến từ LDCT Nhãn Sưu Tầm
Nguồn: Blog Nhóm sinh viên Plan Colombo 1964 - Friday, December 30, 2016

Trí, Vân, Lân, Cẩn - Bốn đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam

Gửi đến từ LDCT Nhãn Sưu Tầm

Bài nầy chỉ là một góp nhặt và tổng hợp những tài liệu và tranh ảnh trên mạng để người đọc và cả người viết có một ý niệm đại cương về bốn danh họa bậc thầy của Việt Nam.



[...]

Tô Ngọc Vân

• Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời
• Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa. TNV
Tô Ngoc Vân (1906 – 1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh sơn dâu tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Ông la một trong bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn). Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.

Tiểu Sử
Tô Ngọc Vân sinh cuối năm 1906 tại Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội.[1]
Họa sĩ Tô Ngọc Vân mất năm 1954 tại Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do bom của máy bay Pháp, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ.

Sự nghiệp
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1906 (một vài tài liệu ghi là 1908) tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Những năm học ở đây, Tô Ngọc Vân hăng say tiếp nhận những kiến thức về nghệ thuật tạo hình mới của châu Âu, đặc biệt là lối sử dụng chất liệu sơn dầu. Năm 1932, tác phẩm “Bức thư” (tranh lụa) của ông được tặng bằng danh dự của Hội các họa sĩ Pháp và được thưởng Huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Paris. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế... Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí. Ông hợp tác với các báo Phong Hóa và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị.[2]
Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.[3]
Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ": nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Ông đã viết những dòng tự sự ...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới.... Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp duyên dáng của người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ. Hai tác phâm Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) và Hai thiếu nữ và em bé (1944) sau đây có thể xem là tiêu biểu của những dòng tự sự đó.
Thiếu nữ bên hoa huệ Hai thiếu nữ và em bé, 1944.
Nhưng không chỉ có vậy ở những bức ký họa của ông lại tái hiện cả một giai đoạn lịch sử với hiện thực cuộc sống con người. Cuộc sống ở vùng nông thôn với những con người hiền hòa chân chất, những lão nông điền, những người phụ nữ lam lũ hiện ra qua những bức phác thảo của ông. Một bà cụ bán hàng nước, những ngôi làng bình dị và cuộc sống thường nhật của người nông dân được tái hiện đơn giản trên giấy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thiếu thốn của dân tộc. Có khi là hình ảnh cả dãy phố hoang tàn của thị xã Phú Thọ hay những ngôi làng vắng vẻ mà người dân đã tiêu thổ để kháng chiến. Chợ Tết cũng được Tô Ngọc Vân thu vào nét vẽ của mình với hình ảnh nét mặt buồn bã của một cái Tết đi chạy tản cư.
Ở góc độ này chúng ta nhìn rõ hơn những người nông dân đi bán cành đào trong đó có cả những người dân tộc Mường. Điều giống nhau trong bức vẽ đó là hiện diện một cái tết đói kém buồn bã... Tất cả cho thấy mỗi bức họa thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận của nhân vật. Và về điều này gia tài của ông chính là bức tranh phản ánh hiện thực xã hội của đất nước trong một giai đoạn mà ông được vinh dự chứng kiến.
Tô Ngọc Vân cũng có một tuyên ngôn “Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời” cho quan niệm sáng tác của mình. Tuyên ngôn trên của Tô Ngọc Vân chấp nhận nghệ thuật là một phương tiện diễn đạt cảm giác mạnh mẽ chứ không phải là một sự nghiên cứu để hoàn mỹ những hình thức lý tưởng của cái đẹp. Theo ông hội họa phải tìm thấy tầm thước con người trong thiên nhiên, con người có cảm xúc. Ông viết “Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa”.
Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem tiên nữ Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Campuchia, một vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam.
Họa sĩ đã được nhiều giải thưởng về Nghệ thuật và Mỹ thuật như Giải nhất Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 11/1954 tại Hà Nội, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam và cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên Thủy Tinh (Mercury) hay Sao Thủy.[4]
Tại Hà Nội, tên ông được đặt cho con phố nhỏ phía Đông Bắc Hồ Tây, đường Xuân Diệu vào làng Quảng Bá, tới ngã ba hồ bơi Quảng Bá, ngoặt bên trái đi tới cổng nhà nghỉ Công ty Khách sạn và Du lịch công đoàn Hà Nội. Dài 530m.

Tài liệu
1. Tô Ngọc Vân: Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906 - 1954, Phan Cẩm Thượng, Nhà xuất bản Tri Thức, 2013.
2. Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1), Soi
3. 6. 12: Nghe Phan Cẩm Thượng nói về ký họa Tô Ngọc Vân, Soi
4. “Mercury: To_Ngoc_Van”. USGS. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2009.
5. Tô ngoc Vân – Wikipedia tiếng Việt
6. www.invaluable.com › Artists › Tô Ngoc Vân

Vài tác phẩm của Tô ngọc Vân
Vì tài liệu khó tìm về tên tác phẩm nguyên thủy, người sưu tầm bài viết nầy xin cáo lỗi cùng bạn đọc với những tên bằng ngoại ngữ trong vài tác phẩm của Họa sĩ.
Thiếu nữ bên hoa huệ - 1943 Tô Ngoc Vân
Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Tranh thể hiện chân dung thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng mình về phía bình huệ tây trắng (hoa loa kèn). Hình dáng cô gái cùng không gian toát lên nét dung dị, buồn vương nhẹ nhàng.
Hai thiếu nữ và em bé, sơn dầu, 101 x 78,4 cm, 1944 Tô Ngoc Vân Tác phẩm được xếp hạng bảo vật quốc gia số 65 Tác phẩm vẽ một không gian thanh bình, hai phụ nữ mặc áo dài hàn huyên bên hiên nhà. Bên cạnh họ là bé trai ngồi chơi. Tranh có bố cục của hội họa phương Tây nhưng không gian và trang phục nhân vật nữ gợi không khí Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Thiếu nữ bên hoa sen – 1944 Tô Ngoc Vân Người mẫu cho bức tranh là cô Sáu - một người làm mẫu tranh nổi tiếng tại Hà Nội những năm 1940 - Cô từng xuất hiện trong tranh nhiều họa sĩ nổi tiếng như: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị.

Buổi trưa – Tô Ngọcvân - 1936, Sơn dầu
Thiếu nữ ngắm tranh – Tô Ngọc Vân - 1938, sơn dầu
Học thêu Tô Ngọc Vân (1932) – màu nước trên lụa, 68 x 68 cm. (26.8 x 26.8 in.)
Chị em - Tô Ngọc Vân 1932, lụa, 93 x 57 cm. (36.6 x 22.4 in.)
Thuyền trên sông Hương – Tô Ngọc Vân - 1935 50 x 65 cm. (19.7 x 25.6 in.)
Làng quê –Tô Ngọc Vân – 1929 90 x 60 cm. (35.4 x 23.6 in.)
Đền Angkor, Tô Ngọc Vân 1936, 37 x 46.5 cm. (14.6 x 18.3 in.)
Angkor, Tô Ngọc Vân 1935 - 53 x 62.5 cm. (20.9 x 24.6 in.)
Nghỉ chân bên đồi - Tô Ngọc Vân 1953, Sơn mài
La Rencontre Tô Ngọc Vân - 89 x 150 cm. (35 x 59.1 in.)
Ba cô gái Thái - Tô Ngọc Vân
Đốt đuốc đi học - Tô Ngọc Vân – 1954, màu nước. Bảo tàng My thuật Việt Nam
Hai vệ quốc quân– Tô Ngọc Vân
Trong bệnh viện – Tô Ngọc Vân 1951
1946, màu nước
Hà Thành - Tô Ngọc Vân
Bừa trên đồi - Tô Ngọc Vân 1953, Tranh bột màu
Tem Apsara - Bộ tem bưu chính Đông Dương - Tô Ngọc Vân
Đèo Lũng Lô – Tô Ngọc Vân Bức họa sau cùng?
Trí, Vân, Lân, Cẩn
Thiếu nữ tự kỷ - Tô Ngọc Vân


Gửi đến từ LDCT Nhãn Sưu Tầm
Nguồn: Blog Nhóm sinh viên Plan Colombo 1964 - Friday, December 30, 2016

NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN

NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN


Nguyễn Tấn Đạt

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15-12 năm 1906 tại Hà Nội (có tài liệu ghi là năm 1908)(phố Hàng Quạt). Quê ông ở làng Xuân Cầu huyện Văn Giang, Hưng Yên. Bố là Tô Văn Phú (mất năm 1949) - mẹ là Nguyễn Thị Nhớn (mất năm 1965), gia đình bố thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, gia đình mẹ thuộc dòng dõi nhà nho nghèo ở nông thôn. Nghèo không có điền thổ sống bằng tiểu thương. Từ năm lên 6 tuổi vì cha mẹ nghèo phải nhờ bà nội và một người cô nuôi hộ. Thời kỳ này vừa đi học vừa phải giúp việc lao động cho gia đình nuôi mình. Ở đây khó nhọc bị hắt hủi, hành hạ, lớn lên cũng ở đấy (phố hàng Bông Lờ Hà). Mỗi năm gặp bố mẹ vài lần, sống một mình trong ý nghĩ và tình cảm. Học hết năm thứ ba trường Buởi (trung học). Vốn thích vẽ từ thuở bé nên quyết tâm bỏ trường Bưởi để ra ngoài tập vẽ thêm rồi khoá sau thi vào trường mỹ thuật. Tập ở lớp dự bị được vài tháng rồi thi đỗ chính thức: Khoá 2 trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương (khoa sơn dầu) 1926-1931. Thi ra ông đỗ nhất khoá. Đoạn đời này đẹp nhất từ bé đến đây. Vừa được học theo sở hướng vừa thoát khỏi gia đình nuôi mình mà mình có ác cảm. Mặc khác đời sống không khó nhọc thiếu thốn như trước.


Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân

NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC VÂN


Nguyễn Tấn Đạt

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15-12 năm 1906 tại Hà Nội (có tài liệu ghi là năm 1908)(phố Hàng Quạt). Quê ông ở làng Xuân Cầu huyện Văn Giang, Hưng Yên. Bố là Tô Văn Phú (mất năm 1949) - mẹ là Nguyễn Thị Nhớn (mất năm 1965), gia đình bố thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, gia đình mẹ thuộc dòng dõi nhà nho nghèo ở nông thôn. Nghèo không có điền thổ sống bằng tiểu thương. Từ năm lên 6 tuổi vì cha mẹ nghèo phải nhờ bà nội và một người cô nuôi hộ. Thời kỳ này vừa đi học vừa phải giúp việc lao động cho gia đình nuôi mình. Ở đây khó nhọc bị hắt hủi, hành hạ, lớn lên cũng ở đấy (phố hàng Bông Lờ Hà). Mỗi năm gặp bố mẹ vài lần, sống một mình trong ý nghĩ và tình cảm. Học hết năm thứ ba trường Buởi (trung học). Vốn thích vẽ từ thuở bé nên quyết tâm bỏ trường Bưởi để ra ngoài tập vẽ thêm rồi khoá sau thi vào trường mỹ thuật. Tập ở lớp dự bị được vài tháng rồi thi đỗ chính thức: Khoá 2 trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương (khoa sơn dầu) 1926-1931. Thi ra ông đỗ nhất khoá. Đoạn đời này đẹp nhất từ bé đến đây. Vừa được học theo sở hướng vừa thoát khỏi gia đình nuôi mình mà mình có ác cảm. Mặc khác đời sống không khó nhọc thiếu thốn như trước.


Thiếu nữ bên hoa Huệ và những tác phẩm nổi tiếng của danh họa Tô Ngọc Vân

Video "Hà Nội của chúng ta | Phố Tô Ngọc Vân - Lịch sử đình làng Quảng Bá"

Hà Nội của chúng ta | Phố Tô Ngọc Vân - Lịch sử đình làng Quảng Bá

Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội * HANOITV



Nguồn: Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội * HANOITV - 27/05/2018

Hà Nội của chúng ta | Phố Tô Ngọc Vân - Lịch sử đình làng Quảng Bá

Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội * HANOITV



Nguồn: Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội * HANOITV - 27/05/2018

Video "Nhìn lại xã hội Việt Nam qua các bức ký họa của Tô Ngọc Vân" - ĐÀI RFI/Lê Hải

Video về Tô Ngọc Vân

Nhìn lại xã hội Việt Nam qua các bức ký họa của Tô Ngọc Vân

ĐÀI RFI/Lê Hải



Xem: Bài viết



Nguồn: Youtube, ĐÀI RFI/Lê Hải - TAP CHI VAN HOA Phát Thứ Sáu, ngày 15 tháng 1 năm 2016

Youtube - cuong nguyen - Xuất bản 7 thg 6, 2018

Video về Tô Ngọc Vân

Nhìn lại xã hội Việt Nam qua các bức ký họa của Tô Ngọc Vân

ĐÀI RFI/Lê Hải



Xem: Bài viết



Nguồn: Youtube, ĐÀI RFI/Lê Hải - TAP CHI VAN HOA Phát Thứ Sáu, ngày 15 tháng 1 năm 2016

Youtube - cuong nguyen - Xuất bản 7 thg 6, 2018

Video "Danh họa Tô Ngọc Vân"

Video về Tô Ngọc Vân

Danh họa Tô Ngọc Vân

OurVietnamChannel





Nguồn: OurVietnamChannel - Thăng Long Nhân Kiệt - tap 94-TO NGOC VAN

Video về Tô Ngọc Vân

Danh họa Tô Ngọc Vân

OurVietnamChannel





Nguồn: OurVietnamChannel - Thăng Long Nhân Kiệt - tap 94-TO NGOC VAN

Video "Họa sĩ Tô Ngọc Vân và tinh thần dân tộc trong nghệ thuật"

Họa sĩ Tô Ngọc Vân và tinh thần dân tộc trong nghệ thuật

Video của Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên.


"Họa sĩ Tô Ngọc Vân và tinh thần dân tộc trong nghệ thuật" - Video của Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên.


Nguồn: Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên. - Phóng sự và Phim tài liệu, 14/12/2011.


Họa sĩ Tô Ngọc Vân và tinh thần dân tộc trong nghệ thuật

Video của Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên.


"Họa sĩ Tô Ngọc Vân và tinh thần dân tộc trong nghệ thuật" - Video của Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên.


Nguồn: Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên. - Phóng sự và Phim tài liệu, 14/12/2011.


Danh họa Tô Ngọc Vân (1906-1954) - Tác phẩm

Tác phẩm (sưu tầm trên mạng)


Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925, Tô Ngọc Vân là sinh viên khóa 2 (1926 - 1931). Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạnh những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.
Ông hiệu trưởng người Pháp Victor Tardieu (1867 - 1937, vốn rất tiết kiệm lời khen, cũng đã từng khen ngợi Tô Ngọc Vân.
Những năm trên ghế nhà trường, ông tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới với sự hăng say không biết mệt mỏi.
LES JONQUES VIETNAMIENNES



Phương pháp tạo hình mới, đặc biệt là chất liệu sơn dầu, có sức cuốn hút mạnh mẽ, bởi ông nhận thức nghệ thuật của môn này đã giúp diễn đạt được những tình cảm rạo rực, xao xuyến trong tâm hồn của nghệ sĩ đứng trước cảnh vật. Với Bức thư (1931), Tô Ngọc Vân đã tỏ thiện cảm với những cô gái lao động nền nã bên khung cửi qua những tình cảm kín đáo, đoan trang.
Đó là sự dè dặt của một khuynh hướng. Sau này Tô Ngọc Vân thể hiện sâu đậm hơn người phụ nữ với sự đồng cảm trân trọng. Đây là lúc họa sĩ vẽ nhiều về phong cảnh đẹp bằng sơn dầu như ánh Mặt trời, Bụi chuối ngoài nắng, Trời dịu...
Thành công của họa sĩ không chỉ ở trong nước mà còn góp phần mang tiếng nói của nghệ thuật Việt Nam đến với nhiều nước. Năm 1931, tranh sơn dầu Bức thư được tặng bằng danh dự ở Triển lãm hội họa Pháp và được thưởng huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Paris.

Năm 1931, sau khi tốt nghiệp, ông cộng tác với báo Nhân loại, Phong hóa, Ngày nay và cuối cùng là Thanh Nghị với bút danh Tô Tử, Ái Mỹ. Năm 1935, ông được Pháp bổ dụng đi dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia). Ở đây, ngoài giờ giảng dạy, ông đi vẽ phong cảnh và sư sãi.
1 Thuyền sông Hương (1935) CHRISTIE'S
2 Angkor Original (1935).
4 Sans Titre Original

Năm 1938, Tô Ngọc Vân trở về Hà Nội dạy ở Trường trung học Bưởi. Đến năm 1939, ông là giảng viên Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Đề tài chủ yếu trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Ngọc Vân là người đàn bà thành thị.
Từ tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng - tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ.

Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.

Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ… Ngay trong lần triển lãm đầu tiên tại Hà Nội, bức họa đã được nhiều người chú ý. Năm 1945, "Thiếu nữ bên hoa huệ" được trưng bày tại nhà Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội) cùng với tranh của Nguyễn Đỗ Cung, Lê Văn Đệ… Bác Hồ đã đến xem triển lãm này.
Ở Tô Ngọc Vân, hội họa Tây Âu tuy đã đi vào lý trí nhưng lại thông qua tâm hồn dân tộc, chính điều này đã làm cho tranh sơn dầu của ông có màu sắc riêng, đạt đến độ ổn định. Ông đã sớm đoạt Huy chương Vàng- triển lãm thuộc địa tại Paris với bức sơn dầu "Bức thư". Tiếp theo đó là một loạt các sáng tác khác, cho đến nay đã thuộc vào kho báu nghệ thuật hội họa Việt Nam hiện đại: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Gia đình Việt Nam, Duới bóng nắng, Buổi trưa, Hai thiếu nữ và em bé...

8 Chân dung thiếu nữ.
9 Thiếu nữ ngắm tranh (1938)







10 Buổi trưa (1936).
11 Thiếu nữ bên hoa sen (1944).








15
16 Chị cốt cán.
17
18 Hai chiến sĩ (màu nước - 1949).

19 Đốt đuốc đi học. 1954, thuốc nước. Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam




Tác phẩm (sưu tầm trên mạng)


Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925, Tô Ngọc Vân là sinh viên khóa 2 (1926 - 1931). Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạnh những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.
Ông hiệu trưởng người Pháp Victor Tardieu (1867 - 1937, vốn rất tiết kiệm lời khen, cũng đã từng khen ngợi Tô Ngọc Vân.
Những năm trên ghế nhà trường, ông tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới với sự hăng say không biết mệt mỏi.
LES JONQUES VIETNAMIENNES



Phương pháp tạo hình mới, đặc biệt là chất liệu sơn dầu, có sức cuốn hút mạnh mẽ, bởi ông nhận thức nghệ thuật của môn này đã giúp diễn đạt được những tình cảm rạo rực, xao xuyến trong tâm hồn của nghệ sĩ đứng trước cảnh vật. Với Bức thư (1931), Tô Ngọc Vân đã tỏ thiện cảm với những cô gái lao động nền nã bên khung cửi qua những tình cảm kín đáo, đoan trang.
Đó là sự dè dặt của một khuynh hướng. Sau này Tô Ngọc Vân thể hiện sâu đậm hơn người phụ nữ với sự đồng cảm trân trọng. Đây là lúc họa sĩ vẽ nhiều về phong cảnh đẹp bằng sơn dầu như ánh Mặt trời, Bụi chuối ngoài nắng, Trời dịu...
Thành công của họa sĩ không chỉ ở trong nước mà còn góp phần mang tiếng nói của nghệ thuật Việt Nam đến với nhiều nước. Năm 1931, tranh sơn dầu Bức thư được tặng bằng danh dự ở Triển lãm hội họa Pháp và được thưởng huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Paris.

Năm 1931, sau khi tốt nghiệp, ông cộng tác với báo Nhân loại, Phong hóa, Ngày nay và cuối cùng là Thanh Nghị với bút danh Tô Tử, Ái Mỹ. Năm 1935, ông được Pháp bổ dụng đi dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia). Ở đây, ngoài giờ giảng dạy, ông đi vẽ phong cảnh và sư sãi.
1 Thuyền sông Hương (1935) CHRISTIE'S
2 Angkor Original (1935).
4 Sans Titre Original

Năm 1938, Tô Ngọc Vân trở về Hà Nội dạy ở Trường trung học Bưởi. Đến năm 1939, ông là giảng viên Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Đề tài chủ yếu trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Ngọc Vân là người đàn bà thành thị.
Từ tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng - tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ.

Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.

Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ… Ngay trong lần triển lãm đầu tiên tại Hà Nội, bức họa đã được nhiều người chú ý. Năm 1945, "Thiếu nữ bên hoa huệ" được trưng bày tại nhà Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội) cùng với tranh của Nguyễn Đỗ Cung, Lê Văn Đệ… Bác Hồ đã đến xem triển lãm này.
Ở Tô Ngọc Vân, hội họa Tây Âu tuy đã đi vào lý trí nhưng lại thông qua tâm hồn dân tộc, chính điều này đã làm cho tranh sơn dầu của ông có màu sắc riêng, đạt đến độ ổn định. Ông đã sớm đoạt Huy chương Vàng- triển lãm thuộc địa tại Paris với bức sơn dầu "Bức thư". Tiếp theo đó là một loạt các sáng tác khác, cho đến nay đã thuộc vào kho báu nghệ thuật hội họa Việt Nam hiện đại: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Gia đình Việt Nam, Duới bóng nắng, Buổi trưa, Hai thiếu nữ và em bé...

8 Chân dung thiếu nữ.
9 Thiếu nữ ngắm tranh (1938)







10 Buổi trưa (1936).
11 Thiếu nữ bên hoa sen (1944).








15
16 Chị cốt cán.
17
18 Hai chiến sĩ (màu nước - 1949).

19 Đốt đuốc đi học. 1954, thuốc nước. Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam