Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết của Tô Ngọc Vân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2022

Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại

Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại

Tô Ngọc Vân

Trường Mỹ thuật, năm đầu tiên sáng lập, ở khu vực vườn Dufeur, cũng trong phạm vi của Trường Mỹ thuật bây giờ. Đó là một sưởng lớn, lợp kẽm trước kia chứa xẻng cuốc của sở Lục-lộ, năm 1925, vừa là tư thất của ông Đốc Tardieu, vừa là chỗ họp của những người mới được tuyển. Giữa cái ổ đầu tiên của Mỹ thuật Việt Nam hiện đại ấy có những bức tranh vĩ đại của Tardieu, hiện giờ dán ở giảng đường trường Cao đẳng, hồi ấy chưa mờ đi vì rêu mốc như ngày nay, lúc nào cũng rực lên cái ánh sáng vàng đỏ của màu cam chín. Trước mặt, một cái thang dài đứng lêu nghêu, tới tận đỉnh tranh, và kêu răng rắc mỗi khi ông Tardieu nặng nề bước lên để vẽ vào bức họa. Cái thang ấy, ngày ngày ở cao nhìn xuống chúng tôi tụm nhau dưới chân nó, như vừa thiện cảm vừa tinh nghịch thóc mách. Suốt buổi nó ngắm cái đầu rối bù rất mỹ thuật và muốn có trật tự của Lê Phổ, lúc nào cũng trịnh trọng trên vòng cổ cồn cứng gẫy góc, chung quanh thắt cà-vạt đen dài. Nó ranh mãnh chứng kiến cái chuyện chẳng may của chàng Nguyễn Phan Chánh, cứ một ngày lại y như thế xảy ra hai lần, sáng và chiều. Số là chàng có cái ô bạc màu mỗi buổi đi theo chàng mà chàng nhất định giữ bên mình không rời trong khi ngồi vẽ. Ông Tardieu hôm đầu thấy thế không sợ mích lòng chàng, đem cái ô cài vào mình thang, nhưng… buổi sau, sau nữa, và buổi nào cũng thế, công việc giữ ô cạnh mình là của chàng Phan Chánh, công việc cài ô vào thang là của ông Đốc Tardieu. Còn công việc cái thang lêu nghêu của chúng tôi là mỗi lần ô đặt lên mình nó lại kêu “cắc!”, nện xuống như chế nhạo, đếm thêm một lần.

Victor Tardieu và bức tranh trang trí vẽ trên vải dán tường thực hiện cho Giảng đường lớn Trường Đại học Đông Dương (Khoa Y học) thời gian đang còn ở địa điểm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (hoàn thành năm 1927)

 

Ông Trần Phềnh (người thứ 3 từ trái sang) cùng một nhóm kịch người Pháp tại bậc thềm Nhà hát lớn Hà Nội. Khoảng 1917-1918

 

Ngồi góc kia là Mai Trung Thứ, môi ưỡn ra, hai mắt lồi bật như muốn chạy lên mình người khỏa thân đứng kiểu mà chàng đang kiên tâm chép họa hình thể. Ngồi góc này là Lê Văn Đệ cũng mải miết, cũng kiên tâm, và thỉnh thoảng thích chí cái gì không ai rõ, cười phì ra một hơi, như chiếc pháo sì bất ngờ lên tiếng…

Nếu trường Mỹ thuật không có! Bao nhiêu lòng nhiệt thành ham yêu mỹ thuật đã đem phung phí trong một nghệ thuật bất chính rồi con gì! Ông trời ở nghệ thuật ấy là ông Trần Phềnh, họa sĩ mà trước kia chúng tôi rất phục tài và coi như cái đích tuyệt cao khó tới. Nghệ thuật của ông cốt ở sự khéo tay, quen tay; cái tài là bịa những màu xanh đỏ bôi lên hình thể đã chép theo đúng những bức ảnh, không cần đến sự rung cảm của nghệ sĩ.
Kỳ thi thứ nhất vào trường Mỹ thuật, ông Phềnh đến dự. Chúng tôi thèm thuồng nhìn ông, nghĩ rằng địa vị ông không phải để làm học trò trường Mỹ thuật, mà để vào dạy đấy. Trong phòng thi bài vẽ “người khoả thân” người ta trố mắt theo nhịp tay ông lượn trên trang vẽ; đưa lên lần lượt lấy một đống gài ở kẽ tai, những bút chì to nhỏ bé tí, những cuộn giấy đánh bóng đủ tầm, đủ khổ, khéo léo như người thợ cạo lấy ráy tai cho khách hàng, ông sẽ vờn tỉa những lông mi hay những nét răn trên mỗi bức tranh ông truyền thần “người mẫu”. Kết quả kỳ thi làm mọi người kinh ngạc: ông Phềnh bị đánh hỏng và hết thiêng, với cả nghệ thuật của ông.
Vui vẻ, mê yêu, tin tưởng, chúng tôi vào cửa trường Mỹ thuật để tới thâm cung của “Đẹp” mà chả bao lâu đã thoáng thấy quyến rũ làm sao! Có trai gái nào say đắm sắc đẹp người bằng chúng tôi mê cái “Đẹp”?

Nguyễn Phan Chánh năm 1924

 

Trang đầu bức thư của Victor Tardieu gửi Nguyễn Phan Chánh nói về thành công của nhà trường tại Đấu xảo Paris 1931 (Paris, ngày 24 tháng 5 năm 1931)

 

Trong thế giới những tâm hồn đam mê ấy, người ta nói đến danh họa Tầu, Nhật hay Âu-Tây thế kỷ này và thế kỷ trước, người ta tách biệt tính nết, biệt tài của họ, y như những người đã quen biết nhau lắm, đã hiểu nhau quá rồi, tuy người ta mới đọc về họ hay nhìn những bức ảnh chụp có màu hay không về tác phẩm của họ? Nhưng ai đã hiểu rồi mới yêu! Ở tác phẩm ấy, có một vẻ gì gây thiện cảm, một không khí gì trong đó những học sinh trường Mỹ thuật của chúng ta thấy dễ chịu thảnh thơi. Đừng hỏi họ vì sao. Họ sẽ chỉ có thể bắt chước Montaigne mà trả lời: “vì là Hokusai, Manet, Cézanne, Van Gogh… vì là chúng tôi…”

Sự đụng chạm của trường Mỹ thuật với công chúng bắt đầu ở cuộc triển lãm thứ nhất vào khoảng 1928-1929, tại ngay trường Mỹ thuật. Có tranh “thiếu nữ rũ tóc” mặt buồn của Lê Phổ, tranh “thiếu nữ ngồi trên sập” hai mắt ươn ướt như sắp khóc của Mai Trung Thứ. Có tranh “ông già” nhẹ nhàng của cô Lê Thị Lựu, những tranh nặng nề nâu tối cảnh nhà quê của Nguyễn Phan Chánh. Tranh lụa chưa ra đời. Đó chỉ là tranh sơn mặt sàn sạn và gồ ghề. Đâu nhẵn và bóng lộn như ảnh mà công chúng thích. Các báo bình phẩm dè dặt. Người ta chê màu thuốc của Lê Phổ và Phan Chánh như “đất bùn”. Họ có ngờ rằng đó lại là một nhời khen không? Một tờ báo hằng ngày mỉa mai tranh của Mai Trung Thứ “dâm” quá. Chỉ tại tác giả vẽ một thiếu phụ mặc quần lĩnh bóng với áo cánh, không có áo dài phủ ngoài…
Trong làng Hội họa, khuynh hướng chung lúc ấy là sự nặn nọt hình thiếu nữ cho có vẻ mơ màng, ngây thơ, đa sầu. Dấu vết thời đại chăng! Ai vẽ mắt ướt, sắp khóc tài bằng Mai Trung Thứ? Tất cả thiếu nữ của Lê Phổ, mắt đều mờ, không ánh linh động.

NGUYỄN PHAN CHÁNH – Đi củi. Khoảng 1932-1938. Lụa

 

Các sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đi thực tế ở nông thôn. Khoảng 1928-1929. Từ trái sang: Mai Thứ, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ

 

Người ta muốn tác phẩm của mình có vẻ Tầu, Nhật; người ta đóng lên tranh những dấu son chiu chít viết lên những hàng chữ Hán giài giòng, vẽ ra những hòn đá cái cây, giáng điệu mà chỉ thấy ở tranh Tầu. “Tầu thực!” là một tiếng khen bức tranh mà họa sĩ tác giả mở lòng nhận lấy. Cảnh buồn cười đó đã bầy ra một tâm trạng kiểu cách, trọng những lề lối hơn là sự cảm xúc chân thật, dường như tác phẩm hội họa chỉ có dáng dấp bề ngoài mà không ẩn nấp một tâm hồn ở trong!
1931… Đấu xảo thuộc địa bên Pháp đã đưa công chúng Pháp lần đầu “gặp” tác phẩm hội họa Việt Nam! Tôi muốn nói những bức tranh vẽ lên lụa không Tây, không Tầu, không Nhật của anh chàng Phan Chánh khư khư giữ ô ngày trước, cái anh chàng đã gây ra phong trào tranh lụa đặc biệt An-nam mà chính anh và tất cả ai không ngờ.

Tô Ngọc Vân
(Tiểu luận này của Tô Ngọc Vân đăng trong tập san Xuân Thu nhã tập năm 1942. Chính tả của nguyên bản được giữ nguyên).

(Giai phẩm số xuân, Đời nay xuất bản năm 1943, tr,85-87.)
Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 10/12/2020

Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại

Tô Ngọc Vân

Trường Mỹ thuật, năm đầu tiên sáng lập, ở khu vực vườn Dufeur, cũng trong phạm vi của Trường Mỹ thuật bây giờ. Đó là một sưởng lớn, lợp kẽm trước kia chứa xẻng cuốc của sở Lục-lộ, năm 1925, vừa là tư thất của ông Đốc Tardieu, vừa là chỗ họp của những người mới được tuyển. Giữa cái ổ đầu tiên của Mỹ thuật Việt Nam hiện đại ấy có những bức tranh vĩ đại của Tardieu, hiện giờ dán ở giảng đường trường Cao đẳng, hồi ấy chưa mờ đi vì rêu mốc như ngày nay, lúc nào cũng rực lên cái ánh sáng vàng đỏ của màu cam chín. Trước mặt, một cái thang dài đứng lêu nghêu, tới tận đỉnh tranh, và kêu răng rắc mỗi khi ông Tardieu nặng nề bước lên để vẽ vào bức họa. Cái thang ấy, ngày ngày ở cao nhìn xuống chúng tôi tụm nhau dưới chân nó, như vừa thiện cảm vừa tinh nghịch thóc mách. Suốt buổi nó ngắm cái đầu rối bù rất mỹ thuật và muốn có trật tự của Lê Phổ, lúc nào cũng trịnh trọng trên vòng cổ cồn cứng gẫy góc, chung quanh thắt cà-vạt đen dài. Nó ranh mãnh chứng kiến cái chuyện chẳng may của chàng Nguyễn Phan Chánh, cứ một ngày lại y như thế xảy ra hai lần, sáng và chiều. Số là chàng có cái ô bạc màu mỗi buổi đi theo chàng mà chàng nhất định giữ bên mình không rời trong khi ngồi vẽ. Ông Tardieu hôm đầu thấy thế không sợ mích lòng chàng, đem cái ô cài vào mình thang, nhưng… buổi sau, sau nữa, và buổi nào cũng thế, công việc giữ ô cạnh mình là của chàng Phan Chánh, công việc cài ô vào thang là của ông Đốc Tardieu. Còn công việc cái thang lêu nghêu của chúng tôi là mỗi lần ô đặt lên mình nó lại kêu “cắc!”, nện xuống như chế nhạo, đếm thêm một lần.

Victor Tardieu và bức tranh trang trí vẽ trên vải dán tường thực hiện cho Giảng đường lớn Trường Đại học Đông Dương (Khoa Y học) thời gian đang còn ở địa điểm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (hoàn thành năm 1927)

 

Ông Trần Phềnh (người thứ 3 từ trái sang) cùng một nhóm kịch người Pháp tại bậc thềm Nhà hát lớn Hà Nội. Khoảng 1917-1918

 

Ngồi góc kia là Mai Trung Thứ, môi ưỡn ra, hai mắt lồi bật như muốn chạy lên mình người khỏa thân đứng kiểu mà chàng đang kiên tâm chép họa hình thể. Ngồi góc này là Lê Văn Đệ cũng mải miết, cũng kiên tâm, và thỉnh thoảng thích chí cái gì không ai rõ, cười phì ra một hơi, như chiếc pháo sì bất ngờ lên tiếng…

Nếu trường Mỹ thuật không có! Bao nhiêu lòng nhiệt thành ham yêu mỹ thuật đã đem phung phí trong một nghệ thuật bất chính rồi con gì! Ông trời ở nghệ thuật ấy là ông Trần Phềnh, họa sĩ mà trước kia chúng tôi rất phục tài và coi như cái đích tuyệt cao khó tới. Nghệ thuật của ông cốt ở sự khéo tay, quen tay; cái tài là bịa những màu xanh đỏ bôi lên hình thể đã chép theo đúng những bức ảnh, không cần đến sự rung cảm của nghệ sĩ.
Kỳ thi thứ nhất vào trường Mỹ thuật, ông Phềnh đến dự. Chúng tôi thèm thuồng nhìn ông, nghĩ rằng địa vị ông không phải để làm học trò trường Mỹ thuật, mà để vào dạy đấy. Trong phòng thi bài vẽ “người khoả thân” người ta trố mắt theo nhịp tay ông lượn trên trang vẽ; đưa lên lần lượt lấy một đống gài ở kẽ tai, những bút chì to nhỏ bé tí, những cuộn giấy đánh bóng đủ tầm, đủ khổ, khéo léo như người thợ cạo lấy ráy tai cho khách hàng, ông sẽ vờn tỉa những lông mi hay những nét răn trên mỗi bức tranh ông truyền thần “người mẫu”. Kết quả kỳ thi làm mọi người kinh ngạc: ông Phềnh bị đánh hỏng và hết thiêng, với cả nghệ thuật của ông.
Vui vẻ, mê yêu, tin tưởng, chúng tôi vào cửa trường Mỹ thuật để tới thâm cung của “Đẹp” mà chả bao lâu đã thoáng thấy quyến rũ làm sao! Có trai gái nào say đắm sắc đẹp người bằng chúng tôi mê cái “Đẹp”?

Nguyễn Phan Chánh năm 1924

 

Trang đầu bức thư của Victor Tardieu gửi Nguyễn Phan Chánh nói về thành công của nhà trường tại Đấu xảo Paris 1931 (Paris, ngày 24 tháng 5 năm 1931)

 

Trong thế giới những tâm hồn đam mê ấy, người ta nói đến danh họa Tầu, Nhật hay Âu-Tây thế kỷ này và thế kỷ trước, người ta tách biệt tính nết, biệt tài của họ, y như những người đã quen biết nhau lắm, đã hiểu nhau quá rồi, tuy người ta mới đọc về họ hay nhìn những bức ảnh chụp có màu hay không về tác phẩm của họ? Nhưng ai đã hiểu rồi mới yêu! Ở tác phẩm ấy, có một vẻ gì gây thiện cảm, một không khí gì trong đó những học sinh trường Mỹ thuật của chúng ta thấy dễ chịu thảnh thơi. Đừng hỏi họ vì sao. Họ sẽ chỉ có thể bắt chước Montaigne mà trả lời: “vì là Hokusai, Manet, Cézanne, Van Gogh… vì là chúng tôi…”

Sự đụng chạm của trường Mỹ thuật với công chúng bắt đầu ở cuộc triển lãm thứ nhất vào khoảng 1928-1929, tại ngay trường Mỹ thuật. Có tranh “thiếu nữ rũ tóc” mặt buồn của Lê Phổ, tranh “thiếu nữ ngồi trên sập” hai mắt ươn ướt như sắp khóc của Mai Trung Thứ. Có tranh “ông già” nhẹ nhàng của cô Lê Thị Lựu, những tranh nặng nề nâu tối cảnh nhà quê của Nguyễn Phan Chánh. Tranh lụa chưa ra đời. Đó chỉ là tranh sơn mặt sàn sạn và gồ ghề. Đâu nhẵn và bóng lộn như ảnh mà công chúng thích. Các báo bình phẩm dè dặt. Người ta chê màu thuốc của Lê Phổ và Phan Chánh như “đất bùn”. Họ có ngờ rằng đó lại là một nhời khen không? Một tờ báo hằng ngày mỉa mai tranh của Mai Trung Thứ “dâm” quá. Chỉ tại tác giả vẽ một thiếu phụ mặc quần lĩnh bóng với áo cánh, không có áo dài phủ ngoài…
Trong làng Hội họa, khuynh hướng chung lúc ấy là sự nặn nọt hình thiếu nữ cho có vẻ mơ màng, ngây thơ, đa sầu. Dấu vết thời đại chăng! Ai vẽ mắt ướt, sắp khóc tài bằng Mai Trung Thứ? Tất cả thiếu nữ của Lê Phổ, mắt đều mờ, không ánh linh động.

NGUYỄN PHAN CHÁNH – Đi củi. Khoảng 1932-1938. Lụa

 

Các sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đi thực tế ở nông thôn. Khoảng 1928-1929. Từ trái sang: Mai Thứ, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ

 

Người ta muốn tác phẩm của mình có vẻ Tầu, Nhật; người ta đóng lên tranh những dấu son chiu chít viết lên những hàng chữ Hán giài giòng, vẽ ra những hòn đá cái cây, giáng điệu mà chỉ thấy ở tranh Tầu. “Tầu thực!” là một tiếng khen bức tranh mà họa sĩ tác giả mở lòng nhận lấy. Cảnh buồn cười đó đã bầy ra một tâm trạng kiểu cách, trọng những lề lối hơn là sự cảm xúc chân thật, dường như tác phẩm hội họa chỉ có dáng dấp bề ngoài mà không ẩn nấp một tâm hồn ở trong!
1931… Đấu xảo thuộc địa bên Pháp đã đưa công chúng Pháp lần đầu “gặp” tác phẩm hội họa Việt Nam! Tôi muốn nói những bức tranh vẽ lên lụa không Tây, không Tầu, không Nhật của anh chàng Phan Chánh khư khư giữ ô ngày trước, cái anh chàng đã gây ra phong trào tranh lụa đặc biệt An-nam mà chính anh và tất cả ai không ngờ.

Tô Ngọc Vân
(Tiểu luận này của Tô Ngọc Vân đăng trong tập san Xuân Thu nhã tập năm 1942. Chính tả của nguyên bản được giữ nguyên).

(Giai phẩm số xuân, Đời nay xuất bản năm 1943, tr,85-87.)
Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 10/12/2020

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Tâm sự một người bị đầu độc - 1953

Tâm sự một người bị đầu độc

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Tạp chí Văn nghệ (1948-1954) tập 6 - 1953 - Tạp chí Văn nghệ số 41 tháng bảy 1953

Tâm sự một người bị đầu độc

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Tạp chí Văn nghệ (1948-1954) tập 6 - 1953 - Tạp chí Văn nghệ số 41 tháng bảy 1953

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2019

Thư Tô Ngọc Vân gửi Matisse và Picasso

Thư Tô Ngọc Vân gửi Matisse và Picasso



Theo họa sĩ Tô Ngọc Thành (con trai danh họa Tô Ngọc Vân), thì sau hội nghị Văn nghệ toàn quốc tháng 7.1948, năm 1949 giới văn nghệ cử Tô Ngọc Vân viết thư cho danh họa Picasso nói về văn nghệ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân, vì hoà bình của dân tộc và thế giới. Tuy nhiên, trong tài liệu mà ông Vân để lại có hai bản thư nháp gửi danh họa Matisse và Picasso viết ngày 27.5.1951. Bức thư gửi Matisse có chữ ký Tô Ngọc Vân, còn bức gửi Picasso không ký nhưng nói rõ sẽ gửi qua một người bạn nhân đi dự liên hoan phim tại Berlin.



Nếu không có nhật ký, bản kiểm thảo và những lá thư Tô Ngọc Vân viết cho bạn bè, gia đình, chúng ta khó có thể hình dung nổi vì sao những bức vẽ ấy lại chiếm hầu hết phần đời của các họa sĩ kháng chiến. Nhiều khi họa sĩ chẳng viết gì về bức tranh của họ (mà thường thì họ không bao giờ làm điều này), nhưng qua thư từ có thể hình dung được họ và những người cùng thời sống như thế nào.

Hiện nay, di cảo của Tô Ngọc Vân để lại còn rất nhiều và thuộc sở hữu của gia đình ông.

PHAN CẨM THƯỢNG


Kính gửi Họa sư Matisse

Tôi viết cho Họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dãy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in màu một số tác phẩm của Họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo 5 năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời Kháng chiến.

Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật Tân tạo (Art Modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hoà, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở màu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?

Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hoà bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế (…)

Vật liệu thiếu thốn, thời gian bị công tác kháng chiến chiếm phần lớn, chúng tôi chưa có đủ điều kiện để sáng tác dồi dào. Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức ký hình (Croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hy vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.
Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lại hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matierè) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi (…)

27.5.1951

Tô Ngọc Vân




Kính gửi Họa sư Picasso

Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào Họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, Họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hoà bình tự do của nhân loại! Họa sư đã làm vinh dự cho giới họa.

Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sĩ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng (…)

Tôi kính mến mong Họa sư khoẻ mạnh luôn luôn để tranh đấu cho hoà bình và tự do của con người.

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Vũ Thanh Hoa - Đăng ngày 13/12/2013 trong mục Hồn Việt, Muôn mặt cuộc sống, Tác phẩm chọn lọc, Thế giới Sắc màu

Nguyên văn:
Kính gửi Họa sư Matisse
Tôi viết cho Họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dẫy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in mầu một số tác phẩm của Họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo 5 năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời Kháng chiến.

Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật Tân tạo (Art Modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hòa, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở mầu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?

Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hòa bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế. Chúng tôi có làm gì họ đâu, Ông? Chúng tôi chỉ muốn hòa bình, muốn tự do, để mọi người được cuộc đời đáng sống của con người. Riêng nghề chúng ta, tôi nghĩ rằng đó là điều kiện cần yếu để được phát triển lành mạnh.

Hồi bọn Nazis Đức chiếm đóng nước Pháp, các ông tổ chức công việc họa thế nào? Những kinh nghiệm của các ông, nếu chúng tôi được biết sẽ giúp ích chúng tôi lắm.

Chúng tôi ở đây trong vùng tự do, không có bóng một tên phản động, nhưng ngày nào máy bay của chúng cũng lượn trên đầu, đi khủng bố tàn sát bất cứ đàn bà trẻ con, nhà ở, trường học. Giống vật man rợ ấy đủ cản trở nghề vẽ của chúng tôi nhiều. Một mặt khác, vật liệu thiếu thốn, thời gian bị công tác Kháng chiến chiếm phần lớn, chúng tôi chưa có đủ điều kiện để sáng tác rồi rào. Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức Ký hình (Croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hy vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.

Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lai hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matierè) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi.

Bao năm giời, chúng tôi muốn được gần các ông. Bây giờ chiến tranh cách bức chúng ta đã đành rồi. Nhưng trước kia bọn cai trị thực dân cản chúng tôi. Họ đưa ra những lý luận có vẻ vững lắm. Họ nói nếu chúng tôi sang Pháp, gần các ông, sẽ bị mất cá tính Việt Nam đi. Cái trò bịt mắt để cô lập người ta trong nô lệ của bóng chúng ai còn lạ gì.

Dụng tâm ở đây tôi chỉ muốn kể đến chuyện nghề nghiệp, nói lên cái tình đồng nghiệp giữa chúng ta, nhưng mỗi lần đụng đến lại va phải tội ác của thực dân. Bao giờ chúng ta thôi không phải mệt lòng đếm những tội ác của chúng nó nữa? Chỉ bao giờ hòa bình và tự do trở lại cho tất cả mọi người, phải không ông?

Tôi chúc ông mạnh, và chờ tin ông.
Kính mến
27/5/1951
Tô Ngọc Vân

Kính gửi Họa sư Picasso
Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào Họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, Họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hòa bình tự do của nhân loại! Họa sỹ đã làm vinh dự cho giới họa.

Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sỹ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng.

Họa sư có thể ngờ rằng đã có lần bọn cai trị Pháp cấm chúng tôi triển lãm ở Hà Nội (năm 1941 thì phải), mà đề tài tranh lúc ấy chỉ là tranh đàn bà, hoa quả, phong cảnh. Thật là lố bịch. Chúng tưởng có thể kéo dài sự chà đạp ấy mãi.

Ngày nay chúng tôi không chịu thế nữa. Thế giới lành mạnh cũng không để như thế nữa. Những người văn nghệ có uy tín thế giới như Họa sư cũng không muốn nhìn thấy những cảnh ấy nữa. Thì những bọn thực dân ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới sẽ phải tiêu diệt. Lúc ấy, cái vườn tinh hoa hội họa sẽ tươi nở khắp nơi.

Tôi kính mến mong Họa sư khỏe mạnh luôn luôn để tranh đấu cho hòa bình và tự do của con người.

Đi tìm Tô Ngọc Vân qua ký họa - Tạp chí Tia Sáng, 27/01/2014

Thư Tô Ngọc Vân gửi Matisse và Picasso



Theo họa sĩ Tô Ngọc Thành (con trai danh họa Tô Ngọc Vân), thì sau hội nghị Văn nghệ toàn quốc tháng 7.1948, năm 1949 giới văn nghệ cử Tô Ngọc Vân viết thư cho danh họa Picasso nói về văn nghệ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân, vì hoà bình của dân tộc và thế giới. Tuy nhiên, trong tài liệu mà ông Vân để lại có hai bản thư nháp gửi danh họa Matisse và Picasso viết ngày 27.5.1951. Bức thư gửi Matisse có chữ ký Tô Ngọc Vân, còn bức gửi Picasso không ký nhưng nói rõ sẽ gửi qua một người bạn nhân đi dự liên hoan phim tại Berlin.



Nếu không có nhật ký, bản kiểm thảo và những lá thư Tô Ngọc Vân viết cho bạn bè, gia đình, chúng ta khó có thể hình dung nổi vì sao những bức vẽ ấy lại chiếm hầu hết phần đời của các họa sĩ kháng chiến. Nhiều khi họa sĩ chẳng viết gì về bức tranh của họ (mà thường thì họ không bao giờ làm điều này), nhưng qua thư từ có thể hình dung được họ và những người cùng thời sống như thế nào.

Hiện nay, di cảo của Tô Ngọc Vân để lại còn rất nhiều và thuộc sở hữu của gia đình ông.

PHAN CẨM THƯỢNG


Kính gửi Họa sư Matisse

Tôi viết cho Họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dãy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in màu một số tác phẩm của Họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo 5 năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời Kháng chiến.

Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật Tân tạo (Art Modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hoà, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở màu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?

Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hoà bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế (…)

Vật liệu thiếu thốn, thời gian bị công tác kháng chiến chiếm phần lớn, chúng tôi chưa có đủ điều kiện để sáng tác dồi dào. Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức ký hình (Croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hy vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.
Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lại hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matierè) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi (…)

27.5.1951

Tô Ngọc Vân




Kính gửi Họa sư Picasso

Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào Họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, Họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hoà bình tự do của nhân loại! Họa sư đã làm vinh dự cho giới họa.

Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sĩ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng (…)

Tôi kính mến mong Họa sư khoẻ mạnh luôn luôn để tranh đấu cho hoà bình và tự do của con người.

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Vũ Thanh Hoa - Đăng ngày 13/12/2013 trong mục Hồn Việt, Muôn mặt cuộc sống, Tác phẩm chọn lọc, Thế giới Sắc màu

Nguyên văn:
Kính gửi Họa sư Matisse
Tôi viết cho Họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dẫy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in mầu một số tác phẩm của Họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo 5 năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời Kháng chiến.

Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật Tân tạo (Art Modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hòa, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở mầu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?

Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hòa bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế. Chúng tôi có làm gì họ đâu, Ông? Chúng tôi chỉ muốn hòa bình, muốn tự do, để mọi người được cuộc đời đáng sống của con người. Riêng nghề chúng ta, tôi nghĩ rằng đó là điều kiện cần yếu để được phát triển lành mạnh.

Hồi bọn Nazis Đức chiếm đóng nước Pháp, các ông tổ chức công việc họa thế nào? Những kinh nghiệm của các ông, nếu chúng tôi được biết sẽ giúp ích chúng tôi lắm.

Chúng tôi ở đây trong vùng tự do, không có bóng một tên phản động, nhưng ngày nào máy bay của chúng cũng lượn trên đầu, đi khủng bố tàn sát bất cứ đàn bà trẻ con, nhà ở, trường học. Giống vật man rợ ấy đủ cản trở nghề vẽ của chúng tôi nhiều. Một mặt khác, vật liệu thiếu thốn, thời gian bị công tác Kháng chiến chiếm phần lớn, chúng tôi chưa có đủ điều kiện để sáng tác rồi rào. Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức Ký hình (Croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hy vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.

Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lai hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matierè) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi.

Bao năm giời, chúng tôi muốn được gần các ông. Bây giờ chiến tranh cách bức chúng ta đã đành rồi. Nhưng trước kia bọn cai trị thực dân cản chúng tôi. Họ đưa ra những lý luận có vẻ vững lắm. Họ nói nếu chúng tôi sang Pháp, gần các ông, sẽ bị mất cá tính Việt Nam đi. Cái trò bịt mắt để cô lập người ta trong nô lệ của bóng chúng ai còn lạ gì.

Dụng tâm ở đây tôi chỉ muốn kể đến chuyện nghề nghiệp, nói lên cái tình đồng nghiệp giữa chúng ta, nhưng mỗi lần đụng đến lại va phải tội ác của thực dân. Bao giờ chúng ta thôi không phải mệt lòng đếm những tội ác của chúng nó nữa? Chỉ bao giờ hòa bình và tự do trở lại cho tất cả mọi người, phải không ông?

Tôi chúc ông mạnh, và chờ tin ông.
Kính mến
27/5/1951
Tô Ngọc Vân

Kính gửi Họa sư Picasso
Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào Họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, Họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hòa bình tự do của nhân loại! Họa sỹ đã làm vinh dự cho giới họa.

Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sỹ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng.

Họa sư có thể ngờ rằng đã có lần bọn cai trị Pháp cấm chúng tôi triển lãm ở Hà Nội (năm 1941 thì phải), mà đề tài tranh lúc ấy chỉ là tranh đàn bà, hoa quả, phong cảnh. Thật là lố bịch. Chúng tưởng có thể kéo dài sự chà đạp ấy mãi.

Ngày nay chúng tôi không chịu thế nữa. Thế giới lành mạnh cũng không để như thế nữa. Những người văn nghệ có uy tín thế giới như Họa sư cũng không muốn nhìn thấy những cảnh ấy nữa. Thì những bọn thực dân ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới sẽ phải tiêu diệt. Lúc ấy, cái vườn tinh hoa hội họa sẽ tươi nở khắp nơi.

Tôi kính mến mong Họa sư khỏe mạnh luôn luôn để tranh đấu cho hòa bình và tự do của con người.

Đi tìm Tô Ngọc Vân qua ký họa - Tạp chí Tia Sáng, 27/01/2014

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

The First Step of the Vietnamese Modern Painting

The First Step of the Vietnamese Modern Painting

By To Ngoc Van

The Fine-Arts School, in the first year of its founding, was situated in Dufeur garden, that is to say, within the limits of the present-day school. That was a repository of the Public Works Service, roofed with zinc, in 1925, where were put shovels and pickaxes. It was both the residence of the director, Mr. Tardieu, and the gathering place for successful candidates. In this cradle of the modern Fine Arts school may be seen some large pictures by Mr. Tardieu, now shown at the lecture-room of the University of Indochina. By that time, they were not moss-grown and covered with mould as they are today. They always sparkled with red light of ripe oranges. In front of them stood a very long ladder that reached the top of the pictures. It used to crackle under Mr. Tardieu's heavy footsteps each time he climbed up to work on a picture. Every day, we crowded together at the foot of the ladder, with both sympathy and mischief. All day long, the ladder watched a very aesthetically unkempt hair of Le Pho who frequently wore a starched collar with a long black necktie. It mischievously witnessed the young Nguyen Phan Chanh's ill luck that occurred twice a day, in the morning and the afternoon. The reason for this is that he never parted from his discolored umbrella, which he always kept beside him, even when he worked on a painting. The first day Mr. Tardieu saw it; he carried the umbrella away and hung it on a rung of the ladder without scrupling to offend Nguyen Phan Chanh. However, the next day, then the day after the next, it rested with Phan Chanh to keep his umbrella beside him, and with Mr. Tardieu to hang the umbrella on the ladder. As for the towering ladder, it crackled each time the umbrella was hung on it, as if it poked fun and counted up once again. Over there is Mai Trung Thu with his lips hung and his wide opened eyes that seemingly wanted to run onto the posing naked model's body which he was perseveringly sketching in. At this little place was sitting Le Van De who was also absorbed in his work, also persevering in his efforts. Now and then, he busted out laughing at something unknown, like a firecracker, which suddenly breaks out.

Were there not the Fine-Arts School, a lot of ardent hearts devoted to Fine Arts would have been wasted in a certain unrighteous art. The God of this art is Mr. Tran Phenh, an artist we have formerly admired and have considered a hardly available lofty target. His art consists in dexterity; his talent consists in forging gaudy colours to be applied to figures copied faithfully from photos without taking into account the artist's emotion.

Mr. Phenh has been present at the first entrance examination to the Fine Arts School. We took a covetous glance at him, thinking that he came there not to be a student of the Fine-Arts School, but to become a teacher. During the execution of academy figures, everybody opened wide his eyes to watch the motion of Mr. Phenh's hand on the paper. He took out successively from behind his ears lots of pencils of all sizes, unrolled sheets of glossy paper of every format, as cleverly as a coiffeur cleaning the customer's ears. He added finishing touches to the eyelashes or the wrinkles on the lips of the "model" in the picture.

The examination result was quite astonishing: Mr. Phenh was failed. He himself and his art ceased to be sacred.
Joyful, passionate, confident, we entered the Fine-Arts school to reach the palace of the "Beauty" which very soon we were attracted to. Are there any young people having such a passion for the human beauty as ours for the "Beauty"?

In the world of such passionate hearts, people talked about well-known Chinese, Japanese or European painters of this century or the past one. People delved into their characters, their talents as if the latter are their old acquaintances, although they knew the artist only through publications or through colour or black-and-white photos of the latter's works. One loves the work only after understanding it. These works have something sympathetic, a certain ambience in which our Fine-Arts school students feel at ease.

Do not ask them why. They can give only a reply after Montaigne: "Since it is Hokusai, Manet. Cezanne, Van Gough... Since it is we..." The collision between the Fine-Arts School and the public began in the first exhibition in about 1928-1929, at the very Fine-Arts School. There was the painting, "A maiden with tangled hair" with a sorrowful physiognomy by Le Pho, the "Maiden sitting on camp bed" with tears in her eyes by Mai Trung Thu. There was the soft "Old man" by Miss Le Thi Luu, some pictures painted with dark-brown colours by Nguyen Phan Chanh describing the countryside. Silk-paintings had not come into being yet. They were only uneven and rough canvases, and not smooth and shiny ones like photos to the public's liking. The press made cautious remarks. People blamed pictures by Le Pho and Nguyen Phan Chanh for their mud-like colours... Did they think these remarks to be merely a praise? A daily newspaper was even ironical about the "?asciviousness" of Mai Trung Thu's painting, because the artist painted a young woman wearing satinet trousers and a bodice without outer garment... The then general tendency among painters was to refine the figure of a maiden that looked dreamy, innocent, and melancholic... Is that a sign of the times? Who may be compared to Mai Trung Thu in depicting eyes wet with tears? Every maiden pictured by Le Pho had dim eyes without living glints. People liked their pictorial works to look Chinese, Japanese. People used to append lots of red seals to lengthy Chinese inscriptions, picture rocks, trees, silhouettes that are seen only in Chinese paintings. 'Quite Chinese! ', that is a praise for a painting warm-heartedly received by the author. This risible spectacle has betrayed a mannerism, a preference given to the routine over the sincere emotion, as if the pictorial work has merely an outward look without sheltering a soul.

In 1931, the colonial fair held in France has put the French public in touch with Vietnamese painting. I would like to mean silk-paintings which look neither European nor Chinese by the young Nguyen Phan Chanh who formerly kept jealously his umbrella beside him, the young man who has launched a movement for special Annamese silk-paintings that he himself and all others have never thought about.

(This article by To Ngoc Van appeared in "Xuan Thu Nha Tap" in 1942)(?).


Les Premiers Pas de la Peinture Vietnamienne Moderne

Par Tô Ngoc Vân

L'Ecole des Beaux-Arts, lors de sa fondation, se trouvait dans le Jardin Dufeur, c'est-à-dire à l'emplacement de l'Ecole actuelle. C'était un entrepôt du Service des Travaux Publics, avec un toit en zinc, en 1925. Là y étaient entreposées pelles et pioches. C'était à la fois la résidence du directeur, M. Tardieu, et le lieu de réunion des candidats admis. Dans ce berceau de l'Ecole Moderne des Beaux-Arts, on pouvait voir quelques grands tableaux de M. Tardieu, qui sont exposés maintenant dans la salle de conférence de l'Université d'Indochine. Ils n'étaient pas alors recouverts de mousse et de moisissure comme maintenant. Ils ont toujours brillé avec la lumière rouge des oranges mûres. Une très longue échelle placée en face des tableaux atteignait leur partie supérieure. Ses marches craquaient sous les pas lourds de M. Tardieu chaque fois qu'il y grimpait pour travailler sur un tableau. Toute la journée, l'échelle observait un Lê Phô à la coiffure esthétiquement désordonnée et qui portait souvent une longue cravate noire nouée sous un col amidonné. Elle a été souvent le témoin malicieux de la malchance du jeune Ngyên Phan Chanh deux fois par jour, une fois le matin, une fois l'après-midi : celui-ci ne se séparait jamais de son parapluie décoloré qu'il gardait toujours à côté de lui, même quand il peignait. Le premier jour qu'il le vit, M. Tardieu emporta le parapluie et l'accrocha à un barreau de l'échelle sans se soucier d'offenser Nguyên Phan Chanh. Cependant, le lendemain puis les jours suivants, Phan Chanh continuait à garder son parapluie près de lui , et M. Tardieu continuait à l'accrocher à l'échelle dont les barreaux craquaient à chaque fois que le parapluie était posé dessus, comme s'il se moquait d'elle. Là-bas, il y avait Mai Thu, la lèvre pendante, les yeux grands ouverts parcourant le corps nu du modèle qu'il persévérait à dessiner. A cette petite place s'asseyait Lê Van Dê, qui était aussi absorbé dans sa peinture, persévérant aussi dans ses efforts. De temps à autre, il éclatait de rire, on ne sait pourquoi, comme un pétard qui éclate .

Si ce n'avait pas été l'Ecole des Beaux-Arts, beaucoup de cœurs ardents dévoués aux Beaux-Arts auraient été perdus dans un art impie. Le Dieu de cet art était M. Trân Phenh, un artiste que nous avions admiré et considéré comme un artiste hors de notre portée. Son art consistait en dextérité, son talent consistait à produire des couleurs criardes appliquées sur des silhouettes copiées de photos, sans se préoccuper de l'émotion de l'artiste. M. Phenh était présent au premier examen d'entrée de l'Ecole des Beaux-Arts. Nous le regardions avec envie, pensant qu'il venait là non pour étudier, mais pour devenir un professeur. Pendant les travaux de nus académiques, tout le monde ouvrait grand ses yeux pour observer le mouvement des mains de M. Phenh sur le papier. Il sortait de derrière ses oreilles des crayons de toutes tailles, puis des feuilles de papier brillant de tous formats, aussi habilement qu'un coiffeur nettoyant les oreilles de son client. Il ajoutait les touches de finition aux cils ou aux rides des lèvres sur le modèle dans le tableau. Les résultats de l'examen furent très étonnants : M. Phenh échoua.
Lui-même et son art ont alors cessé d'être sacrés. Joyeux, passionnés, confiants, nous sommes entrés à l'Ecole des Beaux-Arts pour atteindre le palais de la " Beauté " vers laquelle nous fûmes très vite attirés. Y eut-t-il d'autres jeunes gens ayant une passion pour la beauté humaine telle que la nôtre pour la " Beauté " ?
Dans le monde de cœurs aussi passionnés, on parlait des peintres chinois, japonais ou européens connus de ce siècle ou du siècle passé. On aimait fouiller dans leur caractère, leur talent, comme s'ils étaient de vieilles connaissances, bien qu'ils ne leur soient connus que par les journaux ou les couleurs ou le noir et blanc des photos de leurs dernières œuvres. On aime un tableau seulement après l'avoir compris. Ces œuvres avaient quelque chose de sympathique, une certaine atmosphère dans laquelle nos étudiants des Beaux-Arts se trouvaient à l'aise.

Ne leur en demandez pas la raison. Ils peuvent seulement vous répondre, selon Montaigne : " parce que c'est Hokusai, Manet, Cézanne, Van Gogh … parce que c'est nous … ". La querelle entre l'Ecole des Beaux-Arts et le public commença avec la première exposition en 1928-29 à l'Ecole même des Beaux-Arts. Il y avait le tableau " Jeune Fille Aux Cheveux Emmêlés " avec un visage plein de tristesse peint par Lê Phô, " La Jeune Fille Sur Un Lit de Camp ", les larmes aux yeux, peint par Mai Trung Thu. Il y avait le doux " Vieillard " peint par Mlle Le Thi Luu, quelques tableaux de couleur marron foncé par Nguyên Phan Chanh, décrivant la campagne. Les peintures sur soie n'existaient pas encore. C'étaient des toiles rugueuses et rudes, ni lisses ni brillantes comme les photos que le public aimait. La presse fit des remarques prudentes. On blâmait les tableaux de Le Phô et de Nguyen Phan Chan pour leurs couleurs " boueuses ". Pensaient-ils que ces remarques étaient simplement élogieuses ? Un quotidien remarquait de façon ironique la " lascivité " de la peinture de Mai Trung Thu parce que l'artiste avait peint une jeune femme portant un pantalon en satin et seulement un cache-seins. A l'époque, la tendance générale parmi les peintres était de représenter une jeune fille rêveuse, innocente et mélancolique … Etait-ce un signe des temps ? Qui peut être comparé à Mai Trung Thu pour peindre des yeux remplis de larmes ? Toutes les jeunes filles peintes par Lê Phô avaient des yeux ternes sans éclat. Les gens aimaient les peintures lorsqu'elles paraissaient chinoises ou japonaises. Ils aimaient appliquer de nombreux sceaux rouges aux longues inscriptions chinoises, ils aimaient les rochers, les arbres, les silhouettes qu'on retrouvait seulement dans les peintures chinoises. " Très chinois ", c'était un compliment qui était reçu avec bonheur par l'artiste. Ce spectacle risible trahissait un manieurisme, une préférence pour la routine au lieu de l'émotion sincère, comme si l'œuvre pictorale n'était qu'un regard vers l'extérieur sans âme.

En 1931, la Foire Internationale qui eut lieu en France permit au public de découvrir la peinture vietnamienne. J'aurais aimé par là dire la peinture sur soie, qui ne ressemblait ni à la peinture européenne, ni à la peinture chinoise, du jeune Nguyên Phan Chanh qui gardait jalousement son parapluie près de lui, le jeune homme qui a amorcé un mouvement pour la peinture sur soie, spécifiquement vietnamienne, à laquelle ni lui ni les autres n'avaient jamais pensé.

(Cet article écrit par Tô Ngoc Vân a paru dans " Xuan Thu Nha Tap " en 1942)

“Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại” đăng trên tờ Thanh Nghị (?)
...
Dưới sự điều hành của Victor Tardieu và Nam Sơn, bộ máy thuộc địa của thực dân Pháp không mấy hài lòng về nhà trường vì chúng thấy không đạt hiệu quả kinh tế nên đối xử thô bạo là tìm cách đóng cửa! Nhằm phản ứng lại thái độ thực dân và hành động phi văn hóa như thế, Victor Tardieu và Nam Sơn đã bàn với nhau phải tổ chức cuộc triển lãm để đánh động dư luận.

Cuộc trưng bày đầu tiên này đã diễn ra vào năm 1928 ngay tại nhà trường. Ta thấy có tranh Thiếu nữ rũ tóc của Lê Phổ, Thiếu nữ ngồi trên sập của Mai Trung Thứ, Ông già của Lê Thị Lựu, Cò trắng và cá vàng, Chợ gạo trên tả ngạn sông Hồng của Nam Sơn, Hai vợ chồng nông dân trục lúa của Nguyễn Phan Chánh... ngoài ra còn có bài viết Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại của Tô Ngọc Vân. Dư luận rất hoan nghênh thành quả nghệ thuật mà nhà trường đã đạt được qua cuộc triển lãm này...
Người đặt nền móng cho mỹ thuật hiện đại VN - Lê Minh Quốc, 03/08/2014, Báo Thanh Niên.







The First Step of the Vietnamese Modern Painting

By To Ngoc Van

The Fine-Arts School, in the first year of its founding, was situated in Dufeur garden, that is to say, within the limits of the present-day school. That was a repository of the Public Works Service, roofed with zinc, in 1925, where were put shovels and pickaxes. It was both the residence of the director, Mr. Tardieu, and the gathering place for successful candidates. In this cradle of the modern Fine Arts school may be seen some large pictures by Mr. Tardieu, now shown at the lecture-room of the University of Indochina. By that time, they were not moss-grown and covered with mould as they are today. They always sparkled with red light of ripe oranges. In front of them stood a very long ladder that reached the top of the pictures. It used to crackle under Mr. Tardieu's heavy footsteps each time he climbed up to work on a picture. Every day, we crowded together at the foot of the ladder, with both sympathy and mischief. All day long, the ladder watched a very aesthetically unkempt hair of Le Pho who frequently wore a starched collar with a long black necktie. It mischievously witnessed the young Nguyen Phan Chanh's ill luck that occurred twice a day, in the morning and the afternoon. The reason for this is that he never parted from his discolored umbrella, which he always kept beside him, even when he worked on a painting. The first day Mr. Tardieu saw it; he carried the umbrella away and hung it on a rung of the ladder without scrupling to offend Nguyen Phan Chanh. However, the next day, then the day after the next, it rested with Phan Chanh to keep his umbrella beside him, and with Mr. Tardieu to hang the umbrella on the ladder. As for the towering ladder, it crackled each time the umbrella was hung on it, as if it poked fun and counted up once again. Over there is Mai Trung Thu with his lips hung and his wide opened eyes that seemingly wanted to run onto the posing naked model's body which he was perseveringly sketching in. At this little place was sitting Le Van De who was also absorbed in his work, also persevering in his efforts. Now and then, he busted out laughing at something unknown, like a firecracker, which suddenly breaks out.

Were there not the Fine-Arts School, a lot of ardent hearts devoted to Fine Arts would have been wasted in a certain unrighteous art. The God of this art is Mr. Tran Phenh, an artist we have formerly admired and have considered a hardly available lofty target. His art consists in dexterity; his talent consists in forging gaudy colours to be applied to figures copied faithfully from photos without taking into account the artist's emotion.

Mr. Phenh has been present at the first entrance examination to the Fine Arts School. We took a covetous glance at him, thinking that he came there not to be a student of the Fine-Arts School, but to become a teacher. During the execution of academy figures, everybody opened wide his eyes to watch the motion of Mr. Phenh's hand on the paper. He took out successively from behind his ears lots of pencils of all sizes, unrolled sheets of glossy paper of every format, as cleverly as a coiffeur cleaning the customer's ears. He added finishing touches to the eyelashes or the wrinkles on the lips of the "model" in the picture.

The examination result was quite astonishing: Mr. Phenh was failed. He himself and his art ceased to be sacred.
Joyful, passionate, confident, we entered the Fine-Arts school to reach the palace of the "Beauty" which very soon we were attracted to. Are there any young people having such a passion for the human beauty as ours for the "Beauty"?

In the world of such passionate hearts, people talked about well-known Chinese, Japanese or European painters of this century or the past one. People delved into their characters, their talents as if the latter are their old acquaintances, although they knew the artist only through publications or through colour or black-and-white photos of the latter's works. One loves the work only after understanding it. These works have something sympathetic, a certain ambience in which our Fine-Arts school students feel at ease.

Do not ask them why. They can give only a reply after Montaigne: "Since it is Hokusai, Manet. Cezanne, Van Gough... Since it is we..." The collision between the Fine-Arts School and the public began in the first exhibition in about 1928-1929, at the very Fine-Arts School. There was the painting, "A maiden with tangled hair" with a sorrowful physiognomy by Le Pho, the "Maiden sitting on camp bed" with tears in her eyes by Mai Trung Thu. There was the soft "Old man" by Miss Le Thi Luu, some pictures painted with dark-brown colours by Nguyen Phan Chanh describing the countryside. Silk-paintings had not come into being yet. They were only uneven and rough canvases, and not smooth and shiny ones like photos to the public's liking. The press made cautious remarks. People blamed pictures by Le Pho and Nguyen Phan Chanh for their mud-like colours... Did they think these remarks to be merely a praise? A daily newspaper was even ironical about the "?asciviousness" of Mai Trung Thu's painting, because the artist painted a young woman wearing satinet trousers and a bodice without outer garment... The then general tendency among painters was to refine the figure of a maiden that looked dreamy, innocent, and melancholic... Is that a sign of the times? Who may be compared to Mai Trung Thu in depicting eyes wet with tears? Every maiden pictured by Le Pho had dim eyes without living glints. People liked their pictorial works to look Chinese, Japanese. People used to append lots of red seals to lengthy Chinese inscriptions, picture rocks, trees, silhouettes that are seen only in Chinese paintings. 'Quite Chinese! ', that is a praise for a painting warm-heartedly received by the author. This risible spectacle has betrayed a mannerism, a preference given to the routine over the sincere emotion, as if the pictorial work has merely an outward look without sheltering a soul.

In 1931, the colonial fair held in France has put the French public in touch with Vietnamese painting. I would like to mean silk-paintings which look neither European nor Chinese by the young Nguyen Phan Chanh who formerly kept jealously his umbrella beside him, the young man who has launched a movement for special Annamese silk-paintings that he himself and all others have never thought about.

(This article by To Ngoc Van appeared in "Xuan Thu Nha Tap" in 1942)(?).


Les Premiers Pas de la Peinture Vietnamienne Moderne

Par Tô Ngoc Vân

L'Ecole des Beaux-Arts, lors de sa fondation, se trouvait dans le Jardin Dufeur, c'est-à-dire à l'emplacement de l'Ecole actuelle. C'était un entrepôt du Service des Travaux Publics, avec un toit en zinc, en 1925. Là y étaient entreposées pelles et pioches. C'était à la fois la résidence du directeur, M. Tardieu, et le lieu de réunion des candidats admis. Dans ce berceau de l'Ecole Moderne des Beaux-Arts, on pouvait voir quelques grands tableaux de M. Tardieu, qui sont exposés maintenant dans la salle de conférence de l'Université d'Indochine. Ils n'étaient pas alors recouverts de mousse et de moisissure comme maintenant. Ils ont toujours brillé avec la lumière rouge des oranges mûres. Une très longue échelle placée en face des tableaux atteignait leur partie supérieure. Ses marches craquaient sous les pas lourds de M. Tardieu chaque fois qu'il y grimpait pour travailler sur un tableau. Toute la journée, l'échelle observait un Lê Phô à la coiffure esthétiquement désordonnée et qui portait souvent une longue cravate noire nouée sous un col amidonné. Elle a été souvent le témoin malicieux de la malchance du jeune Ngyên Phan Chanh deux fois par jour, une fois le matin, une fois l'après-midi : celui-ci ne se séparait jamais de son parapluie décoloré qu'il gardait toujours à côté de lui, même quand il peignait. Le premier jour qu'il le vit, M. Tardieu emporta le parapluie et l'accrocha à un barreau de l'échelle sans se soucier d'offenser Nguyên Phan Chanh. Cependant, le lendemain puis les jours suivants, Phan Chanh continuait à garder son parapluie près de lui , et M. Tardieu continuait à l'accrocher à l'échelle dont les barreaux craquaient à chaque fois que le parapluie était posé dessus, comme s'il se moquait d'elle. Là-bas, il y avait Mai Thu, la lèvre pendante, les yeux grands ouverts parcourant le corps nu du modèle qu'il persévérait à dessiner. A cette petite place s'asseyait Lê Van Dê, qui était aussi absorbé dans sa peinture, persévérant aussi dans ses efforts. De temps à autre, il éclatait de rire, on ne sait pourquoi, comme un pétard qui éclate .

Si ce n'avait pas été l'Ecole des Beaux-Arts, beaucoup de cœurs ardents dévoués aux Beaux-Arts auraient été perdus dans un art impie. Le Dieu de cet art était M. Trân Phenh, un artiste que nous avions admiré et considéré comme un artiste hors de notre portée. Son art consistait en dextérité, son talent consistait à produire des couleurs criardes appliquées sur des silhouettes copiées de photos, sans se préoccuper de l'émotion de l'artiste. M. Phenh était présent au premier examen d'entrée de l'Ecole des Beaux-Arts. Nous le regardions avec envie, pensant qu'il venait là non pour étudier, mais pour devenir un professeur. Pendant les travaux de nus académiques, tout le monde ouvrait grand ses yeux pour observer le mouvement des mains de M. Phenh sur le papier. Il sortait de derrière ses oreilles des crayons de toutes tailles, puis des feuilles de papier brillant de tous formats, aussi habilement qu'un coiffeur nettoyant les oreilles de son client. Il ajoutait les touches de finition aux cils ou aux rides des lèvres sur le modèle dans le tableau. Les résultats de l'examen furent très étonnants : M. Phenh échoua.
Lui-même et son art ont alors cessé d'être sacrés. Joyeux, passionnés, confiants, nous sommes entrés à l'Ecole des Beaux-Arts pour atteindre le palais de la " Beauté " vers laquelle nous fûmes très vite attirés. Y eut-t-il d'autres jeunes gens ayant une passion pour la beauté humaine telle que la nôtre pour la " Beauté " ?
Dans le monde de cœurs aussi passionnés, on parlait des peintres chinois, japonais ou européens connus de ce siècle ou du siècle passé. On aimait fouiller dans leur caractère, leur talent, comme s'ils étaient de vieilles connaissances, bien qu'ils ne leur soient connus que par les journaux ou les couleurs ou le noir et blanc des photos de leurs dernières œuvres. On aime un tableau seulement après l'avoir compris. Ces œuvres avaient quelque chose de sympathique, une certaine atmosphère dans laquelle nos étudiants des Beaux-Arts se trouvaient à l'aise.

Ne leur en demandez pas la raison. Ils peuvent seulement vous répondre, selon Montaigne : " parce que c'est Hokusai, Manet, Cézanne, Van Gogh … parce que c'est nous … ". La querelle entre l'Ecole des Beaux-Arts et le public commença avec la première exposition en 1928-29 à l'Ecole même des Beaux-Arts. Il y avait le tableau " Jeune Fille Aux Cheveux Emmêlés " avec un visage plein de tristesse peint par Lê Phô, " La Jeune Fille Sur Un Lit de Camp ", les larmes aux yeux, peint par Mai Trung Thu. Il y avait le doux " Vieillard " peint par Mlle Le Thi Luu, quelques tableaux de couleur marron foncé par Nguyên Phan Chanh, décrivant la campagne. Les peintures sur soie n'existaient pas encore. C'étaient des toiles rugueuses et rudes, ni lisses ni brillantes comme les photos que le public aimait. La presse fit des remarques prudentes. On blâmait les tableaux de Le Phô et de Nguyen Phan Chan pour leurs couleurs " boueuses ". Pensaient-ils que ces remarques étaient simplement élogieuses ? Un quotidien remarquait de façon ironique la " lascivité " de la peinture de Mai Trung Thu parce que l'artiste avait peint une jeune femme portant un pantalon en satin et seulement un cache-seins. A l'époque, la tendance générale parmi les peintres était de représenter une jeune fille rêveuse, innocente et mélancolique … Etait-ce un signe des temps ? Qui peut être comparé à Mai Trung Thu pour peindre des yeux remplis de larmes ? Toutes les jeunes filles peintes par Lê Phô avaient des yeux ternes sans éclat. Les gens aimaient les peintures lorsqu'elles paraissaient chinoises ou japonaises. Ils aimaient appliquer de nombreux sceaux rouges aux longues inscriptions chinoises, ils aimaient les rochers, les arbres, les silhouettes qu'on retrouvait seulement dans les peintures chinoises. " Très chinois ", c'était un compliment qui était reçu avec bonheur par l'artiste. Ce spectacle risible trahissait un manieurisme, une préférence pour la routine au lieu de l'émotion sincère, comme si l'œuvre pictorale n'était qu'un regard vers l'extérieur sans âme.

En 1931, la Foire Internationale qui eut lieu en France permit au public de découvrir la peinture vietnamienne. J'aurais aimé par là dire la peinture sur soie, qui ne ressemblait ni à la peinture européenne, ni à la peinture chinoise, du jeune Nguyên Phan Chanh qui gardait jalousement son parapluie près de lui, le jeune homme qui a amorcé un mouvement pour la peinture sur soie, spécifiquement vietnamienne, à laquelle ni lui ni les autres n'avaient jamais pensé.

(Cet article écrit par Tô Ngoc Vân a paru dans " Xuan Thu Nha Tap " en 1942)

“Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại” đăng trên tờ Thanh Nghị (?)
...
Dưới sự điều hành của Victor Tardieu và Nam Sơn, bộ máy thuộc địa của thực dân Pháp không mấy hài lòng về nhà trường vì chúng thấy không đạt hiệu quả kinh tế nên đối xử thô bạo là tìm cách đóng cửa! Nhằm phản ứng lại thái độ thực dân và hành động phi văn hóa như thế, Victor Tardieu và Nam Sơn đã bàn với nhau phải tổ chức cuộc triển lãm để đánh động dư luận.

Cuộc trưng bày đầu tiên này đã diễn ra vào năm 1928 ngay tại nhà trường. Ta thấy có tranh Thiếu nữ rũ tóc của Lê Phổ, Thiếu nữ ngồi trên sập của Mai Trung Thứ, Ông già của Lê Thị Lựu, Cò trắng và cá vàng, Chợ gạo trên tả ngạn sông Hồng của Nam Sơn, Hai vợ chồng nông dân trục lúa của Nguyễn Phan Chánh... ngoài ra còn có bài viết Bước đầu của hội họa Việt Nam hiện đại của Tô Ngọc Vân. Dư luận rất hoan nghênh thành quả nghệ thuật mà nhà trường đã đạt được qua cuộc triển lãm này...
Người đặt nền móng cho mỹ thuật hiện đại VN - Lê Minh Quốc, 03/08/2014, Báo Thanh Niên.







Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị









TN100-104 - "Mỹ thuật Việt Nam hiện đại và tương lai hội họa"

Mỹ thuật Việt Nam hiện đại và tương lai hội họa

Tô Ngọc Vân


Nguồn: Thanh Nghị số 100-104, 05/02/1945, tr. 74-75, 78.

Mỹ thuật Việt Nam hiện đại và tương lai hội họa

Tô Ngọc Vân


Nguồn: Thanh Nghị số 100-104, 05/02/1945, tr. 74-75, 78.

TN080 - "Nghề gốm với hai ông Trần văn Đức và Ngô trọng Tuynh"

Nghề gốm với hai ông Trần văn Đức và Ngô trọng Tuynh

Ái Mỹ



Nguồn: Thanh Nghị số 80, 26/08/1944, tr. 24-25.

Nghề gốm với hai ông Trần văn Đức và Ngô trọng Tuynh

Ái Mỹ



Nguồn: Thanh Nghị số 80, 26/08/1944, tr. 24-25.

TN077 - "Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn gia Trí"

Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn gia Trí

Tô Ngọc Vân (với bút danh Tục Tử? - Tô Tử)


Nguồn: Thanh Nghị số 77, 05/08/1944, tr. 22, 26.

Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn gia Trí

Tô Ngọc Vân (với bút danh Tục Tử? - Tô Tử)


Nguồn: Thanh Nghị số 77, 05/08/1944, tr. 22, 26.

TN045 - "Sơn ta: Mỹ thuật thuần túy hay mỹ thuật trang sức"

Sơn ta: Mỹ thuật thuần túy hay mỹ thuật trang sức

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Thanh Nghị số 45, 16/09/1943, tr. 2-4.


Sơn ta: Mỹ thuật thuần túy hay mỹ thuật trang sức

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Thanh Nghị số 45, 16/09/1943, tr. 2-4.


TN029 - "Nhân cuộc triển lãm sắp tới về mỹ thuật tại Tokyo"

Nhân cuộc triển lãm sắp tới về mỹ thuật tại Tokyo

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Thanh Nghị số 29-31, 02/1943, tr. 4, 13.


Nhân cuộc triển lãm sắp tới về mỹ thuật tại Tokyo

Tô Ngọc Vân



Nguồn: Thanh Nghị số 29-31, 02/1943, tr. 4, 13.


TN024 - "Văn chương trong hội họa"



TN019 - Cái Đẹp trong tranh

Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Cái Đẹp trong tranh

Tô Ngọc Vân

L.T.S. – Trong mục “để gần hội họa” họa-sĩ Tô Ngọc Vân có ý giảng giải những sự sai lầm của công-chúng trong phạm vi nghệ-thuật. Sau đó sẽ đối chiếu hội-họa phương Tây với hội-họa Á-Đông, rồi lược khảo đến hội-họa Việt-Nam từ lúc bán khai tới giờ. Sau rốt đến sự Âu-hóa trong hội-họa Việt-Nam và tương lai của nó.

Kỳ Triển lãm tranh dầu Nhật ở Hanoi trước đây mấy tháng, có bầy một bức họa người đàn bà Khỏa Thân, mầu nâu dìu dịu, hơi hoen sanh và hồng, rung cảm một không khí buồn êm thấm thía. Tôi thấy tác phẩm “Đẹp” và ngỏ cảm tưởng ấy cùng bạn tôi cũng đến thưởng thức họa phẩm, song là một văn sĩ không quen nghề họa của chúng tôi mấy. Bạn tôi chê bức tranh xấu. Phân tách cảm giác của bạn, hai tôi nhận ra rằng bạn thấy xấu ở chỗ người đàn bà hình dung trên tranh có cặp mắt to quá, cái mũi thì díu lại, còn cái môi lại vều ra.

Biết bao nhiêu người trong công chúng ta, hoặc đã thưởng thức sai lạc hay chỉ trích nhầm đường như bạn tôi chỉ vì đã lẫn cái “đẹp” ở trong tranh với cái Đẹp ở ngoài đời! Người đi xem tranh tả thiếu nữ mà khó tính như đi xem mặt hỏi vợ thì cũng có một đôi khi vừa lòng, nhưng phần nhiều bị thất vọng. Cái Đẹp ở ngoài đời, tôi muốn nói cái Đẹp mọi người đời công nhận – cũng một đôi khi là cái “Đẹp” trong tranh. Thí dụ: một thiếu nữ người đời cho là Đẹp diễn tả trên họa phẩm tuyệt tác, những đàn bà của họa sỹ Raphaël(1) chẳng hạn.

Song một phần lớn, nhân vật của những họa-sĩ đại tài không phải là những người mà công chúng hay cả đến nhà mỹ-thuật nhận là Đẹp. Còn có tai nạn nào lớn hơn cho Matisse(2) là phải ôm ấp những đàn bà họa-sĩ tô điểm, những khuôn mặt siêu vẹo như sau một tai nạn ô tô! Còn cái khổ nào to hơn cho Raoult(3) nếu phải âu yếm những phụ-nữ mình đã sáng tạo với hình giáng ngáo ọp như để dọa nhát tinh!

Vậy mà những nghệ-sĩ ấy vẫn yêu, vẫn thấy “Đẹp” những nhân vật ấy, yêu theo lòng yêu của nhà mỹ-thuật, chứ không thiên theo quan niệm cái Đẹp ở ngoài đời. Gặp họ ở ngoài đời, chắc nghệ-sĩ không có can đảm đem họ về làm vợ, nhưng trong thế-giới mỹ-thuật riêng của nghệ-sĩ, đó là người đàn bà kiểu mẫu, người đàn bà lý-tưởng. Bởi những duyên cớ mỹ-thuật. Bởi những hình, những sắc, người đàn bà lý-tưởng đã bầy, đã giải rác trên họa phẩm để tạo lên những không khí về sắc, về hình mà nghệ-sĩ muốn có.

Cái bí quyết của nghệ thuật bức họa là ở sắc với hình, sao chúng ta lại không chỉ dựa vào hình và sắc mà phán đoán một bức tranh. Người đàn bà Đẹp hay người đàn bà Xấu có mặt ở trên bức tranh là vì những cớ về sắc về hình, chứ không phải vì người đời đã thấy họ Đẹp hay Xấu.

Suy từ người cho đến phong cảnh hay vật gì tả trong tranh cũng vẫn thế. Trông cái áo đẹp mới may, hay một tòa nhà lộng lẫy, hay một cái mũ cánh chuồn vị tất họa-sĩ đã thấy nguồn hứng cảm mãnh liệt như khi trông thấy cái áo nâu vá, chiếc nhà danh siêu lệch, hay cái nón rách của người ăn mày.

Nói tóm lại, nghệ-sĩ đánh giá nhân vật cân nhắc cái Đẹp của nó theo phẩm lượng về sắc với hình.

Cái “Đẹp” ở trong tranh, vì thế, ít khi là cái Đẹp ở ngoài đời.

Tô Ngọc Vân


———–
(1) Người Ý hồi mỹ-thuật Phục Hưng.
(2) Họa-sĩ Pháp hiện thời.
(3) Họa-sĩ Pháp hiện thời.


(Nguồn: Tạp chí Thanh Nghị số 19, 8/1942, chuyên mục “Để gần hội họa”)


* Tiếp theo Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1); (2); (3)

Nguồn: Soi - 16. 05. 10 - 12:39 pm - GẪM & BÌNH

Minh họa của "Soi"

“Thị Nở”, Hoàng Phượng Vỹ, sơn dầu, 2005

Thị Nở, Lê Quảng Hà, Sơn dầu, 2005
Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Cái Đẹp trong tranh

Tô Ngọc Vân

L.T.S. – Trong mục “để gần hội họa” họa-sĩ Tô Ngọc Vân có ý giảng giải những sự sai lầm của công-chúng trong phạm vi nghệ-thuật. Sau đó sẽ đối chiếu hội-họa phương Tây với hội-họa Á-Đông, rồi lược khảo đến hội-họa Việt-Nam từ lúc bán khai tới giờ. Sau rốt đến sự Âu-hóa trong hội-họa Việt-Nam và tương lai của nó.

Kỳ Triển lãm tranh dầu Nhật ở Hanoi trước đây mấy tháng, có bầy một bức họa người đàn bà Khỏa Thân, mầu nâu dìu dịu, hơi hoen sanh và hồng, rung cảm một không khí buồn êm thấm thía. Tôi thấy tác phẩm “Đẹp” và ngỏ cảm tưởng ấy cùng bạn tôi cũng đến thưởng thức họa phẩm, song là một văn sĩ không quen nghề họa của chúng tôi mấy. Bạn tôi chê bức tranh xấu. Phân tách cảm giác của bạn, hai tôi nhận ra rằng bạn thấy xấu ở chỗ người đàn bà hình dung trên tranh có cặp mắt to quá, cái mũi thì díu lại, còn cái môi lại vều ra.

Biết bao nhiêu người trong công chúng ta, hoặc đã thưởng thức sai lạc hay chỉ trích nhầm đường như bạn tôi chỉ vì đã lẫn cái “đẹp” ở trong tranh với cái Đẹp ở ngoài đời! Người đi xem tranh tả thiếu nữ mà khó tính như đi xem mặt hỏi vợ thì cũng có một đôi khi vừa lòng, nhưng phần nhiều bị thất vọng. Cái Đẹp ở ngoài đời, tôi muốn nói cái Đẹp mọi người đời công nhận – cũng một đôi khi là cái “Đẹp” trong tranh. Thí dụ: một thiếu nữ người đời cho là Đẹp diễn tả trên họa phẩm tuyệt tác, những đàn bà của họa sỹ Raphaël(1) chẳng hạn.

Song một phần lớn, nhân vật của những họa-sĩ đại tài không phải là những người mà công chúng hay cả đến nhà mỹ-thuật nhận là Đẹp. Còn có tai nạn nào lớn hơn cho Matisse(2) là phải ôm ấp những đàn bà họa-sĩ tô điểm, những khuôn mặt siêu vẹo như sau một tai nạn ô tô! Còn cái khổ nào to hơn cho Raoult(3) nếu phải âu yếm những phụ-nữ mình đã sáng tạo với hình giáng ngáo ọp như để dọa nhát tinh!

Vậy mà những nghệ-sĩ ấy vẫn yêu, vẫn thấy “Đẹp” những nhân vật ấy, yêu theo lòng yêu của nhà mỹ-thuật, chứ không thiên theo quan niệm cái Đẹp ở ngoài đời. Gặp họ ở ngoài đời, chắc nghệ-sĩ không có can đảm đem họ về làm vợ, nhưng trong thế-giới mỹ-thuật riêng của nghệ-sĩ, đó là người đàn bà kiểu mẫu, người đàn bà lý-tưởng. Bởi những duyên cớ mỹ-thuật. Bởi những hình, những sắc, người đàn bà lý-tưởng đã bầy, đã giải rác trên họa phẩm để tạo lên những không khí về sắc, về hình mà nghệ-sĩ muốn có.

Cái bí quyết của nghệ thuật bức họa là ở sắc với hình, sao chúng ta lại không chỉ dựa vào hình và sắc mà phán đoán một bức tranh. Người đàn bà Đẹp hay người đàn bà Xấu có mặt ở trên bức tranh là vì những cớ về sắc về hình, chứ không phải vì người đời đã thấy họ Đẹp hay Xấu.

Suy từ người cho đến phong cảnh hay vật gì tả trong tranh cũng vẫn thế. Trông cái áo đẹp mới may, hay một tòa nhà lộng lẫy, hay một cái mũ cánh chuồn vị tất họa-sĩ đã thấy nguồn hứng cảm mãnh liệt như khi trông thấy cái áo nâu vá, chiếc nhà danh siêu lệch, hay cái nón rách của người ăn mày.

Nói tóm lại, nghệ-sĩ đánh giá nhân vật cân nhắc cái Đẹp của nó theo phẩm lượng về sắc với hình.

Cái “Đẹp” ở trong tranh, vì thế, ít khi là cái Đẹp ở ngoài đời.

Tô Ngọc Vân


———–
(1) Người Ý hồi mỹ-thuật Phục Hưng.
(2) Họa-sĩ Pháp hiện thời.
(3) Họa-sĩ Pháp hiện thời.


(Nguồn: Tạp chí Thanh Nghị số 19, 8/1942, chuyên mục “Để gần hội họa”)


* Tiếp theo Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1); (2); (3)

Nguồn: Soi - 16. 05. 10 - 12:39 pm - GẪM & BÌNH

Minh họa của "Soi"

“Thị Nở”, Hoàng Phượng Vỹ, sơn dầu, 2005

Thị Nở, Lê Quảng Hà, Sơn dầu, 2005

TN015 - Liên lạc hội-họa với nhiếp ảnh


Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Liên lạc hội-họa với nhiếp ảnh

Nhân cuộc triển lãm ảnh mỹ-thuật của ông Tranh, An và Nghi
Tô Ngọc Vân



Trong một số báo trước, phân biệt Họa sĩ với máy ảnh, tôi tỏ ý rằng mỹ phẩm của bức tranh không còn nữa khi tranh rình bắt chước ảnh. Nghĩ như vậy không phải là khinh chiếc máy ảnh và nghề nhiếp ảnh.

Ảnh có thiên-chức riêng, rất quý giá vì rất cần, thiên chức của những tài liệu (documents) sác thực, minh bạch, về hình trạng. Đó là những “chứng” thực thà, không biết thiên vị, và không làm ai chối cãi nổi. Sự can hệ của ảnh đối với khoa học cũng như ở nhiều giới khác là điều rõ ràng rồi.

Ngoài cái giá trị “Tài liệu” của ảnh, nhiều khi chúng ta đứng về phương diện mỹ-thuật mà xét nó. Là vì, nếu có những họa-sĩ muốn thành nhà nhiếp ảnh, thì có những nhà nhiếp ảnh muốn làm họa-sĩ. Âu cũng do một số tư cách chung của Tranh và Ảnh. Trước hết ảnh cũng như tranh là một mặt phẳng lì (surface plane) trên đó tả những vật ba chiều (trois dimensions). Người xem có ảo tưởng về sự nổi và sự sâu hay xa gần. Sau nữa, muốn chụp một bức ảnh – tôi nói ảnh mỹ thuật – nhà nhiếp ảnh cũng phải biết xếp đặt, khéo trình bầy những nhân vật để tả; phải sành chọn ánh sáng cho những thứ ấy thêm giá trị hay đến được cái vẻ mà mình muốn nó có; phải lựa chiều mà chụp để toàn thể nổi vị; phải tả giáng dấp, phẩm cách đặc biệt và thể chất riêng của từng vật.

Và hơn hết cả, quan niệm “đẹp” một phần cũng từa tựa như nhau, là họa sĩ hay nhà nhiếp ảnh phân biệt đẹp với xấu ở chỗ hình bóng của những vật lên mặt tranh hay ảnh đẹp hay xấu. Chứ không vì những vật ấy đắt tiền, quý giá, hay vì những người không phải nhà nghề khen là đẹp. Ví dụ: một cành lá dủ xuống mặt nước, một chút ánh sáng đi qua đám cỏ lau, một bàn tay rúng vào bùn, một cái ghế tồi trên đặt chiếc giầy nát… đã là những vẻ đẹp ảnh và tranh.

Ảnh nhiều lần, đã tả những cảnh mập mờ lối họa-sĩ Corot, hay in những khổ mặt nửa sáng nửa lẩn vào tối như trên tác phẩm của họa-sĩ Rembrandt, hay chắp chồng những hình lên nhau kiểu phái Siêu-hiện-thực (Surréaliste)…

Vậy đứng trước những mỹ thuật phẩm về hình ảnh ấy, ta có cảm sự rung động như khi ngắm một bức tranh không? Hay, nói rộng ra, ta có đặt ngang giá trị một tác phẩm hội họa đẹp và một bức ảnh mỹ thuật hoàn toàn? Ta có đem nhà nhiếp ảnh lên cùng bực với nhà danh họa?

Sự thực thì chưa ai nói có. Trái lại, người ta còn tự hỏi xem nhiếp ảnh có đáng gọi là một mỹ-thuật? Và đối diện với Họa phẩm, bức ảnh, theo ý người ta, vẫn chỉ là kiểu mẫu những cái mà họa-sĩ không bao giờ nên làm. Có phải chăng bao nhiêu những sự không đẹp nhà nhiếp ảnh mỹ thuật phải chịu đựng cũng chỉ vì đã nhờ một bộ máy để diễn tả ý nghĩ của mình?

Nếu tôi tin bức tranh theo ảnh là của dở, tôi lại nghĩ rằng nhà nhiếp ảnh đem khuynh hướng hội họa vào nghệ thuật ảnh là điều hay. Không để cái máy tự do hành động một cách lãnh đạm, thản nhiên, nhà nhiếp ảnh khiến nó, bắt nó theo chiều ý nghĩ hay cảm tưởng của mình trong sự dàn xếp, bầy ra một hoàn cảnh, một không khí, một giáng điệu trên những vật mình chụp. Nghĩa là đặt một linh hồn rung động trong cái máy mà chính mình làm chủ não. Cũng như nhà hội họa đặt một linh hồn vào ngọn bút hay mầu thuốc. Có khác là cái quyền sai khiến của họa-sĩ đối với vật dụng như bút, thuốc thì mênh mông vô chừng, mà cái sức điều khiển bộ máy của nhà nhiếp ảnh thì không vô hạn. Có khác ở chỗ Họa sĩ là nhà mỹ-thuật nhiều mánh khóe, còn nhà nhiếp ảnh là nhà mỹ-thuật không rộng bằng.

*
*      *

Để sáng tỏ mấy ý này, Hanoi chúng ta, tháng trước đã được ngắm những tác phẩm của ba nhà nhiếp ảnh mỹ-thuật Tranh, An và Nghi, trưng bầy ở phòng chụp tại đường phố Cửa Nam. Ông Nghi, bầy chuyên phong cảnh, có hai bức đặc biệt về ánh sáng trong, bức đám thuyền chung quanh gợn sóng và bức mây soi mình vào nước. Còn hai ông Tranh và An, dân Hanoi đã làm quen cách đây một năm – hay hơn nữa – ở một hiệu chụp ảnh, trong một cuộc triển lãm ảnh các nhà văn-sĩ, nghệ-sĩ Hà-Thành do hai ông chụp. Những tác phẩm trước và vừa đây đã soi rõ một vài đặc điểm của hai ông mà chúng ta nhận thấy. Sở trường của các ông đến bây giờ là ở những tác phẩm về người.

Muốn hiểu giá trị những tấm truyền thần do các ông chúng ta nên nhìn lại những bức truyền thần khác, của mấy hiệu ảnh hồi trước, những bức ảnh mà người ta quảng cáo là “mỹ thuật”, và một độ được công chúng ưa chuộng lắm, cái công chúng trong đó nhiều nhất có các cậu hay các cô chụp ảnh mình để cho nhà gái hay nhà trai xem mặt, và những cặp vợ chồng mới cưới cùng muốn trẻ măng, âu yếm tì đầu vào nhau trên ảnh.

Tác giả những bóng họ ưa, có tài quỷ thuật biến những khuôn mặt hốc hác vì ho lao, trở nên béo tốt phương phi mũm mĩm, và một nước da bánh mật hay đen sì hóa trắng toát như vôi.

Lại còn cái viền ánh sáng quanh mớ tóc và mấy vệt ánh sáng quệt hai bên má nó làm mặt trong đi như thủy tinh! Toàn những vẻ và những cớ rất can hệ để cho người ta muốn truyền thần lại mình!

Hai ông Tranh và An hình như không đồng lòng với mấy nhà nhiếp ảnh quỷ thuật chứ không phải mỹ-thuật ấy. Các ông đã sáng tạo ra một thứ ảnh người hệt người, không “đẹp” ra theo nghĩa ngô ngốc, trọn tả được thể chất và tính cách từng nét mặt, từng vẻ mặt. Sự sáng tạo rõ ràng nhất là khéo dìm những khuôn mặt vào bóng tối để, tùy theo, làm lộ một khổ mặt rắn sương hay dịu tròn.

Ngần ấy tác phẩm chỉ có độ vài ba thiếu-nữ ngồi làm kiểu. Các ông đã tài soay chiều và phân phát ánh sáng với bóng tối, trên những bộ phận ở mặt xếp bên cạnh chiếc mành, hay dựa vào mảng bóng đen, lúc ẩn lúc hiện nửa chừng hay rõ rệt, để thành một số nhiều tác phẩm giá trị như nhau, vậy mà mỗi bức một vẻ riêng cao quý. Người ta thấy nhà mỹ thuật thận trọng, tằn tiện từng chút bợn sáng, hay ánh sáng lõa lồ, từng màng bóng hay đặc đen phủ lên phải chỗ, không quá tay, để ta cảm thấy điệu nhịp nhàng cân đối trong tấm ảnh. Cái chấm sáng trên môi của hình thiếu-nữ ngực lộ trần, nở nang và sám dịu, đã gợi ý sắc dục, một cách điều độ và có duyên. Nét mặt hơi tươi như sắp cười chìm trong nửa sáng nửa tối làm phảng phất một bầu không khí đầy yêu.

Đó là những tác phẩm mỹ thuật. Hiểu theo quan niệm chính đường và lòng ham mê nghệ thuật.

Có ai không vừa lòng? Họa chăng lại chỉ mấy cô dâu chú rể tương lai không thấy các ông Tranh An làm lợi cho mình!
Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)


(Nguồn: Thanh Nghị số 15, 16/6/1942, tr. 2-3. (SOI 26. 04. 10 - 7:23 pm)
Nguồn: SOI 26. 04. 10 - 7:23 pm - BÀN LUẬN


Minh họa của "Soi"




Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Liên lạc hội-họa với nhiếp ảnh

Nhân cuộc triển lãm ảnh mỹ-thuật của ông Tranh, An và Nghi
Tô Ngọc Vân



Trong một số báo trước, phân biệt Họa sĩ với máy ảnh, tôi tỏ ý rằng mỹ phẩm của bức tranh không còn nữa khi tranh rình bắt chước ảnh. Nghĩ như vậy không phải là khinh chiếc máy ảnh và nghề nhiếp ảnh.

Ảnh có thiên-chức riêng, rất quý giá vì rất cần, thiên chức của những tài liệu (documents) sác thực, minh bạch, về hình trạng. Đó là những “chứng” thực thà, không biết thiên vị, và không làm ai chối cãi nổi. Sự can hệ của ảnh đối với khoa học cũng như ở nhiều giới khác là điều rõ ràng rồi.

Ngoài cái giá trị “Tài liệu” của ảnh, nhiều khi chúng ta đứng về phương diện mỹ-thuật mà xét nó. Là vì, nếu có những họa-sĩ muốn thành nhà nhiếp ảnh, thì có những nhà nhiếp ảnh muốn làm họa-sĩ. Âu cũng do một số tư cách chung của Tranh và Ảnh. Trước hết ảnh cũng như tranh là một mặt phẳng lì (surface plane) trên đó tả những vật ba chiều (trois dimensions). Người xem có ảo tưởng về sự nổi và sự sâu hay xa gần. Sau nữa, muốn chụp một bức ảnh – tôi nói ảnh mỹ thuật – nhà nhiếp ảnh cũng phải biết xếp đặt, khéo trình bầy những nhân vật để tả; phải sành chọn ánh sáng cho những thứ ấy thêm giá trị hay đến được cái vẻ mà mình muốn nó có; phải lựa chiều mà chụp để toàn thể nổi vị; phải tả giáng dấp, phẩm cách đặc biệt và thể chất riêng của từng vật.

Và hơn hết cả, quan niệm “đẹp” một phần cũng từa tựa như nhau, là họa sĩ hay nhà nhiếp ảnh phân biệt đẹp với xấu ở chỗ hình bóng của những vật lên mặt tranh hay ảnh đẹp hay xấu. Chứ không vì những vật ấy đắt tiền, quý giá, hay vì những người không phải nhà nghề khen là đẹp. Ví dụ: một cành lá dủ xuống mặt nước, một chút ánh sáng đi qua đám cỏ lau, một bàn tay rúng vào bùn, một cái ghế tồi trên đặt chiếc giầy nát… đã là những vẻ đẹp ảnh và tranh.

Ảnh nhiều lần, đã tả những cảnh mập mờ lối họa-sĩ Corot, hay in những khổ mặt nửa sáng nửa lẩn vào tối như trên tác phẩm của họa-sĩ Rembrandt, hay chắp chồng những hình lên nhau kiểu phái Siêu-hiện-thực (Surréaliste)…

Vậy đứng trước những mỹ thuật phẩm về hình ảnh ấy, ta có cảm sự rung động như khi ngắm một bức tranh không? Hay, nói rộng ra, ta có đặt ngang giá trị một tác phẩm hội họa đẹp và một bức ảnh mỹ thuật hoàn toàn? Ta có đem nhà nhiếp ảnh lên cùng bực với nhà danh họa?

Sự thực thì chưa ai nói có. Trái lại, người ta còn tự hỏi xem nhiếp ảnh có đáng gọi là một mỹ-thuật? Và đối diện với Họa phẩm, bức ảnh, theo ý người ta, vẫn chỉ là kiểu mẫu những cái mà họa-sĩ không bao giờ nên làm. Có phải chăng bao nhiêu những sự không đẹp nhà nhiếp ảnh mỹ thuật phải chịu đựng cũng chỉ vì đã nhờ một bộ máy để diễn tả ý nghĩ của mình?

Nếu tôi tin bức tranh theo ảnh là của dở, tôi lại nghĩ rằng nhà nhiếp ảnh đem khuynh hướng hội họa vào nghệ thuật ảnh là điều hay. Không để cái máy tự do hành động một cách lãnh đạm, thản nhiên, nhà nhiếp ảnh khiến nó, bắt nó theo chiều ý nghĩ hay cảm tưởng của mình trong sự dàn xếp, bầy ra một hoàn cảnh, một không khí, một giáng điệu trên những vật mình chụp. Nghĩa là đặt một linh hồn rung động trong cái máy mà chính mình làm chủ não. Cũng như nhà hội họa đặt một linh hồn vào ngọn bút hay mầu thuốc. Có khác là cái quyền sai khiến của họa-sĩ đối với vật dụng như bút, thuốc thì mênh mông vô chừng, mà cái sức điều khiển bộ máy của nhà nhiếp ảnh thì không vô hạn. Có khác ở chỗ Họa sĩ là nhà mỹ-thuật nhiều mánh khóe, còn nhà nhiếp ảnh là nhà mỹ-thuật không rộng bằng.

*
*      *

Để sáng tỏ mấy ý này, Hanoi chúng ta, tháng trước đã được ngắm những tác phẩm của ba nhà nhiếp ảnh mỹ-thuật Tranh, An và Nghi, trưng bầy ở phòng chụp tại đường phố Cửa Nam. Ông Nghi, bầy chuyên phong cảnh, có hai bức đặc biệt về ánh sáng trong, bức đám thuyền chung quanh gợn sóng và bức mây soi mình vào nước. Còn hai ông Tranh và An, dân Hanoi đã làm quen cách đây một năm – hay hơn nữa – ở một hiệu chụp ảnh, trong một cuộc triển lãm ảnh các nhà văn-sĩ, nghệ-sĩ Hà-Thành do hai ông chụp. Những tác phẩm trước và vừa đây đã soi rõ một vài đặc điểm của hai ông mà chúng ta nhận thấy. Sở trường của các ông đến bây giờ là ở những tác phẩm về người.

Muốn hiểu giá trị những tấm truyền thần do các ông chúng ta nên nhìn lại những bức truyền thần khác, của mấy hiệu ảnh hồi trước, những bức ảnh mà người ta quảng cáo là “mỹ thuật”, và một độ được công chúng ưa chuộng lắm, cái công chúng trong đó nhiều nhất có các cậu hay các cô chụp ảnh mình để cho nhà gái hay nhà trai xem mặt, và những cặp vợ chồng mới cưới cùng muốn trẻ măng, âu yếm tì đầu vào nhau trên ảnh.

Tác giả những bóng họ ưa, có tài quỷ thuật biến những khuôn mặt hốc hác vì ho lao, trở nên béo tốt phương phi mũm mĩm, và một nước da bánh mật hay đen sì hóa trắng toát như vôi.

Lại còn cái viền ánh sáng quanh mớ tóc và mấy vệt ánh sáng quệt hai bên má nó làm mặt trong đi như thủy tinh! Toàn những vẻ và những cớ rất can hệ để cho người ta muốn truyền thần lại mình!

Hai ông Tranh và An hình như không đồng lòng với mấy nhà nhiếp ảnh quỷ thuật chứ không phải mỹ-thuật ấy. Các ông đã sáng tạo ra một thứ ảnh người hệt người, không “đẹp” ra theo nghĩa ngô ngốc, trọn tả được thể chất và tính cách từng nét mặt, từng vẻ mặt. Sự sáng tạo rõ ràng nhất là khéo dìm những khuôn mặt vào bóng tối để, tùy theo, làm lộ một khổ mặt rắn sương hay dịu tròn.

Ngần ấy tác phẩm chỉ có độ vài ba thiếu-nữ ngồi làm kiểu. Các ông đã tài soay chiều và phân phát ánh sáng với bóng tối, trên những bộ phận ở mặt xếp bên cạnh chiếc mành, hay dựa vào mảng bóng đen, lúc ẩn lúc hiện nửa chừng hay rõ rệt, để thành một số nhiều tác phẩm giá trị như nhau, vậy mà mỗi bức một vẻ riêng cao quý. Người ta thấy nhà mỹ thuật thận trọng, tằn tiện từng chút bợn sáng, hay ánh sáng lõa lồ, từng màng bóng hay đặc đen phủ lên phải chỗ, không quá tay, để ta cảm thấy điệu nhịp nhàng cân đối trong tấm ảnh. Cái chấm sáng trên môi của hình thiếu-nữ ngực lộ trần, nở nang và sám dịu, đã gợi ý sắc dục, một cách điều độ và có duyên. Nét mặt hơi tươi như sắp cười chìm trong nửa sáng nửa tối làm phảng phất một bầu không khí đầy yêu.

Đó là những tác phẩm mỹ thuật. Hiểu theo quan niệm chính đường và lòng ham mê nghệ thuật.

Có ai không vừa lòng? Họa chăng lại chỉ mấy cô dâu chú rể tương lai không thấy các ông Tranh An làm lợi cho mình!
Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)


(Nguồn: Thanh Nghị số 15, 16/6/1942, tr. 2-3. (SOI 26. 04. 10 - 7:23 pm)
Nguồn: SOI 26. 04. 10 - 7:23 pm - BÀN LUẬN


Minh họa của "Soi"



TN013 - Họa sĩ và chiếc máy ảnh


Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Họa sĩ và chiếc máy ảnh

Tô Ngọc Vân



Có một nhời khen mà bọn họa sĩ tôi sợ là khi người ta ca-tụng mình đã vẽ tài “hệt như bức ảnh”. Họ sợ vì cho đó là một nhời thóa mạ, vì họ không muốn bị tưởng nhầm là cái máy ảnh không hồn, vì – nói lẩn thẩn – họ là người. Người ấy thường thường có thêm một giác quan mỹ-thuật để cảm vẻ Đẹp, một tấm lòng rộng mở để đón những tình rung động và một óc sáng để soi thấu tâm hồn sự vật. Mà chân giá-trị của họ cũng chỉ ở chỗ đó, và ở chỗ biết đem những cảm giác ấy diễn ra và truyền lại cho người coi tác phẩm của mình.

Vậy, tưởng họ là cái máy, tức coi họ không phải người, thứ nhất người mỹ thuật. Sự chia rẽ ngăn công chúng xa nghệ sĩ, duyên cớ do nhầm lẫn ấy. Một đằng thì yên trí rằng công việc họa sĩ là chép đúng cái vỏ ngoài của sự vật để đi đến một bức ảnh hoàn toàn, trong khi đằng này thiết tha tin sứ mệnh của mình là tả linh-thần sự vật theo như mình yêu, biết, cảm; nói tóm lại không vì cái vỏ ngoài của sự vật, mà vì mình, để tả tâm trạng mình hơn là sự vật, nhiều khi chỉ là những “Cớ”.

Bởi công chúng xem tranh lại đòi ảnh, còn nghệ sĩ bầy tranh lại chỉ muốn bầy tâm trạng mình, nên cái điệu “trống đánh suôi, kèn thổi ngược” ở đây người ta vẫn được nghe luôn.

Bao giờ công chúng cũng bất mãn. Ở tranh không làm gì có sự chơn chu, tỉ mỉ đầy đủ như bức ảnh. Mặt người thì ít khi tỉa đủ lông mày, cây cối thì chẳng bao giờ đủ cành đủ lá…

Riêng tôi lấy làm khó hiểu cái sự thích thực hiện quá quắt ấy của công chúng. Họ thích thế mà lại thích được cả tranh Tàu, thứ mỹ thuật phẩm mà họ vẫn trang hoàng trong nhà. Còn có tranh nào xa thực hiện bằng tranh Tàu! Không khuôn hình thật, không mầu sắc thật.

Vậy mà họ nhìn cho là tự nhiên lắm, không khi vẫn khe khắt bới lông tìm vết trên họa phẩm hiện đại của ta. Nếu công chúng nhìn những tác phẩm này cũng như nhìn tranh Tàu, thì cái bề xa họ với nghệ sĩ sẽ thu lại nhiều. Họ sẽ hiểu nhau hơn.

Không cứ gì công chúng, cũng có xuất hiện những ông họa sĩ ưa tranh giống ảnh. Những ông này được người ta xếp vào tiếng văn vẻ “Tả chân”. Nhưng tả chân, theo họ hiểu là thế nào? Đã có những họa sĩ chăm chú nắn nót từng chiếc khuy áo, đếm từng nét dăn trán, hay tỉa những sợi lông con vật như cái ông cách đây ít lâu đã trưng bầy bức tranh “Con Báo”. Như thế để làm gì? Một tài liệu khoa học thì còn có nghĩa. Nhưng để chép lại những vật mà người ta nhìn thật còn thú hơn nhiều!

Một bức hội-họa chân chính là một tác phẩm mang dấu vết tâm trạng của người đã sáng tạo ra nó, là cảnh vật thêm tâm hồn nghệ sĩ. Không là hình dung thản nhiên, lạnh nhạt của tạo vật, để thay tấm ảnh hay ghi chép hiện trạng khoa học. Phần hồn của tác phẩm không phơi trên tranh như hình một trái cây hay bóng dáng một cái nhà. Muốn hội được tất phải là người dễ cảm lại gặp lúc tâm thần thư thái lợi cho mỹ cảm. Những người đó hiếm, những lúc ấy hiếm, nên sự thưởng thức hoàn toàn một họa phẩm vẫn là việc hiếm.

Phải mượn phong cảnh và nhân vật để tả tâm trạng mình, họa sĩ buồn vì người ta chỉ ngừng lại phong cảnh và nhân vật mà không đi thấu đến tâm trạng của mình. Ở chỗ đó nghệ thuật hội-họa không “trong” bằng âm nhạc. Âm nhạc không mượn một hình gì hay chuyện gì mà rung cảm thẳng đến tâm hồn người nghe.


Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)


(Nguồn: Thanh Nghị số 13, 16/5/1942, tr. 19. (SOI 18. 04. 10 - 9:31 am)
Nguồn: SOI 18. 04. 10 - 9:31 am - BÀN LUẬN

Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Họa sĩ và chiếc máy ảnh

Tô Ngọc Vân



Có một nhời khen mà bọn họa sĩ tôi sợ là khi người ta ca-tụng mình đã vẽ tài “hệt như bức ảnh”. Họ sợ vì cho đó là một nhời thóa mạ, vì họ không muốn bị tưởng nhầm là cái máy ảnh không hồn, vì – nói lẩn thẩn – họ là người. Người ấy thường thường có thêm một giác quan mỹ-thuật để cảm vẻ Đẹp, một tấm lòng rộng mở để đón những tình rung động và một óc sáng để soi thấu tâm hồn sự vật. Mà chân giá-trị của họ cũng chỉ ở chỗ đó, và ở chỗ biết đem những cảm giác ấy diễn ra và truyền lại cho người coi tác phẩm của mình.

Vậy, tưởng họ là cái máy, tức coi họ không phải người, thứ nhất người mỹ thuật. Sự chia rẽ ngăn công chúng xa nghệ sĩ, duyên cớ do nhầm lẫn ấy. Một đằng thì yên trí rằng công việc họa sĩ là chép đúng cái vỏ ngoài của sự vật để đi đến một bức ảnh hoàn toàn, trong khi đằng này thiết tha tin sứ mệnh của mình là tả linh-thần sự vật theo như mình yêu, biết, cảm; nói tóm lại không vì cái vỏ ngoài của sự vật, mà vì mình, để tả tâm trạng mình hơn là sự vật, nhiều khi chỉ là những “Cớ”.

Bởi công chúng xem tranh lại đòi ảnh, còn nghệ sĩ bầy tranh lại chỉ muốn bầy tâm trạng mình, nên cái điệu “trống đánh suôi, kèn thổi ngược” ở đây người ta vẫn được nghe luôn.

Bao giờ công chúng cũng bất mãn. Ở tranh không làm gì có sự chơn chu, tỉ mỉ đầy đủ như bức ảnh. Mặt người thì ít khi tỉa đủ lông mày, cây cối thì chẳng bao giờ đủ cành đủ lá…

Riêng tôi lấy làm khó hiểu cái sự thích thực hiện quá quắt ấy của công chúng. Họ thích thế mà lại thích được cả tranh Tàu, thứ mỹ thuật phẩm mà họ vẫn trang hoàng trong nhà. Còn có tranh nào xa thực hiện bằng tranh Tàu! Không khuôn hình thật, không mầu sắc thật.

Vậy mà họ nhìn cho là tự nhiên lắm, không khi vẫn khe khắt bới lông tìm vết trên họa phẩm hiện đại của ta. Nếu công chúng nhìn những tác phẩm này cũng như nhìn tranh Tàu, thì cái bề xa họ với nghệ sĩ sẽ thu lại nhiều. Họ sẽ hiểu nhau hơn.

Không cứ gì công chúng, cũng có xuất hiện những ông họa sĩ ưa tranh giống ảnh. Những ông này được người ta xếp vào tiếng văn vẻ “Tả chân”. Nhưng tả chân, theo họ hiểu là thế nào? Đã có những họa sĩ chăm chú nắn nót từng chiếc khuy áo, đếm từng nét dăn trán, hay tỉa những sợi lông con vật như cái ông cách đây ít lâu đã trưng bầy bức tranh “Con Báo”. Như thế để làm gì? Một tài liệu khoa học thì còn có nghĩa. Nhưng để chép lại những vật mà người ta nhìn thật còn thú hơn nhiều!

Một bức hội-họa chân chính là một tác phẩm mang dấu vết tâm trạng của người đã sáng tạo ra nó, là cảnh vật thêm tâm hồn nghệ sĩ. Không là hình dung thản nhiên, lạnh nhạt của tạo vật, để thay tấm ảnh hay ghi chép hiện trạng khoa học. Phần hồn của tác phẩm không phơi trên tranh như hình một trái cây hay bóng dáng một cái nhà. Muốn hội được tất phải là người dễ cảm lại gặp lúc tâm thần thư thái lợi cho mỹ cảm. Những người đó hiếm, những lúc ấy hiếm, nên sự thưởng thức hoàn toàn một họa phẩm vẫn là việc hiếm.

Phải mượn phong cảnh và nhân vật để tả tâm trạng mình, họa sĩ buồn vì người ta chỉ ngừng lại phong cảnh và nhân vật mà không đi thấu đến tâm trạng của mình. Ở chỗ đó nghệ thuật hội-họa không “trong” bằng âm nhạc. Âm nhạc không mượn một hình gì hay chuyện gì mà rung cảm thẳng đến tâm hồn người nghe.


Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)


(Nguồn: Thanh Nghị số 13, 16/5/1942, tr. 19. (SOI 18. 04. 10 - 9:31 am)
Nguồn: SOI 18. 04. 10 - 9:31 am - BÀN LUẬN

TN009 - Tranh cổ Việt Nam, tranh Tết


Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Tranh cổ Việt Nam, tranh Tết

Tô Ngọc Vân


L.T.S. – Tìm hiểu mỹ thuật đương đại sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa nếu không bỏ quên phần phê bình nghệ thuật đã từng có trước đây. Rất nhiều điều đã được nói tới, được phân tích trong lịch sử – miễn là người ta thực sự muốn tìm lại. Mục Trường phái và Vấn đề của SOI sẽ đăng lại một số bài viết trước đây của giới họa sĩ và phê bình mỹ thuật Việt Nam, mở đầu là loạt bài của họa sĩ Tô Ngọc Vân đăng trên tạp chí Thanh Nghị trước 1945.


Ngày xưa nước ta có hội-họa không? Những tranh bảo là của các cụ để lại, chúng ta ít được xem quá. Một vài nhà còn giữ một vài bức truyền-thần, một vài tấm tranh hoa điểu, hay sơn thủy. Trừ những bức truyền thần rất hiếm, đại để những tranh đó tả phong cảnh Tầu, nhân vật Tầu, không một giấu vết gì giang sơn nước Nam cả, chứ đừng nói đến tính cách đặc biệt Việt-Nam nữa. Một sản phẩm giá trị ấy chỉ đủ cho ta tin là đã phỏng theo những họa phẩm mỹ-thuật Tầu. Phỏng theo một cách nô lệ chứ không phải là chịu ảnh hưởng. Ảnh hưởng văn hóa Tầu sang ta ở Mỹ-Thuật Việt-Nam cổ, đã giúp sự sáng tạo một Kiến Trúc đặc biệt Việt-Nam, hùng vĩ mà không nặng nề. Khi trông những tòa Kiến-Trúc như chùa Keo hay đình làng Đình-Bảng, người theo hội họa ngày nay không khỏi tiếc, buồn. Nếu các cụ khi xưa để ý đến hội-họa! Làm gì chả dành lại cho họ một gia sản họa phẩm quý giá, làm gì ngày nay, họ, người Việt-nam, phải băn khoăn đi tìm một văn bản Việt-nam trong mỹ-thuật!

Sự lãnh đạm của các cụ với hội họa, chúng ta có nên đổ lỗi cho óc chuộng khoa cử khi xưa, khinh miệt những cái gì không liền với khoa cử? Thực thì cái người trước kia kêu “thợ vẽ” mới độ mươi năm nay được người ta gọi là “họa sĩ”. Thợ vẽ ngày xưa, nếu có, đã làm một nghề mà các cụ coi chẳng vinh hạnh gì. Vì tư tưởng ấy, hội họa Việt-nam không có một nền nếp nào, một căn bản nào chắc chắn. Và cũng vì tư tưởng ấy, khoa lịch sử Việt-nam thiếu mất những vật liệu, những chứng cớ hiển nhiên diễn tả bằng sắc với hình. Ai đã chú ý đến gian phòng Triển lãm của trường Bác Cổ Viễn Đông trong kỳ hội chợ vừa rồi, trưng bầy những di tích lịch sử thành thị nhân vật Việt-nam thuộc về Cận đại đều phải thừa nhận rằng hầu hết tài liệu về tranh dựa theo những bức họa của người ngoại quốc về thời ấy. Những bức họa đầu Ngô mình Sở nhiều khi đến buồn cười! Nhưng không dùng những tranh ấy thì lấy tranh gì, ở đâu? Ít ra nó cũng có ích lợi cho ta hội ý một phần mười về sự thực, nếu không hơn thế.

Đem tính sổ tất cả cái gia-tài về cách diễn tả bằng sắc với hình mà các cụ để lại, chúng ta thấy mỏng mảnh quá, nghèo quá! Đáng kể họa chăng chỉ còn tranh thờ vẽ Quan Lớn, Chầu Bà, Ngũ Hổ, đáng kể vì đã hình dung những vị Thánh Thần bằng người Annam y-phục Annam; và hơn thế một chút, những tranh in nhiều bản gọi là Tranh Tết mà ta thấy bán ở nhà quê kẻ chợ về ngày gần Tết.

Tranh Tết gồm có những tranh để dán cửa như tranh ông Tướng, tranh hai ông Tiến Tài, Tiến Lộc; và những tranh để dán lên tường. Loại này có thể phân ra:

A) Tranh súc vật như “con gà”, “con lợn”, cóc giậy học”, “cưới chuột”…

B) Tranh gương luân lý như “Vua Thuấn cầy voi cảm động đến Trời”, cùng tranh các ông Tăng Tử, Diễm Tử, Vương-Tường đi kiếm củi, lấy sữa hươu, úp cá để về nuôi mẹ…

C) Tranh phong tục như “Họp chợ”, “Làm ruộng”, “Đánh sóc đĩa”, “Tổ tôm ngày tết”, “Leo dừa”, “Đánh ghen”, v.v…


Tổ tôm ngày Tết (tranh Đông Hồ); Thời bình mở hội Xuân/ Nô nức quyết xa gần/ Nhạc dâng ca trong điện/ Trò thưởng vật ngoài sân.

Toàn thể tranh in đều một lối, khắc vào bản gỗ, nét mực và các mầu, dập lên giấy nền đỏ hay vàng. Mấy năm gần đây, giấy nhật trình trắng là thứ nền thông dụng, và nhiều khi cho mau việc, người ta chỉ in một bản nét mực họa hình, còn mầu sắc đều bôi bằng tay cho chóng.

Ai đầu tiên đã nghĩ sinh ra tranh Tết? Ai đầu tiên đã vẽ tranh Tết và tự bao giờ? Chúng tôi không biết. Song một điều chúng tôi chắc chắn mà phỏng đoán là những tác phẩm ấy do những người không phải tay nghề “họa sĩ trong một phút” cao hứng mà phác ra. Tất cả những nhân vật đều hình dung một cách ngây thơ, thô mộc, không có óc nhận xét, tuy nhiều khi giáng giấp cũng linh hoạt. Phần lớn thì mặt người nào cũng giống người nào, trẻ con, đàn bà hay đàn ông; và tờ tranh nào cũng có ngần ấy mầu dùng nguyên chất không bao giờ đổi. Ở những tranh loại luân lý và phong tục thường kèm những giòng chữ nôm dẫn giải ngụ ý của tác giả. Ví dụ trong tranh “ngày xuân đánh tổ tôm” họa sĩ đề mấy câu nói: được bài hay thua đều có vận đỏ đen, cao tay cũng chẳng ăn gì; trong tranh “Đánh ghen” có những lời: thôi thôi bớt giận làm lành, xấu chàng hổ ai…


Đánh ghen (tranh Đông Hồ)

Xuy đó ta nhận thấy rằng, trong tranh Tết, nghệ thuật không có phần mấy. Dụng tâm tác giả là ý tứ phô bầy, ở cái óc tinh nghịch, hóm hỉnh, châm biếm, diễu cợt đến thô một cách suồng sã. Song cũng nhờ thế mà ở tranh Tết cái ngây thơ lắm khi dễ yêu, sự vụng về thường thường cảm động, và một ánh duyên không mầu mỡ phủ lên. Chúng ta ai mà quên được cái chị mặc váy hớ hênh trong tranh “Leo dừa” chèo lên đỉnh cây dừa hái quả; Cái đàn chuột kéo nhau đi đút lót mèo để cầu yên; Cái anh chàng trần như rộng, quăng áo ra đặt cửa trên tranh “Sóc đĩa”; cái chị vợ búi tóc ngược trong tranh “Đánh ghen” săm săm nhẩy đến chỗ anh chồng đang ôm một cô không yếm, một tay chị hoa lên còn một tay lăm lăm cầm cái kéo há miệng sẵn. Để cắt gì? Tùy chúng ta hiểu sao cũng được…

Những tờ tranh ấy đều một giáng một sắc, một nguyên tố, không là kết quả của sự tìm tòi nghệ-thuật có liên tiếp hay biến trạng theo thời đại, không chỉ dẫn một phương châm nghệ thuật nào, vậy không có lợi cho nghệ thuật Hội Họa ngày nay.

Cảm tình đằm thắm của chúng ta với những tờ tranh Tết một phần lớn có lẽ do sự ta nhớ tiếc thời đã qua mà trong những tranh đó ta cảm thấy hương vị đưa lại, cái thời chúng ta còn để chỏm, ngày Tết mặc cái áo bao giờ cũng quá giài rộng, túm nhau bên tường mà âu yếm những tranh Tết rực rỡ dán lên.

Song dẫu sao giá trị tranh Tết ngày nay vẫn còn, không ở phạm vi nghệ thuật, mà ở cái vẻ Tết nó mang đến, mạnh hơn cả bánh chưng xanh và ngang với câu đối đỏ…


Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)



(Nguồn: Tạp chí Thanh Nghị số 9, 2/1942, tr. 4-5.)
Nguồn: SOI 14. 04. 10 - 12:10 am - BÀN LUẬN

Minh họa của "Soi"
Tổ tôm ngày Tết (tranh Đông Hồ);
Thời bình mở hội Xuân/ Nô nức quyết xa gần/ Nhạc dâng ca trong điện/ Trò thưởng vật ngoài sân.

Đánh ghen (tranh Đông Hồ)


Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị

Tranh cổ Việt Nam, tranh Tết

Tô Ngọc Vân


L.T.S. – Tìm hiểu mỹ thuật đương đại sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa nếu không bỏ quên phần phê bình nghệ thuật đã từng có trước đây. Rất nhiều điều đã được nói tới, được phân tích trong lịch sử – miễn là người ta thực sự muốn tìm lại. Mục Trường phái và Vấn đề của SOI sẽ đăng lại một số bài viết trước đây của giới họa sĩ và phê bình mỹ thuật Việt Nam, mở đầu là loạt bài của họa sĩ Tô Ngọc Vân đăng trên tạp chí Thanh Nghị trước 1945.


Ngày xưa nước ta có hội-họa không? Những tranh bảo là của các cụ để lại, chúng ta ít được xem quá. Một vài nhà còn giữ một vài bức truyền-thần, một vài tấm tranh hoa điểu, hay sơn thủy. Trừ những bức truyền thần rất hiếm, đại để những tranh đó tả phong cảnh Tầu, nhân vật Tầu, không một giấu vết gì giang sơn nước Nam cả, chứ đừng nói đến tính cách đặc biệt Việt-Nam nữa. Một sản phẩm giá trị ấy chỉ đủ cho ta tin là đã phỏng theo những họa phẩm mỹ-thuật Tầu. Phỏng theo một cách nô lệ chứ không phải là chịu ảnh hưởng. Ảnh hưởng văn hóa Tầu sang ta ở Mỹ-Thuật Việt-Nam cổ, đã giúp sự sáng tạo một Kiến Trúc đặc biệt Việt-Nam, hùng vĩ mà không nặng nề. Khi trông những tòa Kiến-Trúc như chùa Keo hay đình làng Đình-Bảng, người theo hội họa ngày nay không khỏi tiếc, buồn. Nếu các cụ khi xưa để ý đến hội-họa! Làm gì chả dành lại cho họ một gia sản họa phẩm quý giá, làm gì ngày nay, họ, người Việt-nam, phải băn khoăn đi tìm một văn bản Việt-nam trong mỹ-thuật!

Sự lãnh đạm của các cụ với hội họa, chúng ta có nên đổ lỗi cho óc chuộng khoa cử khi xưa, khinh miệt những cái gì không liền với khoa cử? Thực thì cái người trước kia kêu “thợ vẽ” mới độ mươi năm nay được người ta gọi là “họa sĩ”. Thợ vẽ ngày xưa, nếu có, đã làm một nghề mà các cụ coi chẳng vinh hạnh gì. Vì tư tưởng ấy, hội họa Việt-nam không có một nền nếp nào, một căn bản nào chắc chắn. Và cũng vì tư tưởng ấy, khoa lịch sử Việt-nam thiếu mất những vật liệu, những chứng cớ hiển nhiên diễn tả bằng sắc với hình. Ai đã chú ý đến gian phòng Triển lãm của trường Bác Cổ Viễn Đông trong kỳ hội chợ vừa rồi, trưng bầy những di tích lịch sử thành thị nhân vật Việt-nam thuộc về Cận đại đều phải thừa nhận rằng hầu hết tài liệu về tranh dựa theo những bức họa của người ngoại quốc về thời ấy. Những bức họa đầu Ngô mình Sở nhiều khi đến buồn cười! Nhưng không dùng những tranh ấy thì lấy tranh gì, ở đâu? Ít ra nó cũng có ích lợi cho ta hội ý một phần mười về sự thực, nếu không hơn thế.

Đem tính sổ tất cả cái gia-tài về cách diễn tả bằng sắc với hình mà các cụ để lại, chúng ta thấy mỏng mảnh quá, nghèo quá! Đáng kể họa chăng chỉ còn tranh thờ vẽ Quan Lớn, Chầu Bà, Ngũ Hổ, đáng kể vì đã hình dung những vị Thánh Thần bằng người Annam y-phục Annam; và hơn thế một chút, những tranh in nhiều bản gọi là Tranh Tết mà ta thấy bán ở nhà quê kẻ chợ về ngày gần Tết.

Tranh Tết gồm có những tranh để dán cửa như tranh ông Tướng, tranh hai ông Tiến Tài, Tiến Lộc; và những tranh để dán lên tường. Loại này có thể phân ra:

A) Tranh súc vật như “con gà”, “con lợn”, cóc giậy học”, “cưới chuột”…

B) Tranh gương luân lý như “Vua Thuấn cầy voi cảm động đến Trời”, cùng tranh các ông Tăng Tử, Diễm Tử, Vương-Tường đi kiếm củi, lấy sữa hươu, úp cá để về nuôi mẹ…

C) Tranh phong tục như “Họp chợ”, “Làm ruộng”, “Đánh sóc đĩa”, “Tổ tôm ngày tết”, “Leo dừa”, “Đánh ghen”, v.v…


Tổ tôm ngày Tết (tranh Đông Hồ); Thời bình mở hội Xuân/ Nô nức quyết xa gần/ Nhạc dâng ca trong điện/ Trò thưởng vật ngoài sân.

Toàn thể tranh in đều một lối, khắc vào bản gỗ, nét mực và các mầu, dập lên giấy nền đỏ hay vàng. Mấy năm gần đây, giấy nhật trình trắng là thứ nền thông dụng, và nhiều khi cho mau việc, người ta chỉ in một bản nét mực họa hình, còn mầu sắc đều bôi bằng tay cho chóng.

Ai đầu tiên đã nghĩ sinh ra tranh Tết? Ai đầu tiên đã vẽ tranh Tết và tự bao giờ? Chúng tôi không biết. Song một điều chúng tôi chắc chắn mà phỏng đoán là những tác phẩm ấy do những người không phải tay nghề “họa sĩ trong một phút” cao hứng mà phác ra. Tất cả những nhân vật đều hình dung một cách ngây thơ, thô mộc, không có óc nhận xét, tuy nhiều khi giáng giấp cũng linh hoạt. Phần lớn thì mặt người nào cũng giống người nào, trẻ con, đàn bà hay đàn ông; và tờ tranh nào cũng có ngần ấy mầu dùng nguyên chất không bao giờ đổi. Ở những tranh loại luân lý và phong tục thường kèm những giòng chữ nôm dẫn giải ngụ ý của tác giả. Ví dụ trong tranh “ngày xuân đánh tổ tôm” họa sĩ đề mấy câu nói: được bài hay thua đều có vận đỏ đen, cao tay cũng chẳng ăn gì; trong tranh “Đánh ghen” có những lời: thôi thôi bớt giận làm lành, xấu chàng hổ ai…


Đánh ghen (tranh Đông Hồ)

Xuy đó ta nhận thấy rằng, trong tranh Tết, nghệ thuật không có phần mấy. Dụng tâm tác giả là ý tứ phô bầy, ở cái óc tinh nghịch, hóm hỉnh, châm biếm, diễu cợt đến thô một cách suồng sã. Song cũng nhờ thế mà ở tranh Tết cái ngây thơ lắm khi dễ yêu, sự vụng về thường thường cảm động, và một ánh duyên không mầu mỡ phủ lên. Chúng ta ai mà quên được cái chị mặc váy hớ hênh trong tranh “Leo dừa” chèo lên đỉnh cây dừa hái quả; Cái đàn chuột kéo nhau đi đút lót mèo để cầu yên; Cái anh chàng trần như rộng, quăng áo ra đặt cửa trên tranh “Sóc đĩa”; cái chị vợ búi tóc ngược trong tranh “Đánh ghen” săm săm nhẩy đến chỗ anh chồng đang ôm một cô không yếm, một tay chị hoa lên còn một tay lăm lăm cầm cái kéo há miệng sẵn. Để cắt gì? Tùy chúng ta hiểu sao cũng được…

Những tờ tranh ấy đều một giáng một sắc, một nguyên tố, không là kết quả của sự tìm tòi nghệ-thuật có liên tiếp hay biến trạng theo thời đại, không chỉ dẫn một phương châm nghệ thuật nào, vậy không có lợi cho nghệ thuật Hội Họa ngày nay.

Cảm tình đằm thắm của chúng ta với những tờ tranh Tết một phần lớn có lẽ do sự ta nhớ tiếc thời đã qua mà trong những tranh đó ta cảm thấy hương vị đưa lại, cái thời chúng ta còn để chỏm, ngày Tết mặc cái áo bao giờ cũng quá giài rộng, túm nhau bên tường mà âu yếm những tranh Tết rực rỡ dán lên.

Song dẫu sao giá trị tranh Tết ngày nay vẫn còn, không ở phạm vi nghệ thuật, mà ở cái vẻ Tết nó mang đến, mạnh hơn cả bánh chưng xanh và ngang với câu đối đỏ…


Tô Ngọc Vân



*
Bài liên quan:

– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (1)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (2)
– Loạt bài của Tô Ngọc Vân trên tạp chí Thanh Nghị (3)



(Nguồn: Tạp chí Thanh Nghị số 9, 2/1942, tr. 4-5.)
Nguồn: SOI 14. 04. 10 - 12:10 am - BÀN LUẬN

Minh họa của "Soi"
Tổ tôm ngày Tết (tranh Đông Hồ);
Thời bình mở hội Xuân/ Nô nức quyết xa gần/ Nhạc dâng ca trong điện/ Trò thưởng vật ngoài sân.

Đánh ghen (tranh Đông Hồ)

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

NNKNM-04 - 26/05/1945 - "Việc đã qua" - Bài viết của Tô Tử

Mỹ thuật



Mỹ thuật



Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

NN220 - "Tin mỹ thuật"

Tin mỹ thuật

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 220 - 10/08/1940, Tr. 04-05.

Tin mỹ thuật

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 220 - 10/08/1940, Tr. 04-05.

NN199 - "Khen" - (Một vài quan niệm về mỹ thuật)

Một vài quan niệm về mỹ thuật

Khen

Tô Tử




Nguồn: Ngày Nay số 199 - 12/02/1940, Tr. 07.

Một vài quan niệm về mỹ thuật

Khen

Tô Tử




Nguồn: Ngày Nay số 199 - 12/02/1940, Tr. 07.

NN196-197 - "Xem tranh" - (Một vài quan niệm về mỹ thuật)

Một vài quan niệm về mỹ thuật

Xem tranh

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Một vài quan niệm về mỹ thuật

Xem tranh

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 196 - 13/01/1940, Tr. 07.

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2018

NN179 - "CUỘC TRIỂN LÃM Nguyễn Phan Chánh" - Ái Mỹ

CUỘC TRIỂN LÃM Nguyễn Phan Chánh

Ái Mỹ





Nguồn: Ngày Nay số 179 - 16/09/1939, Tr. 07.



CUỘC TRIỂN LÃM Nguyễn Phan Chánh

Ái Mỹ





Nguồn: Ngày Nay số 179 - 16/09/1939, Tr. 07.