Hiển thị các bài đăng có nhãn Biếm họa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ

Phạm Thảo Nguyên

LTS. Người ta biết nhiều đến Nhất Linh như một nhà văn thủ lĩnh nhóm Tự Lực Văn đoàn, người đã cùng các bạn văn tạo ra một cuộc cách mạng trong văn chương và ngôn ngữ Việt Nam những năm 30 của thế kỷ trước, mà ảnh hưởng còn sâu rộng cho tới bây giờ. Nhưng có lẽ ít người biết hơn, tờ tuần báo mà ông làm làm chủ bút, tờ Phong Hoá (và hậu thân của nó là tờ Ngày Nay), nơi quy tụ các cây bút của TLVĐ và bè bạn, cũng là tờ báo trào phúng đầu tiên của nước ta. Mục đích này của báo được quảng bá lần đầu trong Phong Hoá số 13 (số cuối cùng do ông Phạm Hữu Ninh, người sáng lập báo điều khiển, sau đó bán lại cho Nhất Linh): Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết - Xã hội, chính trị, kinh tế - nói rõ về hiện tình trong nước.

Hai "nhân vật" chủ chốt của biếm hoạ Việt Nam chính cũng được sinh ra trên các trang báo Phong Hoá và từ đó đi vào văn học, vào đời sống thường ngày của người Việt : Lý Toét và Xã Xệ. Nhất Linh, dưới tên hoạ sĩ Đông Sơn, chính là cha đẻ của Lý Toét. Nhân kỉ niệm lần thứ 49 ngày ông qua đời (7.7.1963 - 7.7.2012), Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài biên khảo dưới đây của tác giả Phạm Thảo Nguyên, cùng với bài của Nguyễn Tường Thiết về cái chết của ông và của Thái Kim Lan, hồi ức về cuộc tiễn đưa nhà văn của nhân dân Huế.

Cùng với cụm ba bài viết này, chúng tôi cũng vui mừng thông báo với bạn đọc, hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay đã được một nhóm bạn tâm huyết với TLVĐ (trong đó có chị Phạm Thảo Nguyên) số hoá hoàn toàn, và sẽ được công bố trên mạng từ ngày 22.9 năm nay, kỉ niệm 80 năm ngày tờ Phong Hoá ra số đầu tiên dưới quyền điều khiển của chủ bút Nhất Linh (số 14, ra ngày 22.9.1932). Chi tiết sẽ được thông báo sau.

[Trich]
[...]

Đông Sơn Nhất Linh biết rằng nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc! Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn nước ta trong suốt thập niên 1930. Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được mọi người cùng chấp nhận bất thành văn, là:

Lý Toét là một ông già nhà quê, có chức phận trong làng, chức Lý trưởng, nên được goi là Lý, mắt bị bệnh đau-mắt-hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải tây đỏ, ta gọi là mắt toét. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên luôn, chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho.

Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia tí chút. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, nên ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, nên cả tin, sợ hãi đủ mọi thứ. Lý Toét rât mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú…

Vợ con ở quê rất lếch thếch. Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật thế. Cô có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn cũng mang vào bệnh viện chữa, làm cụ Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của cô, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết (khi trước còn ở dưới quê thì vẫn vận áo tứ thân).

Nhân vật ảo Lý Toét với đầy đủ tính cách như vậy, được họa sĩ Đông Sơn sáng tác ra. Nhưng cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng tham dự vẽ Lý Toét! Do đó, cùng với Đông Sơn Nhất Linh, các họa sĩ của Phong Hóa nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú trong các tranh vui của báo Phong Hóa. Thế là: Cuộc Vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu!
H7-8

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ

Phạm Thảo Nguyên

LTS. Người ta biết nhiều đến Nhất Linh như một nhà văn thủ lĩnh nhóm Tự Lực Văn đoàn, người đã cùng các bạn văn tạo ra một cuộc cách mạng trong văn chương và ngôn ngữ Việt Nam những năm 30 của thế kỷ trước, mà ảnh hưởng còn sâu rộng cho tới bây giờ. Nhưng có lẽ ít người biết hơn, tờ tuần báo mà ông làm làm chủ bút, tờ Phong Hoá (và hậu thân của nó là tờ Ngày Nay), nơi quy tụ các cây bút của TLVĐ và bè bạn, cũng là tờ báo trào phúng đầu tiên của nước ta. Mục đích này của báo được quảng bá lần đầu trong Phong Hoá số 13 (số cuối cùng do ông Phạm Hữu Ninh, người sáng lập báo điều khiển, sau đó bán lại cho Nhất Linh): Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết - Xã hội, chính trị, kinh tế - nói rõ về hiện tình trong nước.

Hai "nhân vật" chủ chốt của biếm hoạ Việt Nam chính cũng được sinh ra trên các trang báo Phong Hoá và từ đó đi vào văn học, vào đời sống thường ngày của người Việt : Lý Toét và Xã Xệ. Nhất Linh, dưới tên hoạ sĩ Đông Sơn, chính là cha đẻ của Lý Toét. Nhân kỉ niệm lần thứ 49 ngày ông qua đời (7.7.1963 - 7.7.2012), Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài biên khảo dưới đây của tác giả Phạm Thảo Nguyên, cùng với bài của Nguyễn Tường Thiết về cái chết của ông và của Thái Kim Lan, hồi ức về cuộc tiễn đưa nhà văn của nhân dân Huế.

Cùng với cụm ba bài viết này, chúng tôi cũng vui mừng thông báo với bạn đọc, hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay đã được một nhóm bạn tâm huyết với TLVĐ (trong đó có chị Phạm Thảo Nguyên) số hoá hoàn toàn, và sẽ được công bố trên mạng từ ngày 22.9 năm nay, kỉ niệm 80 năm ngày tờ Phong Hoá ra số đầu tiên dưới quyền điều khiển của chủ bút Nhất Linh (số 14, ra ngày 22.9.1932). Chi tiết sẽ được thông báo sau.

[Trich]
[...]

Đông Sơn Nhất Linh biết rằng nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc! Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn nước ta trong suốt thập niên 1930. Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được mọi người cùng chấp nhận bất thành văn, là:

Lý Toét là một ông già nhà quê, có chức phận trong làng, chức Lý trưởng, nên được goi là Lý, mắt bị bệnh đau-mắt-hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải tây đỏ, ta gọi là mắt toét. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên luôn, chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho.

Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia tí chút. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, nên ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, nên cả tin, sợ hãi đủ mọi thứ. Lý Toét rât mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú…

Vợ con ở quê rất lếch thếch. Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật thế. Cô có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn cũng mang vào bệnh viện chữa, làm cụ Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của cô, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết (khi trước còn ở dưới quê thì vẫn vận áo tứ thân).

Nhân vật ảo Lý Toét với đầy đủ tính cách như vậy, được họa sĩ Đông Sơn sáng tác ra. Nhưng cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng tham dự vẽ Lý Toét! Do đó, cùng với Đông Sơn Nhất Linh, các họa sĩ của Phong Hóa nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú trong các tranh vui của báo Phong Hóa. Thế là: Cuộc Vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu!
H7-8

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Biếm họa Tô Ngọc Vân trên Báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới

Biếm họa Tô Ngọc Vân trên Báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới



  1. NNKNM09 - 30/06/45 - Toà sen dân quê "Một cõi Nát-Bàn" - Tranh minh họa bìa báo
  2. NNKNM09 - 30/06/45 - Ngày Nay phỏng vấn - Tô Tử, Huyền Hà, Vũ Ngọc Cừ
  3. NNKNM02-04 - 12/05/45 - Việt Nam Quốc dân Đảng - Huyền Hà
  4. NNKNM04 - 26/05/45 - Việc đã qua - Bài viết của Tô Tử

Nguồn: Viện Việt-Học > Thư Viện‎ > ‎Văn Học‎ > ‎Tự Lực Văn Đoàn‎ > ‎Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới


Biếm họa Tô Ngọc Vân trên Báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới



  1. NNKNM09 - 30/06/45 - Toà sen dân quê "Một cõi Nát-Bàn" - Tranh minh họa bìa báo
  2. NNKNM09 - 30/06/45 - Ngày Nay phỏng vấn - Tô Tử, Huyền Hà, Vũ Ngọc Cừ
  3. NNKNM02-04 - 12/05/45 - Việt Nam Quốc dân Đảng - Huyền Hà
  4. NNKNM04 - 26/05/45 - Việc đã qua - Bài viết của Tô Tử

Nguồn: Viện Việt-Học > Thư Viện‎ > ‎Văn Học‎ > ‎Tự Lực Văn Đoàn‎ > ‎Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới


NNKNM-09 - 30/06/1945 - "Toà sen dân quê "Một cõi Nát-Bàn""

Số đặc biệt DÂN QUÊ

Toà sen dân quê "Một cõi Nát-Bàn"

Tranh minh họa bìa báo
Tô Tử




Nguồn: Viện Việt-Học -
Báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới Số 9 ngày 30/06/1945 Tr. 1


Số đặc biệt DÂN QUÊ

Toà sen dân quê "Một cõi Nát-Bàn"

Tranh minh họa bìa báo
Tô Tử




Nguồn: Viện Việt-Học -
Báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới Số 9 ngày 30/06/1945 Tr. 1


Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Sự Sáng Tạo Mỹ Thuật Trong Việc Trình Bày, Vẽ Bìa, Hí Họa, Minh Họa Của Báo Phong Hóa và Ngày Nay.

Sự Sáng Tạo Mỹ Thuật Trong Việc Trình Bày, Vẽ Bìa, Hí Họa, Minh Họa Của Báo Phong Hóa và Ngày Nay.

Diển giả: Họa sĩ An Phong



Nguồn: Youtube - 20 thg 7, 2013

Sự Sáng Tạo Mỹ Thuật Trong Việc Trình Bày, Vẽ Bìa, Hí Họa, Minh Họa Của Báo Phong Hóa và Ngày Nay.

Diển giả: Họa sĩ An Phong



Nguồn: Youtube - 20 thg 7, 2013

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

VỀ BA NHÂN VẬT TRÀO PHÚNG CỦA NỀN BIẾM HỌA VIỆT NAM: AI LÀ "CHA ĐẺ" CỦA LÝ TOÉT - XÃ XỆ - BANG BẠNH? - Lê Minh Quốc

VỀ BA NHÂN VẬT TRÀO PHÚNG CỦA NỀN BIẾM HỌA VIỆT NAM: AI LÀ "CHA ĐẺ" CỦA LÝ TOÉT - XÃ XỆ - BANG BẠNH?

Lê Minh Quốc


Chiều đã chiều Đã nhiều chiều đọc vẩn vơ vài trang sách. Tự dưng lại nhớ đến ngày dự hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi TLVĐ - 80 năm nhìn lại. Diễn ra ngày 2.10.2012 tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM do 4 đơn vị giáo dục tại TP.HCM là Trường Đ.H Sư phạm, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, Khoa Văn học và Ngữ văn Trường Đ.H KHXH&NV và tạp chí Thế Giới mới đồng tổ chức.

Ngày đó, PGS-TS Trần Hữu Tá đọc diễn văn khai mạc, qua đó, ông kết luận: “Những sáng tạo nghệ thuật của khuynh hướng thẩm mỹ này, cùng với thành tựu của hai dòng văn học hiện thực chủ nghĩa và văn học cách mạng vô sản cùng thời, tất cả đã góp phần thực thi một nhiệm vụ lịch sử quan trọng: hoàn tất quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc chỉ trong hơn một thập kỷ (1930-1945), đưa văn học nước ta từ quỹ đạo văn học trung đại hòa nhập chung dòng chảy của văn học thế giới hiện đại”.

Rất tiếc trong hội thảo này, chỉ duy nhất tham luận của Thái Thị Thu Thắm (Đ.H Văn Lang) đề cập đến Mối quan hệ giữa văn học và hội hoạ trong hoạt động của TLVĐ. Và lấy làm tiếc. Tiếc vì như ta đã biết, trong hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam đã có những nhân vật hoạt kê nổi tiếng như Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai - Tú Xuất v.v... Và bây giờ, chính TLVĐ đã sáng tạo thêm ba nhân vật điển hình nữa - một thành công rực rỡ cho nền biếm họa chí nước nhà: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh.

Lâu nay, các nhà nghiên cứu đã nhọc công tìm hiểu ai đích thực “cha đẻ” của ba nhân vật này? Mỗi người nói một phách. Người này nghe người kia nói thế, tin sái cổ, vì thế khi viết lại lặp theo. Cái sự cần thiết nhất trong nghiên cứu vẫn là “nói có sách, mách có chứng” nhưng rồi nhiều người lại không thực hiện. Chẳng phải họ làm biếng, cẩu thả mà do thiếu tài liệu, không có văn bản nên đành chịu. Nói gì cho xa, đôi lúc y cũng thế thôi. Rồi, có lúc kiểm chứng lại tài liệu mới ngớ người thốt lên bẽ bàng. Trách ai bây giờ?

Con nhớ, lúc còn đi học trung học, đã đọc tạp chí Văn Học chủ đề Những vang bóng một thời trong văn chương hoạt kê Việt Nam - ấn hành năm 1971. Và tin sái cổ về sự ra đời của nhân vật Lý Toét do nhà văn Vũ Bằng viết: “Lần đầu tiên xuất hiện trên Kỷ yếu Việt Nam Thanh niên hội của sinh viên Cao đẳng (Hà Nội), hai ba tháng ra một số, ngoài bìa sách vẽ một gốc đa cổ thụ. Và chính nhà thơ Tú Mỡ (1900 - 1976) là “cha đẻ” ra Lý Toét và ngay bản thân Tú Mỡ cũng được gọi là Lý Toét. Tại sao bị gọi Lý Toét? Là vì Tú Mỡ làm thơ trào phúng thì hóm hỉnh, nhưng ngoài đời lại có vẻ quê mùa, quê mùa từ cách nói năng cư xử đến cách thức ăn mặc - giữa một thời kỳ đương tiến bộ hết mốt nọ đến mốt kia, Tú Mỡ nắng cũng như mưa, hai buổi đi làm cứ cọc cạch một cái xe Terrot đồng nát, mặc áo the, đi giày Tây trắng, mà lại đội một cái nón dứa lên đầu xùm xụp” (tr.25).

Trong tham luận trong hội thảo nêu trên, Thái Thị Thu Thắm cho rằng: “Nhất Linh là người đã sáng tạo ra Lý Toét còn Nguyễn Gia Trí chính là hoạ sĩ tài hoa đã cho ra đời Xã Xệ và Bang Bạnh”. Trong quyển Biếm họa Việt Nam (NXB Mỹ Thuật- 2011), họa sĩ Lý Trực Dũng cho rằng: “Xã Xệ và Bang Bạnh chính là sáng tác của họa sĩ Nguyễn Gia Trí với bút danh Rigt” (tr.14) v.v…

Dù thế nào đi nữa, việc đưa các nhân vật này “hội nhập” vào đời sống, trước hết phải kể đến công lao của nhóm TLVĐ.

Tại sao không thử mạo muội lật lại tài liệu xưa để có thể “chốt hạ” lại vấn đề mà lâu nay đã còn có nhiều, rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau? Thách đấy, có làm nổi không? Y hỏi y chứ ai. Không thèm trả lời. Chỉ nhẩn nha lật lại bộ Phong Hóa xem sao. Và sau đây là những gì y đã ghi nhận và khẳng định từ văn bản, từ tài liệu chứ không “ăn theo nói leo”.

Đọc lại tờ Ngày Nay số xuân năm 1940, trong bài Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ nhà văn Nhất Linh tiết lộ: “Lý Toét ra đời trước rồi người mới ra đời sau. Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tứ Dân mà người đẻ ra cái tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu. Còn ai đẻ ra Lý Toét (người thật)?”. Với câu hỏi này, Nhất Linh trưng ra hình vẽ Lý Toét in trên măng-sét của báo Phụ Nữ Thời Đàm số tháng 6.1931 và cho biết: “Đó là bức vẽ đầu tiên về Lý Toét. Đông Sơn một hôm ngồi xem báo Phụ Nữ. Nghịch vẽ một người nhà quê và thấy người ấy hay hay liền xé chỗ vẽ cất đi, chưa biết dùng làm gì”.

Mãi đến khi Phong Hóa bộ mới do nhóm TLVĐ thực hiện, Lý Toét mới chính thức “hành hiệp giang hồ”. Trên số báo 14 (22.9.1932), trang bìa có in tranh vẽ Người An Nam mình kinh doanh, dù “25 chỗ ngồi nhất định” nhưng trên xe chở cả vài chục người lổn nhổn. Nếu quan sát kỹ, ta thấy có nhân vật ná ná như Lý Toét đuọc phổ biến sau này. Tranh ký tên Đông Sơn (bút danh của Nhất Linh). Qua số báo 15 (29.9.1932), tranh vẽ Lý Toét lần đầu tiên được chọn làm vi-nhét cho chuyên mục Vui cười. Và tất nhiên, lúc đó chưa có tên gọi là Lý Toét.

Đến số báo 35 (24.2.1933) trong tiểu phẩm Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly (bút danh của nhà văn Hoàng Đạo), bấy giờ tên gọi Lý Toét mới xuất hiện, có cả tranh minh họa Lý Toét cùng nhân vật Ba Ếch. Có thể xem đây là ngày “khai sinh” của nhât vật trứ danh: “Đội trời đạp đất giữa trời/ Nguyễn Văn Lý Toét là người Việt Nam”. Qua các số báo sau, cụ thể số 48 (26.5.1933) là thời điểm Lý Toét bắt đầu trở thành nhân vật chính của mỗi tranh châm biếm. Mở đầu là Lý Toét ra tỉnh - lẫm bẫm khi chăm chú quan sát bệ nước phông tên, có vòi rô-bi-nê: “Quái, bia ai mà lạ vậy?”.

Từ đó trở về sau, trên Phong Hóa tranh vẽ về nhân vật này xuất hiện đều đặn. Bấy giờ, không chỉ Đông Sơn mà các danh họa lừng lẫy cỡ Nguyễn Gia Trí (bút danh Rigt), Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử), Cát Tường (bút danh Lemur), Mạnh Quỳnh... cũng “hà hơi tiếp sức” qua nhiều số báo. Ngoài ra còn phải kể đến tài năng của của thi sĩ trào phúng Tú Mỡ. Trên chuyên mục thơ châm biếm Giòng nước ngược, ông cũng “lôi” Lý Toét vào cho bằng được, thậm chí còn nhại bài thơ Anh Khóa của Á Nam Trần Tuấn Khải để cho bà Lý Toét được xuất hiện v.v...

Như thế, vẫn chưa đủ.

Làm nên sự thành công rực rỡ này, phải còn là công sức tham gia rất nhiệt tình của đông đảo bạn đọc cùng viết/vẽ theo “nguyên mẫu” đã có sẵn. Tạo nên “hiệu ứng dây chuyền”, còn do từ báo số 26 (16.12.1932), Phong Hóa đã mở cuộc thi viết “truyện cười” và vẽ “tranh khôi hài” nên đã thu hút sự tham gia của mọi người. Dám khẳng định rằng: “bản quyền” hình mẫu Lý Toét là do Nhất Linh sáng tạo, nhà thơ Tú Mỡ đặt tên và nhà văn Hoàng Đạo có công đầu trong việc giới thiệu với đông đảo bạn đọc.

Còn nhân vật Xã Xệ thì sao?

Cuộc thi sáng tác truyện cười, vẽ tranh khôi hài, kéo dài nhiều năm. Trên Phong Hóa số báo 57 (28.6.1933), Bút Sơn với “tranh dự thi số 73” đã vẽ nhân vật na ná như Xã Xệ sau này: Ông ta đi hớt tóc, trên đầu chỉ có mỗi một sợi tóc, thợ cầm tông-đơ và hỏi: “Bẩm ngài,ngài rẽ bên hay rẽ giữa ạ?”. Tất nhiên nhân vật này, Bút Sơn không đặt tên Xã Xệ. Với bài báo của Nhất Linh vừa nêu trên, ông cho rằng: "Nhìn kỹ, tôi cho người ấy là bố Xã Xệ"

Trên số báo 88 (9.3.1934), Chàng thứ XIII viết tiểu phẩm Lý Toét suýt đi du xuân, lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Xã Xệ qua bức tranh có mẩu đối đáp: Xã Xệ hỏi: “Mưa đã đến gần, bác vẫn tắm sao?”. Đang ngâm mình dưới ao, tay vẫn cầm ô, đầu đội khăn đóng, Lý Toét trả lời: “Lo gì, tôi đã phòng xa, mang ô đây, lúc mưa tới, tôi dương ô lên”. Bức tranh này không thấy ký tên. Ai đặt tên Xã Xệ? Không rõ.

Thật bất ngờ, qua số báo sau, số 89 (16.3.1934) ngay trang bìa đã chọn bức tranh của Bút Sơn. 2 tranh liên hoàn vẽ Xã Xệ và Lý Toét đứng trước cái bàn cân Tây, trên bảng có ghi: “Bỏ vào 1 xu rồi cân”. Xã Xệ bảo: “Bác Toét chúng mình có 1 xu làm sao cân hai đứa?”. Cả hai cùng leo lên bàn cân, Lý Toét trả lời: “Thế này thì thật nhất cử lưỡng tiện, cân một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lỵ?”.

Từ đây, nhân vật mập ú, trên đầu mỗi một sợi tóc, hai má phúng phính, mặc áo dài the thâm đã trở thành “nguyên mẫu” cố định. Và cũng từ đây, Xã Xệ luôn cặp kè như hình với bóng cùng Lý Toét ốm cà tong cà teo, má hóp, đầu bịt khăn, răng vẫu, tay xách ô có treo tòng teng đôi giày. Không những thế, vi-nhét chuyên mục Vui Cười, trước đây chỉ mỗi Lý Toét thì nay đã có thêm Xã Xệ. Hai nhân vật này, nổi tiếng đến độ khi xem lại báo Ngày Nay, y còn phát hiện ra mẩu quảng cáo:

“Quan, thét: - À, các thầy hỗn thật. Các thầy mang biếu thuốc để định rủa tôi đó sao?
Lý Toét, run sợ: - Dạ bẩm quan lớn, chúng con đâu dám. Nguyên con nghe nói bà lớn bị nóng sốt uống đủ các thứ thuốc mà không khỏi nên chúng con lòng thành mua một tá “Khang Kiện thối nhiệt tán” để bà lớn dùng. Xin quan lớn xét cho.

Xã Xệ: - Bẩm chúng con đã kinh nghiệm, chỉ 5 phút khỏi sốt.

Quan lớn hớn hở: - À ra thế, cảm ơn các thầy, có phải hiệu Khang Kiện ở Hà Nội không? Ấy, bà lớn vì uống thuốc điều kinh ở hiệu ấy chỉ có 0p50 một hộp mà có thai, rồi đẻ ra thằng cháu thứ tư đó. Hiệu ấy lại có thuốc “Bảo thai” giá 0 piastre 30 rất tốt”.

Theo y, ngày 16.3.1934 là ngày chính thức “khai sinh” của Xã Xệ. “Bản quyền” đó thuộc về Bút Sơn.

Còn nhân vật Bang Bạnh thì sao?

Bấy giờ, báo chí đưa tin: có lão Bang tá nọ ở Vinh, lúc vào một hiệu buôn, người thư ký cửa hiệu sau khi lễ phép chào hỏi rồi ngồi xuống ghế. Lập tức, anh ta ăn một cú tát như trời giáng của Bang tá vì... dám ngồi ngang hàng với lão. Trên báo Phong Hóa số 151 (ngày 31.8.1935), nhà văn Thạch Lam có phê phán sâu cay trong chuyên mục Bức tranh vân cẩu. Danh họa Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử) đã vẽ tranh minh họa chân dung: một ông quan béo ục ịch, mặc áo dài trắng, khăn đóng trắng, mặt tròn, mép và cằm có 3 sợi râu, mắt ti hí, ngực đeo bài ngà, chân đi giày, tay cầm roi. Chưa hết, ngay dưới bài viết trên còn là 4 tranh liên hoàn Truyện quan Bang Bạnh kể chuyện quan đi xe ô tô, ngồi ở đầu cũng ngang hàng, hoặc dưới tài xế, bực quá, quan chọn cách... ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế!

Khác với sự ra đời của Lý Toét, Xã Xệ, lần này TLVĐ quyết định cho nhân vật của mình có lý lịch hẳn hòi. Do đó, từ số báo 155 (27.9.1935) Tô Tử vẽ truyện tranh 2 kỳ về “sự tích” ra đời của Bang Bạnh. Sau đây là lời dẫn trong tranh:

“Trước khi Bang Bạnh ra đời, bà mẹ nằm ngủ thấy một ông thần biếu bà một cái thang gẫy. Mấy hôm sau... Ông đốc Xã Xệ ở phòng đẻ ghé đầu báo tin bà Bạnh sinh con trai. Đứa trẻ sinh ra không thích chơi búp bê hay chơi trống bỏi, chỉ thích chơi roi mây. Nó không khóc một tiếng nào, mỗi khi đòi ăn nó chỉ quát và giơ roi lên. Nó không bao giờ chịu đặt nằm hay để người ta ẵm ngang; mỗi khi nguời ta để ngang hàng chân nó với đầu nó là nó quát ầm nhà. Vì vậy nên từ lúc lọt lòng nó chỉ ngủ đứng. Vì có cái nết ngủ đúng nên Bạnh được làng bầu ra làm trương tuần.

Anh ta làm hết phận sự một cách dễ dàng vì tối nào anh ta cũng chỉ việc ra ngủ ở đầu làng. Cướp không dám béng mảng. Vì thế năm sau được bầu làm chánh tổng. Một đêm mùa nước chánh Bạnh coi đê mệt quá ngủ... Ông sứ đi tuần đêm thấy trời tảng sáng mà chánh Bạnh còn sừng sững đứng trên đê. Hôm sau, chánh Bạnh nhận được giấy ông sứ đã giật mình... giở ra mới biết thăng Bang tá, vì đã hết lòng làm việc - ông bắt đầu có cái tên Bang Bạnh từ đó”.

Tựa như Lý Toét-Xã Xệ, với nhân “sinh sau đẻ muộn” này này, Phong Hóa lại lại kêu gọi bạn đọc cùng tham gia “chung vui”. May mắn, lần này nó cũng được các danh họa, bạn đọc sử dụng trong các tình huống hài hước, châm biếm từ tranh vẽ đến các mẩu chuyện cười.

Ngày 31.8.1935 là ngày “khai sinh” của Bang Bạng với “cha đẻ” Tô Ngọc Vân, Thạch Lam là người đặt tên.

Thật ra, từ xưa đên nay, các nhà báo Việt Nan đều nỗ lực tạo ra những nhân vật điển hình như thế, có thể kể đến những Vá, Vếu, cậu Ấm, cô Chiêu (trước 1945); anh Tám Sạc Ne, Bé Ngôn, Bé Luận, Tổng Thẹo... (trước 1975); sau này là gia đình Hai Nhái, Linđa Kiều; Gia đình bé Kiến v.v... Nhưng những nhân vật đó vẫn chưa tạo được nét điển hình để đi sâu vào trí nhớ của công chúng.

Có thể nói Lý Toét - Xã Xệ - Bang Bạnh đã trở thành điển hình của “nhân vật điển hình” - mà báo Phong Hóa gọi bộ “tam đa” không thể tách rời khi nhìn về tính cách tiêu biểu của nông dân người Việt trước Cách mạng tháng Tám. Sự thành công chói lọi, rực rỡ của nó vẫn còn là bài học, thử thách cho các họa sĩ biếm và nền báo chí trào phúng hiện nay. Sự thành công do đâu? Tất nhiên có nhiều lý do, riêng từ góc độ chuyên môn họa sĩ Lý Trực Dũng kết luận rất chính xác: "không phải do một mà nhiều họa sĩ vẽ, nhưng luôn giữ đúng hình hài đặc trưng ban đầu của nhân vật. Đó là cách tác nghiệp rất hiện đại, hiệu quả của các họa sĩ vẽ tranh biếm họa nhiều kỳ mà ngày nay gọi là teamwork" (SĐD, tr.16).

.

L.M.Q
Nguồn: Lê Minh Quốc -

VỀ BA NHÂN VẬT TRÀO PHÚNG CỦA NỀN BIẾM HỌA VIỆT NAM: AI LÀ "CHA ĐẺ" CỦA LÝ TOÉT - XÃ XỆ - BANG BẠNH?

Lê Minh Quốc


Chiều đã chiều Đã nhiều chiều đọc vẩn vơ vài trang sách. Tự dưng lại nhớ đến ngày dự hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi TLVĐ - 80 năm nhìn lại. Diễn ra ngày 2.10.2012 tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM do 4 đơn vị giáo dục tại TP.HCM là Trường Đ.H Sư phạm, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, Khoa Văn học và Ngữ văn Trường Đ.H KHXH&NV và tạp chí Thế Giới mới đồng tổ chức.

Ngày đó, PGS-TS Trần Hữu Tá đọc diễn văn khai mạc, qua đó, ông kết luận: “Những sáng tạo nghệ thuật của khuynh hướng thẩm mỹ này, cùng với thành tựu của hai dòng văn học hiện thực chủ nghĩa và văn học cách mạng vô sản cùng thời, tất cả đã góp phần thực thi một nhiệm vụ lịch sử quan trọng: hoàn tất quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc chỉ trong hơn một thập kỷ (1930-1945), đưa văn học nước ta từ quỹ đạo văn học trung đại hòa nhập chung dòng chảy của văn học thế giới hiện đại”.

Rất tiếc trong hội thảo này, chỉ duy nhất tham luận của Thái Thị Thu Thắm (Đ.H Văn Lang) đề cập đến Mối quan hệ giữa văn học và hội hoạ trong hoạt động của TLVĐ. Và lấy làm tiếc. Tiếc vì như ta đã biết, trong hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam đã có những nhân vật hoạt kê nổi tiếng như Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai - Tú Xuất v.v... Và bây giờ, chính TLVĐ đã sáng tạo thêm ba nhân vật điển hình nữa - một thành công rực rỡ cho nền biếm họa chí nước nhà: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh.

Lâu nay, các nhà nghiên cứu đã nhọc công tìm hiểu ai đích thực “cha đẻ” của ba nhân vật này? Mỗi người nói một phách. Người này nghe người kia nói thế, tin sái cổ, vì thế khi viết lại lặp theo. Cái sự cần thiết nhất trong nghiên cứu vẫn là “nói có sách, mách có chứng” nhưng rồi nhiều người lại không thực hiện. Chẳng phải họ làm biếng, cẩu thả mà do thiếu tài liệu, không có văn bản nên đành chịu. Nói gì cho xa, đôi lúc y cũng thế thôi. Rồi, có lúc kiểm chứng lại tài liệu mới ngớ người thốt lên bẽ bàng. Trách ai bây giờ?

Con nhớ, lúc còn đi học trung học, đã đọc tạp chí Văn Học chủ đề Những vang bóng một thời trong văn chương hoạt kê Việt Nam - ấn hành năm 1971. Và tin sái cổ về sự ra đời của nhân vật Lý Toét do nhà văn Vũ Bằng viết: “Lần đầu tiên xuất hiện trên Kỷ yếu Việt Nam Thanh niên hội của sinh viên Cao đẳng (Hà Nội), hai ba tháng ra một số, ngoài bìa sách vẽ một gốc đa cổ thụ. Và chính nhà thơ Tú Mỡ (1900 - 1976) là “cha đẻ” ra Lý Toét và ngay bản thân Tú Mỡ cũng được gọi là Lý Toét. Tại sao bị gọi Lý Toét? Là vì Tú Mỡ làm thơ trào phúng thì hóm hỉnh, nhưng ngoài đời lại có vẻ quê mùa, quê mùa từ cách nói năng cư xử đến cách thức ăn mặc - giữa một thời kỳ đương tiến bộ hết mốt nọ đến mốt kia, Tú Mỡ nắng cũng như mưa, hai buổi đi làm cứ cọc cạch một cái xe Terrot đồng nát, mặc áo the, đi giày Tây trắng, mà lại đội một cái nón dứa lên đầu xùm xụp” (tr.25).

Trong tham luận trong hội thảo nêu trên, Thái Thị Thu Thắm cho rằng: “Nhất Linh là người đã sáng tạo ra Lý Toét còn Nguyễn Gia Trí chính là hoạ sĩ tài hoa đã cho ra đời Xã Xệ và Bang Bạnh”. Trong quyển Biếm họa Việt Nam (NXB Mỹ Thuật- 2011), họa sĩ Lý Trực Dũng cho rằng: “Xã Xệ và Bang Bạnh chính là sáng tác của họa sĩ Nguyễn Gia Trí với bút danh Rigt” (tr.14) v.v…

Dù thế nào đi nữa, việc đưa các nhân vật này “hội nhập” vào đời sống, trước hết phải kể đến công lao của nhóm TLVĐ.

Tại sao không thử mạo muội lật lại tài liệu xưa để có thể “chốt hạ” lại vấn đề mà lâu nay đã còn có nhiều, rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau? Thách đấy, có làm nổi không? Y hỏi y chứ ai. Không thèm trả lời. Chỉ nhẩn nha lật lại bộ Phong Hóa xem sao. Và sau đây là những gì y đã ghi nhận và khẳng định từ văn bản, từ tài liệu chứ không “ăn theo nói leo”.

Đọc lại tờ Ngày Nay số xuân năm 1940, trong bài Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ nhà văn Nhất Linh tiết lộ: “Lý Toét ra đời trước rồi người mới ra đời sau. Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tứ Dân mà người đẻ ra cái tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu. Còn ai đẻ ra Lý Toét (người thật)?”. Với câu hỏi này, Nhất Linh trưng ra hình vẽ Lý Toét in trên măng-sét của báo Phụ Nữ Thời Đàm số tháng 6.1931 và cho biết: “Đó là bức vẽ đầu tiên về Lý Toét. Đông Sơn một hôm ngồi xem báo Phụ Nữ. Nghịch vẽ một người nhà quê và thấy người ấy hay hay liền xé chỗ vẽ cất đi, chưa biết dùng làm gì”.

Mãi đến khi Phong Hóa bộ mới do nhóm TLVĐ thực hiện, Lý Toét mới chính thức “hành hiệp giang hồ”. Trên số báo 14 (22.9.1932), trang bìa có in tranh vẽ Người An Nam mình kinh doanh, dù “25 chỗ ngồi nhất định” nhưng trên xe chở cả vài chục người lổn nhổn. Nếu quan sát kỹ, ta thấy có nhân vật ná ná như Lý Toét đuọc phổ biến sau này. Tranh ký tên Đông Sơn (bút danh của Nhất Linh). Qua số báo 15 (29.9.1932), tranh vẽ Lý Toét lần đầu tiên được chọn làm vi-nhét cho chuyên mục Vui cười. Và tất nhiên, lúc đó chưa có tên gọi là Lý Toét.

Đến số báo 35 (24.2.1933) trong tiểu phẩm Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly (bút danh của nhà văn Hoàng Đạo), bấy giờ tên gọi Lý Toét mới xuất hiện, có cả tranh minh họa Lý Toét cùng nhân vật Ba Ếch. Có thể xem đây là ngày “khai sinh” của nhât vật trứ danh: “Đội trời đạp đất giữa trời/ Nguyễn Văn Lý Toét là người Việt Nam”. Qua các số báo sau, cụ thể số 48 (26.5.1933) là thời điểm Lý Toét bắt đầu trở thành nhân vật chính của mỗi tranh châm biếm. Mở đầu là Lý Toét ra tỉnh - lẫm bẫm khi chăm chú quan sát bệ nước phông tên, có vòi rô-bi-nê: “Quái, bia ai mà lạ vậy?”.

Từ đó trở về sau, trên Phong Hóa tranh vẽ về nhân vật này xuất hiện đều đặn. Bấy giờ, không chỉ Đông Sơn mà các danh họa lừng lẫy cỡ Nguyễn Gia Trí (bút danh Rigt), Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử), Cát Tường (bút danh Lemur), Mạnh Quỳnh... cũng “hà hơi tiếp sức” qua nhiều số báo. Ngoài ra còn phải kể đến tài năng của của thi sĩ trào phúng Tú Mỡ. Trên chuyên mục thơ châm biếm Giòng nước ngược, ông cũng “lôi” Lý Toét vào cho bằng được, thậm chí còn nhại bài thơ Anh Khóa của Á Nam Trần Tuấn Khải để cho bà Lý Toét được xuất hiện v.v...

Như thế, vẫn chưa đủ.

Làm nên sự thành công rực rỡ này, phải còn là công sức tham gia rất nhiệt tình của đông đảo bạn đọc cùng viết/vẽ theo “nguyên mẫu” đã có sẵn. Tạo nên “hiệu ứng dây chuyền”, còn do từ báo số 26 (16.12.1932), Phong Hóa đã mở cuộc thi viết “truyện cười” và vẽ “tranh khôi hài” nên đã thu hút sự tham gia của mọi người. Dám khẳng định rằng: “bản quyền” hình mẫu Lý Toét là do Nhất Linh sáng tạo, nhà thơ Tú Mỡ đặt tên và nhà văn Hoàng Đạo có công đầu trong việc giới thiệu với đông đảo bạn đọc.

Còn nhân vật Xã Xệ thì sao?

Cuộc thi sáng tác truyện cười, vẽ tranh khôi hài, kéo dài nhiều năm. Trên Phong Hóa số báo 57 (28.6.1933), Bút Sơn với “tranh dự thi số 73” đã vẽ nhân vật na ná như Xã Xệ sau này: Ông ta đi hớt tóc, trên đầu chỉ có mỗi một sợi tóc, thợ cầm tông-đơ và hỏi: “Bẩm ngài,ngài rẽ bên hay rẽ giữa ạ?”. Tất nhiên nhân vật này, Bút Sơn không đặt tên Xã Xệ. Với bài báo của Nhất Linh vừa nêu trên, ông cho rằng: "Nhìn kỹ, tôi cho người ấy là bố Xã Xệ"

Trên số báo 88 (9.3.1934), Chàng thứ XIII viết tiểu phẩm Lý Toét suýt đi du xuân, lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Xã Xệ qua bức tranh có mẩu đối đáp: Xã Xệ hỏi: “Mưa đã đến gần, bác vẫn tắm sao?”. Đang ngâm mình dưới ao, tay vẫn cầm ô, đầu đội khăn đóng, Lý Toét trả lời: “Lo gì, tôi đã phòng xa, mang ô đây, lúc mưa tới, tôi dương ô lên”. Bức tranh này không thấy ký tên. Ai đặt tên Xã Xệ? Không rõ.

Thật bất ngờ, qua số báo sau, số 89 (16.3.1934) ngay trang bìa đã chọn bức tranh của Bút Sơn. 2 tranh liên hoàn vẽ Xã Xệ và Lý Toét đứng trước cái bàn cân Tây, trên bảng có ghi: “Bỏ vào 1 xu rồi cân”. Xã Xệ bảo: “Bác Toét chúng mình có 1 xu làm sao cân hai đứa?”. Cả hai cùng leo lên bàn cân, Lý Toét trả lời: “Thế này thì thật nhất cử lưỡng tiện, cân một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lỵ?”.

Từ đây, nhân vật mập ú, trên đầu mỗi một sợi tóc, hai má phúng phính, mặc áo dài the thâm đã trở thành “nguyên mẫu” cố định. Và cũng từ đây, Xã Xệ luôn cặp kè như hình với bóng cùng Lý Toét ốm cà tong cà teo, má hóp, đầu bịt khăn, răng vẫu, tay xách ô có treo tòng teng đôi giày. Không những thế, vi-nhét chuyên mục Vui Cười, trước đây chỉ mỗi Lý Toét thì nay đã có thêm Xã Xệ. Hai nhân vật này, nổi tiếng đến độ khi xem lại báo Ngày Nay, y còn phát hiện ra mẩu quảng cáo:

“Quan, thét: - À, các thầy hỗn thật. Các thầy mang biếu thuốc để định rủa tôi đó sao?
Lý Toét, run sợ: - Dạ bẩm quan lớn, chúng con đâu dám. Nguyên con nghe nói bà lớn bị nóng sốt uống đủ các thứ thuốc mà không khỏi nên chúng con lòng thành mua một tá “Khang Kiện thối nhiệt tán” để bà lớn dùng. Xin quan lớn xét cho.

Xã Xệ: - Bẩm chúng con đã kinh nghiệm, chỉ 5 phút khỏi sốt.

Quan lớn hớn hở: - À ra thế, cảm ơn các thầy, có phải hiệu Khang Kiện ở Hà Nội không? Ấy, bà lớn vì uống thuốc điều kinh ở hiệu ấy chỉ có 0p50 một hộp mà có thai, rồi đẻ ra thằng cháu thứ tư đó. Hiệu ấy lại có thuốc “Bảo thai” giá 0 piastre 30 rất tốt”.

Theo y, ngày 16.3.1934 là ngày chính thức “khai sinh” của Xã Xệ. “Bản quyền” đó thuộc về Bút Sơn.

Còn nhân vật Bang Bạnh thì sao?

Bấy giờ, báo chí đưa tin: có lão Bang tá nọ ở Vinh, lúc vào một hiệu buôn, người thư ký cửa hiệu sau khi lễ phép chào hỏi rồi ngồi xuống ghế. Lập tức, anh ta ăn một cú tát như trời giáng của Bang tá vì... dám ngồi ngang hàng với lão. Trên báo Phong Hóa số 151 (ngày 31.8.1935), nhà văn Thạch Lam có phê phán sâu cay trong chuyên mục Bức tranh vân cẩu. Danh họa Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử) đã vẽ tranh minh họa chân dung: một ông quan béo ục ịch, mặc áo dài trắng, khăn đóng trắng, mặt tròn, mép và cằm có 3 sợi râu, mắt ti hí, ngực đeo bài ngà, chân đi giày, tay cầm roi. Chưa hết, ngay dưới bài viết trên còn là 4 tranh liên hoàn Truyện quan Bang Bạnh kể chuyện quan đi xe ô tô, ngồi ở đầu cũng ngang hàng, hoặc dưới tài xế, bực quá, quan chọn cách... ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế!

Khác với sự ra đời của Lý Toét, Xã Xệ, lần này TLVĐ quyết định cho nhân vật của mình có lý lịch hẳn hòi. Do đó, từ số báo 155 (27.9.1935) Tô Tử vẽ truyện tranh 2 kỳ về “sự tích” ra đời của Bang Bạnh. Sau đây là lời dẫn trong tranh:

“Trước khi Bang Bạnh ra đời, bà mẹ nằm ngủ thấy một ông thần biếu bà một cái thang gẫy. Mấy hôm sau... Ông đốc Xã Xệ ở phòng đẻ ghé đầu báo tin bà Bạnh sinh con trai. Đứa trẻ sinh ra không thích chơi búp bê hay chơi trống bỏi, chỉ thích chơi roi mây. Nó không khóc một tiếng nào, mỗi khi đòi ăn nó chỉ quát và giơ roi lên. Nó không bao giờ chịu đặt nằm hay để người ta ẵm ngang; mỗi khi nguời ta để ngang hàng chân nó với đầu nó là nó quát ầm nhà. Vì vậy nên từ lúc lọt lòng nó chỉ ngủ đứng. Vì có cái nết ngủ đúng nên Bạnh được làng bầu ra làm trương tuần.

Anh ta làm hết phận sự một cách dễ dàng vì tối nào anh ta cũng chỉ việc ra ngủ ở đầu làng. Cướp không dám béng mảng. Vì thế năm sau được bầu làm chánh tổng. Một đêm mùa nước chánh Bạnh coi đê mệt quá ngủ... Ông sứ đi tuần đêm thấy trời tảng sáng mà chánh Bạnh còn sừng sững đứng trên đê. Hôm sau, chánh Bạnh nhận được giấy ông sứ đã giật mình... giở ra mới biết thăng Bang tá, vì đã hết lòng làm việc - ông bắt đầu có cái tên Bang Bạnh từ đó”.

Tựa như Lý Toét-Xã Xệ, với nhân “sinh sau đẻ muộn” này này, Phong Hóa lại lại kêu gọi bạn đọc cùng tham gia “chung vui”. May mắn, lần này nó cũng được các danh họa, bạn đọc sử dụng trong các tình huống hài hước, châm biếm từ tranh vẽ đến các mẩu chuyện cười.

Ngày 31.8.1935 là ngày “khai sinh” của Bang Bạng với “cha đẻ” Tô Ngọc Vân, Thạch Lam là người đặt tên.

Thật ra, từ xưa đên nay, các nhà báo Việt Nan đều nỗ lực tạo ra những nhân vật điển hình như thế, có thể kể đến những Vá, Vếu, cậu Ấm, cô Chiêu (trước 1945); anh Tám Sạc Ne, Bé Ngôn, Bé Luận, Tổng Thẹo... (trước 1975); sau này là gia đình Hai Nhái, Linđa Kiều; Gia đình bé Kiến v.v... Nhưng những nhân vật đó vẫn chưa tạo được nét điển hình để đi sâu vào trí nhớ của công chúng.

Có thể nói Lý Toét - Xã Xệ - Bang Bạnh đã trở thành điển hình của “nhân vật điển hình” - mà báo Phong Hóa gọi bộ “tam đa” không thể tách rời khi nhìn về tính cách tiêu biểu của nông dân người Việt trước Cách mạng tháng Tám. Sự thành công chói lọi, rực rỡ của nó vẫn còn là bài học, thử thách cho các họa sĩ biếm và nền báo chí trào phúng hiện nay. Sự thành công do đâu? Tất nhiên có nhiều lý do, riêng từ góc độ chuyên môn họa sĩ Lý Trực Dũng kết luận rất chính xác: "không phải do một mà nhiều họa sĩ vẽ, nhưng luôn giữ đúng hình hài đặc trưng ban đầu của nhân vật. Đó là cách tác nghiệp rất hiện đại, hiệu quả của các họa sĩ vẽ tranh biếm họa nhiều kỳ mà ngày nay gọi là teamwork" (SĐD, tr.16).

.

L.M.Q
Nguồn: Lê Minh Quốc -

Những nhân vật cười thời hiện đại?

Những nhân vật cười thời hiện đại?

Vô Ky


(NHN) Ngày nay, không thiếu những biếm họa không lời hoặc có lời in ở các tờ báo lớn và trong nhiều tạp chí văn hóa khác. Nhưng nói về tranh hiếm hoi lắm người đọc mới có thể bật cười hoặc ngộ ra cái thâm thúy của hình tượng để mà cười thầm đầy ý nhị.

Báo chí xưa, các họa sĩ đã tạo dựng được những nhân vật biếm họa thực sự như vậy. Chúng có sức sống, có tác dụng lay động và cuốn hút người đọc một thời, đã để cho chúng ta suy ngẫm học tập và sáng tạo cho báo chí cách mạng ngày nay.


Từ hình ảnh hài hước: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh xưa...

Nhân vật Lý Toét được khai sinh từ thập kỷ yếu của sinh viên Cao đẳng Hà Nội. Có lẽ thế, bởi chính nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Mỡ là cha đẻ tinh thần của nhân vật ngô nghê này cách đây 60 năm. Tất nhiên ông chẳng dại gì để cho người ta vẽ chân dung mình, nhưng quả là hình đồ nhang nhác dáng cổ cò lom khom là cho lắm người suy diễn và gọi ngay chính ông là Lý Toét.



Bên cạnh đó để đối về hình, các họa sĩ đã dựng được một Xã Xệ, cũng ngờ nghệch không kém Lý Toét.

Các nhà hội họa châm biến phải nói là đã thổi vào hai nhân vật này những nhịp đập và hơi thở của cuộc sống. Những cảm nghĩ và đối thoại khá chi tiết của Lý Toét và Xã Xệ đã có nhiều tình huống tức cười và sau đó gây cho người xem một quãng suy tư nhấm nhẳng lâu dài trên báo chí một thời gian dài.

Đáng lưu ý là, những nhân vật này đại diện cho một tầng lớp nông dân thất học, ngu muội nhưng rất tò mò thóc mách. Chính cái tò mò thóc mách bao giờ cũng làm bật những nụ cười khá hóm hỉnh nhưng lại có tác dụng kích thích trí tuệ xây dựng một thái độ công dân.




Đối hình với các nhân vật hiền lành ngố tàu kia, các họa sĩ đã đồ thêm một cái hình Bang Bạnh đại diện cho tầng lớp quan lại. Cái hách dịch tỏ vẻ bề trên của các quan nhà quê cũng đẻ ra vô khối điều cay nghiệt và cái ngớ ngẩn của chúng đã đem lại những cơ cực và trở thành tội lỗi. Ngôn ngữ hoạt kê bằng hình máy chiếu bút vẽ kiểu này có sức diễn tả thâm thúy và thẳng thừng.

Với hai hình Lý Toét và Xã Xệ thì bao giờ người xem cũng rút ra được ý vị qua nụ cười. Còn những chuyện quanh Bang Bạnh đã đẩy tới người đọc một trạng thái phải tỏ thái độ hoặc có thể cười vang lên diễu cợt kẻ hợm hĩnh gian ác. Hai cảm xúc được tạo nên ở hai cực đối xứng về thông tin. Hai danh họa lớn Nguyễn Gia Trí (bút danh Rits) và Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử) đã thực hiện khá nhiệt tình và sâu sắc những hình ảnh hài hước Lý Toét và Xã Xệ, và châm biếm sâu sắc quan hình Bang Bạnh trong một thời gian dài.

Nguyễn Gia Trí và Tô Ngọc Vân là hai trường hợp độc đáo và hiếm hoi, nếu không nói là cặp danh họa duy nhất đã có thời phải kiếm thêm miếng ăn bằng công việc vẽ tranh vui cho các báo chí ngày thuộc Pháp.

Không chỉ dừng lại ở mục đích kiếm thêm tiền một cách thuần túy mà hai ông còn nêu cao được ý thức công dân một cách sâu sắc khi lên án sự mất dân chủ và giả dối cũng như tính áp bức của thực dân Pháp với nhân dân ta.

Ngôn ngữ châm biếm của họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường chua chát cùng với nét hài hước tài hoa trong lối nói đầy ẩn ý.




Danh họa Tô Ngọc Vân ra đòn nhưng không kém phần mạnh mẽ. Lối nói trực diện của ông tỏ một thái độ phẫn nộ về cái gọi là bình đẳng và tự do mà thực dân Pháp tuyên truyền. Có thể kể đến bức tranh bịt mắt bắt dê để đả kích đúng vào ngày mừng quốc khánh Pháp.

Ông đã để cho hai nhân vật nổi tiếng của mình qua báo chí là Lý Toét và Xã Xệ bị bịt mắt để chơi trò bắt hai con dê có tên là Bình Đẳng và Tự do. Thật sự thông minh qua cách diễn đạt, tranh đả kích của Tô Ngọc Vân làm lay động ý thức công dân của người xưa.

Thường tính giáo dục tư cách công dân của các ông được đề cao. Tranh biếm họa của Nguyễn Gia Trí hay Tô Ngọc Vân hướng tới chủ đề đả phá mạnh những gì có liên quan tới thực dân Pháp. Những tranh ấy còn kêu gọi tình yêu đất nước quê hương của từng người dân trong một đất nước mất độc lập tự do.

Mới hay, hai danh họa kỳ tài đầy lãng mạn ấy không ngờ thực sự tài hoa trong ngôn ngữ hoạt kê. Đồng thời các tác phẩm của hai ông đáng gợi ý với các họa sĩ biếm họa trẻ ngày nay như những bài học sinh động về lĩnh vực nghệ thuật hài hước trong tranh châm biếm để góp phần vào công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa mới.


... đến những nụ cười rôbôt hiện đại

Xã hội hiện nay bị cơ chế thị trường phân hóa mạnh mẽ. Có những tầng lớp giàu có thượng lưu và cũng rất ít được học hành. Cũng đã hình thành những lớp người nghèo trong xã hội. Họ cũng không học hành tử tế, cờ bạc, và tham gia mọi tệ nạn xấu xa. Rồi nữa những quan tham từ thôn xã, huyện, tỉnh... đều xuất hiên nhan nhản. Nạn nhân của những tệ nạn xã hội đó không ai khác chính là những người lao động nghèo khó.

Nhiều tờ báo có dựng được một số nhân vật hài hước mới. Trước năm 45, những hình ảnh như: Vá, Vếu, Cậu Ấm, Cô Chiêu... Phía Nam trước năm 75 có: Tám Sẹc Ne, Bé Ngôn, Bé Luận, Tổng Thẹo...

Gần đây ở báo Tuổi Trẻ Cười thì có: Gia đình Hai Nhái, Linda Kiều; Báo Lao Động giữ được dài dài hai nhân vật của Trần Ai... lác đác một số báo khác có ý định tạo ra nhân vật của mình nhưng sớm chết yểu hoặc chưa có sức phổ biến đại loại như chuyện nhà quê ra tỉnh của báo Nông nghiệp Việt Nam...

Cũng có thể, vì sức sống của các nhân vật này chưa ấn tượng mạnh. Nhưng chủ yếu ở ý tứ và hình diễn đạt chưa tạo hiệu quả thông tin bất ngờ và thiết thực.

Vậy giờ đây, tìm ra được một nhân vật có tính để chuyển tải một nội dung đầy kịch tính quả là một phát kiến. Đứng trước hàng trăm tờ báo hiện nay và tốc độ ứng dụng kỹ thuật vi tính vào cuộc sống đang ngày càng mạnh mẽ, nhân vật cười hiện đại đòi hỏi một tính khách quan và dung lượng châm biếm thật sâu sắc mới có sức thuyết phục bạn đọc. Аồng thời nhân vật đó mới có điều kiện xác định trong bộ nhớ và tình cảm của đông đảo mọi người.

Vô Ky

Nguồn: Báo Người Hà Nội - Thứ ba, ngày 7 tháng 9 , 2010

Những nhân vật cười thời hiện đại?

Vô Ky


(NHN) Ngày nay, không thiếu những biếm họa không lời hoặc có lời in ở các tờ báo lớn và trong nhiều tạp chí văn hóa khác. Nhưng nói về tranh hiếm hoi lắm người đọc mới có thể bật cười hoặc ngộ ra cái thâm thúy của hình tượng để mà cười thầm đầy ý nhị.

Báo chí xưa, các họa sĩ đã tạo dựng được những nhân vật biếm họa thực sự như vậy. Chúng có sức sống, có tác dụng lay động và cuốn hút người đọc một thời, đã để cho chúng ta suy ngẫm học tập và sáng tạo cho báo chí cách mạng ngày nay.


Từ hình ảnh hài hước: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh xưa...

Nhân vật Lý Toét được khai sinh từ thập kỷ yếu của sinh viên Cao đẳng Hà Nội. Có lẽ thế, bởi chính nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Mỡ là cha đẻ tinh thần của nhân vật ngô nghê này cách đây 60 năm. Tất nhiên ông chẳng dại gì để cho người ta vẽ chân dung mình, nhưng quả là hình đồ nhang nhác dáng cổ cò lom khom là cho lắm người suy diễn và gọi ngay chính ông là Lý Toét.



Bên cạnh đó để đối về hình, các họa sĩ đã dựng được một Xã Xệ, cũng ngờ nghệch không kém Lý Toét.

Các nhà hội họa châm biến phải nói là đã thổi vào hai nhân vật này những nhịp đập và hơi thở của cuộc sống. Những cảm nghĩ và đối thoại khá chi tiết của Lý Toét và Xã Xệ đã có nhiều tình huống tức cười và sau đó gây cho người xem một quãng suy tư nhấm nhẳng lâu dài trên báo chí một thời gian dài.

Đáng lưu ý là, những nhân vật này đại diện cho một tầng lớp nông dân thất học, ngu muội nhưng rất tò mò thóc mách. Chính cái tò mò thóc mách bao giờ cũng làm bật những nụ cười khá hóm hỉnh nhưng lại có tác dụng kích thích trí tuệ xây dựng một thái độ công dân.




Đối hình với các nhân vật hiền lành ngố tàu kia, các họa sĩ đã đồ thêm một cái hình Bang Bạnh đại diện cho tầng lớp quan lại. Cái hách dịch tỏ vẻ bề trên của các quan nhà quê cũng đẻ ra vô khối điều cay nghiệt và cái ngớ ngẩn của chúng đã đem lại những cơ cực và trở thành tội lỗi. Ngôn ngữ hoạt kê bằng hình máy chiếu bút vẽ kiểu này có sức diễn tả thâm thúy và thẳng thừng.

Với hai hình Lý Toét và Xã Xệ thì bao giờ người xem cũng rút ra được ý vị qua nụ cười. Còn những chuyện quanh Bang Bạnh đã đẩy tới người đọc một trạng thái phải tỏ thái độ hoặc có thể cười vang lên diễu cợt kẻ hợm hĩnh gian ác. Hai cảm xúc được tạo nên ở hai cực đối xứng về thông tin. Hai danh họa lớn Nguyễn Gia Trí (bút danh Rits) và Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử) đã thực hiện khá nhiệt tình và sâu sắc những hình ảnh hài hước Lý Toét và Xã Xệ, và châm biếm sâu sắc quan hình Bang Bạnh trong một thời gian dài.

Nguyễn Gia Trí và Tô Ngọc Vân là hai trường hợp độc đáo và hiếm hoi, nếu không nói là cặp danh họa duy nhất đã có thời phải kiếm thêm miếng ăn bằng công việc vẽ tranh vui cho các báo chí ngày thuộc Pháp.

Không chỉ dừng lại ở mục đích kiếm thêm tiền một cách thuần túy mà hai ông còn nêu cao được ý thức công dân một cách sâu sắc khi lên án sự mất dân chủ và giả dối cũng như tính áp bức của thực dân Pháp với nhân dân ta.

Ngôn ngữ châm biếm của họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường chua chát cùng với nét hài hước tài hoa trong lối nói đầy ẩn ý.




Danh họa Tô Ngọc Vân ra đòn nhưng không kém phần mạnh mẽ. Lối nói trực diện của ông tỏ một thái độ phẫn nộ về cái gọi là bình đẳng và tự do mà thực dân Pháp tuyên truyền. Có thể kể đến bức tranh bịt mắt bắt dê để đả kích đúng vào ngày mừng quốc khánh Pháp.

Ông đã để cho hai nhân vật nổi tiếng của mình qua báo chí là Lý Toét và Xã Xệ bị bịt mắt để chơi trò bắt hai con dê có tên là Bình Đẳng và Tự do. Thật sự thông minh qua cách diễn đạt, tranh đả kích của Tô Ngọc Vân làm lay động ý thức công dân của người xưa.

Thường tính giáo dục tư cách công dân của các ông được đề cao. Tranh biếm họa của Nguyễn Gia Trí hay Tô Ngọc Vân hướng tới chủ đề đả phá mạnh những gì có liên quan tới thực dân Pháp. Những tranh ấy còn kêu gọi tình yêu đất nước quê hương của từng người dân trong một đất nước mất độc lập tự do.

Mới hay, hai danh họa kỳ tài đầy lãng mạn ấy không ngờ thực sự tài hoa trong ngôn ngữ hoạt kê. Đồng thời các tác phẩm của hai ông đáng gợi ý với các họa sĩ biếm họa trẻ ngày nay như những bài học sinh động về lĩnh vực nghệ thuật hài hước trong tranh châm biếm để góp phần vào công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa mới.


... đến những nụ cười rôbôt hiện đại

Xã hội hiện nay bị cơ chế thị trường phân hóa mạnh mẽ. Có những tầng lớp giàu có thượng lưu và cũng rất ít được học hành. Cũng đã hình thành những lớp người nghèo trong xã hội. Họ cũng không học hành tử tế, cờ bạc, và tham gia mọi tệ nạn xấu xa. Rồi nữa những quan tham từ thôn xã, huyện, tỉnh... đều xuất hiên nhan nhản. Nạn nhân của những tệ nạn xã hội đó không ai khác chính là những người lao động nghèo khó.

Nhiều tờ báo có dựng được một số nhân vật hài hước mới. Trước năm 45, những hình ảnh như: Vá, Vếu, Cậu Ấm, Cô Chiêu... Phía Nam trước năm 75 có: Tám Sẹc Ne, Bé Ngôn, Bé Luận, Tổng Thẹo...

Gần đây ở báo Tuổi Trẻ Cười thì có: Gia đình Hai Nhái, Linda Kiều; Báo Lao Động giữ được dài dài hai nhân vật của Trần Ai... lác đác một số báo khác có ý định tạo ra nhân vật của mình nhưng sớm chết yểu hoặc chưa có sức phổ biến đại loại như chuyện nhà quê ra tỉnh của báo Nông nghiệp Việt Nam...

Cũng có thể, vì sức sống của các nhân vật này chưa ấn tượng mạnh. Nhưng chủ yếu ở ý tứ và hình diễn đạt chưa tạo hiệu quả thông tin bất ngờ và thiết thực.

Vậy giờ đây, tìm ra được một nhân vật có tính để chuyển tải một nội dung đầy kịch tính quả là một phát kiến. Đứng trước hàng trăm tờ báo hiện nay và tốc độ ứng dụng kỹ thuật vi tính vào cuộc sống đang ngày càng mạnh mẽ, nhân vật cười hiện đại đòi hỏi một tính khách quan và dung lượng châm biếm thật sâu sắc mới có sức thuyết phục bạn đọc. Аồng thời nhân vật đó mới có điều kiện xác định trong bộ nhớ và tình cảm của đông đảo mọi người.

Vô Ky

Nguồn: Báo Người Hà Nội - Thứ ba, ngày 7 tháng 9 , 2010

Ông trời gây ra sự cố ông trời phải chịu trách nhiệm

Bang Bạnh thời nay

Ông trời gây ra sự cố ông trời phải chịu trách nhiệm

TÚ HỢI

TTO - Sau khi biết cấp trên ký quyết định thanh tra sự cố các công trình của làng, cụ Bang Bạnh nhẹ nhàng chỉ đạo qui trách nhiệm cho ông trời...




Khỏi phải khen gì thêm nữa, khen cũng bằng thừa, có ai đi khen "phò mã tốt áo" bao giờ đâu? Nói toác toạc toàng toang ra là thế, chứ cụ Bang Bạnh làng ta đáng khen lắm.

Sau khi đã rời khỏi chốn quan trường, hạ cánh an toàn không sứt mẻ đến cái lông chân, cụ vinh hoa an nhàn và hăng hái đi làm từ thiện. Hễ nơi nào nghe nói có đền chùa, miếu mạo linh thiêng là cụ đến tận nơi với mâm cao cỗ đầy, thành tâm khấn vái cho quốc thái dân an, dân giàu nước mạnh.

Ai cũng khen cụ là tấm gương sáng cho cả làng noi theo. Lúc làm quan, cụ không ăn của đút lót, ai không tin cứ hỏi lại cụ bà ắt rõ; lúc về hưu trí, cụ thường ngâm nga câu thơ Kiều nhằm bày tỏ khí tiết:
"Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi
".

Vô ưu thay. Nhẹ nhàng thay.

Ngày hôm nay, nhân thượng thọ của cụ, tại biệt thự của cụ, ai nấy cùng hòa nhịp thơ phú dào dạt tuôn ra từ những cái miệng mồm đã say chếnh choáng, say bét nhè. Từ rày cho đến lúc chui vào sơ mi gỗ, cụ hoàn toàn có quyền từng ngày tận hưởng sự vui sướng ấy. Nhưng tiếc thay, cụ vừa hay tin có một sự cố bất ngờ.

Sự cố gì vậy?

Câu hỏi này bằng thừa, vì cụ có hé mồm thổ lộ ra ngoài với ai đâu. Cụ vẫn vui, vẫn nói cười. vẫn bình thản như không.

Nhân lúc ai nấy đang say sưa ăn nhậu, cụ tranh thủ dắt tay Xã Xệ lẻn riêng vào thư phòng mà bốn vách là các kệ sách chứa đầy sách kim cổ Đông Tây, thế mới biết cụ đã đọc biết bao nhiêu là sách. Trí tuệ ấy thông tuệ biết dường nào. Vì lẽ đó, chỉ mới thoáng nhìn qua, Xã Xệ cảm thấy mình rất nhỏ bé, tầm thường so với người tiền nhiệm.

Sau khi chễm chệ ngồi trên bộ trường kỷ, cụ Bang Bạnh ôn tồn: "Sự cố thế nào? Chú cứ trình bày có đầu có đũa".

Vâng lời cụ, Xã Xệ mở mồm: "Bẩm cụ, có sự cố là cấp trên ký quyết định thanh tra sự cố các công trình của làng ta. Em đây kinh khiếp đến vãi linh hồn. Em lo cho cụ".

Lạ thật, cụ vẫn tỉnh bơ như không: "Rồi sao nữa?".

"Bẩm cụ, một là, không khéo phen này chết chùm cả đám. Hai là, thiên hạ bảo rằng, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, xin ý kiến của cụ, em đây thực hiện theo phương châm: Thanh cha, thanh mẹ, thanh dì/ Hễ có phong bì thì sẽ thanh kiu được không ạ? Ba là…".

Không chờ nghe hết câu, cụ gắt: "Chuyện nhỏ như con thỏ. Chưa gì, chú đã quýnh quáng, mặt xanh như đít nhái thì làm sao hưởng được sự vinh hoa ở đời? Thế này nhá".

Vốn có tinh thần hiếu học, gương mẫu trong công tác nên dù đang chếnh choáng say nhưng Xã Xệ vẫn không quên mở cuốn sổ tay ra ghi chép cẩn trọng từng lời vàng ngọc:

"Này nhá, một là: Trời nào phụ kẻ có nhân/ Người mà có đức muôn phần vinh hoa". Hai là, trận bão lụt xảy ra ở làng ta ấy là, là gì nhỉ? Ừ, là sự vinh hoa, chứ còn gì nữa?".

Nghe câu nói kỳ quặc ấy, kinh ngạc quá, Xã Xệ ngắc ngứ: "Bẩm cụ, xin cụ cứ bổ đầu nhét chữ để em thông hiểu vì sao lại vinh hoa?".

"Trận bão banh chành, nhà nhà tan hoang, đê điều toang hoác, thủy điện sụm bà chè... mới vừa xảy ra là cơ hội tốt đấy. Một chứ mười đoàn thanh tra cũng bó tay thôi. Còn quái gì nữa để kiểm tra? Kiểm tra là kiểm tra thế nào? Thách đấy".
Cụ Bạnh rành rọt

Ngừng giây lát, cụ Bạnh nói tiếp: "Trên đời này, chẳng có cái gì gọi là sự cố. Sự cố xảy ra ở làng ta, cứ đổ vấy cho ông trời. Ông trời gây ra sự cố thiên tai, lũ lụt thì ông trời phải chịu trách nhiệm sự cố ấy. Hiểu không nào?".

Xã Xệ gật gù: "Bẩm cụ, hiểu ạ. Thế cụ còn dạy gì nữa không ạ?".

Cụ Bạnh nói khẽ: "Một là, sự cố lũ lụt vừa rồi cứ khai vống lên. Có ít xít cho nhiều. Càng nhiều càng tốt. Sự cố này mới là sự vinh hoa. Hiểu không nào? Hai là, thôi ta ra ngoài đi, vắng mặt nãy giờ cũng khá lâu rồi".

Vui vì sự cố thanh tra đã có cách giải quyết êm đẹp, chắc chắn êm đẹp, trước bá quan văn võ, Xã Xệ cao hứng dâng câu đối mừng cụ Bang Bạnh:

"Lúc lên voi, chức Bang tá, mưa thuận gió hòa, thanh liêm lại tử tế, bốn bể vang lừng danh lẫn tiếng;

Khi xuống chó, phó thường dân, thiên tai lũ lụt, hưu trí cũng vinh hoa, ba miền ngưỡng mộ đức cùng tâm".


Ai nấy đều khen hay. Vỗ tay rần rần. Câu đối trứ danh này, về sau, cụ Bang Bạnh cho khắc chữ nạm vàng treo chình ình trong nhà thờ tộc của cụ.
TÚ HỢI

Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 31/10/2017 08:52.

Bang Bạnh thời nay

Ông trời gây ra sự cố ông trời phải chịu trách nhiệm

TÚ HỢI

TTO - Sau khi biết cấp trên ký quyết định thanh tra sự cố các công trình của làng, cụ Bang Bạnh nhẹ nhàng chỉ đạo qui trách nhiệm cho ông trời...




Khỏi phải khen gì thêm nữa, khen cũng bằng thừa, có ai đi khen "phò mã tốt áo" bao giờ đâu? Nói toác toạc toàng toang ra là thế, chứ cụ Bang Bạnh làng ta đáng khen lắm.

Sau khi đã rời khỏi chốn quan trường, hạ cánh an toàn không sứt mẻ đến cái lông chân, cụ vinh hoa an nhàn và hăng hái đi làm từ thiện. Hễ nơi nào nghe nói có đền chùa, miếu mạo linh thiêng là cụ đến tận nơi với mâm cao cỗ đầy, thành tâm khấn vái cho quốc thái dân an, dân giàu nước mạnh.

Ai cũng khen cụ là tấm gương sáng cho cả làng noi theo. Lúc làm quan, cụ không ăn của đút lót, ai không tin cứ hỏi lại cụ bà ắt rõ; lúc về hưu trí, cụ thường ngâm nga câu thơ Kiều nhằm bày tỏ khí tiết:
"Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi
".

Vô ưu thay. Nhẹ nhàng thay.

Ngày hôm nay, nhân thượng thọ của cụ, tại biệt thự của cụ, ai nấy cùng hòa nhịp thơ phú dào dạt tuôn ra từ những cái miệng mồm đã say chếnh choáng, say bét nhè. Từ rày cho đến lúc chui vào sơ mi gỗ, cụ hoàn toàn có quyền từng ngày tận hưởng sự vui sướng ấy. Nhưng tiếc thay, cụ vừa hay tin có một sự cố bất ngờ.

Sự cố gì vậy?

Câu hỏi này bằng thừa, vì cụ có hé mồm thổ lộ ra ngoài với ai đâu. Cụ vẫn vui, vẫn nói cười. vẫn bình thản như không.

Nhân lúc ai nấy đang say sưa ăn nhậu, cụ tranh thủ dắt tay Xã Xệ lẻn riêng vào thư phòng mà bốn vách là các kệ sách chứa đầy sách kim cổ Đông Tây, thế mới biết cụ đã đọc biết bao nhiêu là sách. Trí tuệ ấy thông tuệ biết dường nào. Vì lẽ đó, chỉ mới thoáng nhìn qua, Xã Xệ cảm thấy mình rất nhỏ bé, tầm thường so với người tiền nhiệm.

Sau khi chễm chệ ngồi trên bộ trường kỷ, cụ Bang Bạnh ôn tồn: "Sự cố thế nào? Chú cứ trình bày có đầu có đũa".

Vâng lời cụ, Xã Xệ mở mồm: "Bẩm cụ, có sự cố là cấp trên ký quyết định thanh tra sự cố các công trình của làng ta. Em đây kinh khiếp đến vãi linh hồn. Em lo cho cụ".

Lạ thật, cụ vẫn tỉnh bơ như không: "Rồi sao nữa?".

"Bẩm cụ, một là, không khéo phen này chết chùm cả đám. Hai là, thiên hạ bảo rằng, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, xin ý kiến của cụ, em đây thực hiện theo phương châm: Thanh cha, thanh mẹ, thanh dì/ Hễ có phong bì thì sẽ thanh kiu được không ạ? Ba là…".

Không chờ nghe hết câu, cụ gắt: "Chuyện nhỏ như con thỏ. Chưa gì, chú đã quýnh quáng, mặt xanh như đít nhái thì làm sao hưởng được sự vinh hoa ở đời? Thế này nhá".

Vốn có tinh thần hiếu học, gương mẫu trong công tác nên dù đang chếnh choáng say nhưng Xã Xệ vẫn không quên mở cuốn sổ tay ra ghi chép cẩn trọng từng lời vàng ngọc:

"Này nhá, một là: Trời nào phụ kẻ có nhân/ Người mà có đức muôn phần vinh hoa". Hai là, trận bão lụt xảy ra ở làng ta ấy là, là gì nhỉ? Ừ, là sự vinh hoa, chứ còn gì nữa?".

Nghe câu nói kỳ quặc ấy, kinh ngạc quá, Xã Xệ ngắc ngứ: "Bẩm cụ, xin cụ cứ bổ đầu nhét chữ để em thông hiểu vì sao lại vinh hoa?".

"Trận bão banh chành, nhà nhà tan hoang, đê điều toang hoác, thủy điện sụm bà chè... mới vừa xảy ra là cơ hội tốt đấy. Một chứ mười đoàn thanh tra cũng bó tay thôi. Còn quái gì nữa để kiểm tra? Kiểm tra là kiểm tra thế nào? Thách đấy".
Cụ Bạnh rành rọt

Ngừng giây lát, cụ Bạnh nói tiếp: "Trên đời này, chẳng có cái gì gọi là sự cố. Sự cố xảy ra ở làng ta, cứ đổ vấy cho ông trời. Ông trời gây ra sự cố thiên tai, lũ lụt thì ông trời phải chịu trách nhiệm sự cố ấy. Hiểu không nào?".

Xã Xệ gật gù: "Bẩm cụ, hiểu ạ. Thế cụ còn dạy gì nữa không ạ?".

Cụ Bạnh nói khẽ: "Một là, sự cố lũ lụt vừa rồi cứ khai vống lên. Có ít xít cho nhiều. Càng nhiều càng tốt. Sự cố này mới là sự vinh hoa. Hiểu không nào? Hai là, thôi ta ra ngoài đi, vắng mặt nãy giờ cũng khá lâu rồi".

Vui vì sự cố thanh tra đã có cách giải quyết êm đẹp, chắc chắn êm đẹp, trước bá quan văn võ, Xã Xệ cao hứng dâng câu đối mừng cụ Bang Bạnh:

"Lúc lên voi, chức Bang tá, mưa thuận gió hòa, thanh liêm lại tử tế, bốn bể vang lừng danh lẫn tiếng;

Khi xuống chó, phó thường dân, thiên tai lũ lụt, hưu trí cũng vinh hoa, ba miền ngưỡng mộ đức cùng tâm".


Ai nấy đều khen hay. Vỗ tay rần rần. Câu đối trứ danh này, về sau, cụ Bang Bạnh cho khắc chữ nạm vàng treo chình ình trong nhà thờ tộc của cụ.
TÚ HỢI

Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 31/10/2017 08:52.

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Dòng chảy tranh biếm họa - Minh Ngọc

Dòng chảy tranh biếm họa

Minh Ngọc
Những bức tranh biếm họa đầu tiên của họa sĩ Việt Nam xuất hiện từ những năm 1920-1930. Trong suốt gần 90 năm, nhiều thế hệ họa sĩ biếm đã để lại dấu ấn, tạo nên dòng chảy không ngừng cho thể loại tranh này.

Không nhiều người biết rằng, người Việt Nam đầu tiên có tranh biếm họa đăng trên báo là Nguyễn Ái Quốc. Bức tranh được đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) tại Pháp vào năm 1922. Từ khi ra đời, tranh biếm họa Việt Nam đã gắn liền với báo chí mặc dù xuất hiện muộn hơn. Trong những năm 30 của thế kỷ trước, ngay khi xuất hiện trên tuần báo Phong Hóa của nhóm Tự lực Văn đoàn, các bức biếm họa với hai nhân vật Lý Toét - Xã Xệ đã gây xôn xao trong dư luận. Thể loại tranh mới mẻ đã tạo nên cú “sốc” mạnh mẽ, không dễ được đa số người dân lúc bấy giờ chấp nhận ngay. Dần dần, người ta hiểu được ý nghĩa thâm thúy, tính đả kích, chế giễu mạnh mẽ quan lại phong kiến thối nát, chống lại chế độ thực dân cai trị. Tiếp đó, người ta lại bất ngờ trước nhân vật biếm họa Bang Bạnh của Tô Tử (Tô Ngọc Vân) thể hiện tư tưởng chống đối chế độ đương thời trong tuần báo của nhóm Tự lực Văn đoàn.


Tranh đả kích do Nguyễn Ái Quốc vẽ, đăng báo Le Paria (tháng 8.1922)


Tác phẩm của họa sĩ Lý Trực Dũng



Nếu như trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới, biếm họa Việt Nam là tiếng nói chống lại kẻ thù, thì đến bây giờ, là tiếng nói chống tiêu cực cho xã hội. Hàng loạt tên tuổi các họa sĩ ở các thời kỳ khác nhau đã ghi dấu ấn với dòng tranh biếm họa. Các họa sĩ biếm thuộc thế hệ trước năm 30 thế kỷ trước có bậc thầy biếm họa Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân… Vào những năm kháng chiến có Phan Kích (Phan Kế An) với nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ chiến khu”, Nguyễn Bích... Thế hệ thời đổi mới có họa sĩ Chóe, Ớt, Nhím, Nhốp... Gần đây là những họa sĩ trẻ đầy sung lực như DAD, Còm, Khoái, LEO, LAP... Nhiều họa sĩ biếm Việt Nam được thế giới biết đến. Một trong những người được thế giới công nhận là nghệ sĩ hàng đầu trong tranh biếm họa là họa sĩ Chóe.

Họa sĩ Lý Trực Dũng sinh năm 1946, đã có hơn 30 năm gắn bó với dòng tranh biếm họa. Tranh biếm họa của ông không chỉ xuất hiện trên báo chí của Việt Nam mà còn trên nhiều nhật báo, tạp chí nổi tiếng của Đức và nhiều nước trên thế giới. Ông vừa cho ra mắt cuốn sách đầu tiên về lịch sử biếm họa Việt Nam. Lý Trực Dũng phác họa chân dung thế hệ các họa sĩ biếm cùng các tác phẩm của họ từ thời kỳ đầu tiên biếm họa xuất hiện cho tới thời điểm hiện tại. Không có tham vọng tạo nên cuộc khảo cứu quy mô và tầm vóc về biếm họa Việt Nam, Lý Trực Dũng cho biết ông mong muốn cuốn sách sẽ là “nhát cuốc động thổ cho những nghiên cứu hoàn chỉnh và tiệm cận hơn về lịch sử nghệ thuật biếm họa Việt Nam trong tương lai”.

Ra mắt sách biếm họa Việt Nam

Toạ đàm Biếm họa Việt Nam nhân dịp ra mắt tác phẩm cùng tên của họa sĩ- kiến trúc sư Lý Trực Dũng đã diễn ra vào tối 9.3 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội). Buổi toạ đàm có sự tham gia của tác giả Lý Trực Dũng và họa sĩ Nguyễn Quân cùng nhiều hoạ sĩ biếm hoạ khác. Triển lãm tranh biếm họa Việt Nam cũng được trưng bày trung tâm từ 9-14.3.

Minh Ngọc


Nguồn: Báo Thanh Niên - 23:13 - 09/03/2011

Dòng chảy tranh biếm họa

Minh Ngọc
Những bức tranh biếm họa đầu tiên của họa sĩ Việt Nam xuất hiện từ những năm 1920-1930. Trong suốt gần 90 năm, nhiều thế hệ họa sĩ biếm đã để lại dấu ấn, tạo nên dòng chảy không ngừng cho thể loại tranh này.

Không nhiều người biết rằng, người Việt Nam đầu tiên có tranh biếm họa đăng trên báo là Nguyễn Ái Quốc. Bức tranh được đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) tại Pháp vào năm 1922. Từ khi ra đời, tranh biếm họa Việt Nam đã gắn liền với báo chí mặc dù xuất hiện muộn hơn. Trong những năm 30 của thế kỷ trước, ngay khi xuất hiện trên tuần báo Phong Hóa của nhóm Tự lực Văn đoàn, các bức biếm họa với hai nhân vật Lý Toét - Xã Xệ đã gây xôn xao trong dư luận. Thể loại tranh mới mẻ đã tạo nên cú “sốc” mạnh mẽ, không dễ được đa số người dân lúc bấy giờ chấp nhận ngay. Dần dần, người ta hiểu được ý nghĩa thâm thúy, tính đả kích, chế giễu mạnh mẽ quan lại phong kiến thối nát, chống lại chế độ thực dân cai trị. Tiếp đó, người ta lại bất ngờ trước nhân vật biếm họa Bang Bạnh của Tô Tử (Tô Ngọc Vân) thể hiện tư tưởng chống đối chế độ đương thời trong tuần báo của nhóm Tự lực Văn đoàn.


Tranh đả kích do Nguyễn Ái Quốc vẽ, đăng báo Le Paria (tháng 8.1922)


Tác phẩm của họa sĩ Lý Trực Dũng



Nếu như trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới, biếm họa Việt Nam là tiếng nói chống lại kẻ thù, thì đến bây giờ, là tiếng nói chống tiêu cực cho xã hội. Hàng loạt tên tuổi các họa sĩ ở các thời kỳ khác nhau đã ghi dấu ấn với dòng tranh biếm họa. Các họa sĩ biếm thuộc thế hệ trước năm 30 thế kỷ trước có bậc thầy biếm họa Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân… Vào những năm kháng chiến có Phan Kích (Phan Kế An) với nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ chiến khu”, Nguyễn Bích... Thế hệ thời đổi mới có họa sĩ Chóe, Ớt, Nhím, Nhốp... Gần đây là những họa sĩ trẻ đầy sung lực như DAD, Còm, Khoái, LEO, LAP... Nhiều họa sĩ biếm Việt Nam được thế giới biết đến. Một trong những người được thế giới công nhận là nghệ sĩ hàng đầu trong tranh biếm họa là họa sĩ Chóe.

Họa sĩ Lý Trực Dũng sinh năm 1946, đã có hơn 30 năm gắn bó với dòng tranh biếm họa. Tranh biếm họa của ông không chỉ xuất hiện trên báo chí của Việt Nam mà còn trên nhiều nhật báo, tạp chí nổi tiếng của Đức và nhiều nước trên thế giới. Ông vừa cho ra mắt cuốn sách đầu tiên về lịch sử biếm họa Việt Nam. Lý Trực Dũng phác họa chân dung thế hệ các họa sĩ biếm cùng các tác phẩm của họ từ thời kỳ đầu tiên biếm họa xuất hiện cho tới thời điểm hiện tại. Không có tham vọng tạo nên cuộc khảo cứu quy mô và tầm vóc về biếm họa Việt Nam, Lý Trực Dũng cho biết ông mong muốn cuốn sách sẽ là “nhát cuốc động thổ cho những nghiên cứu hoàn chỉnh và tiệm cận hơn về lịch sử nghệ thuật biếm họa Việt Nam trong tương lai”.

Ra mắt sách biếm họa Việt Nam

Toạ đàm Biếm họa Việt Nam nhân dịp ra mắt tác phẩm cùng tên của họa sĩ- kiến trúc sư Lý Trực Dũng đã diễn ra vào tối 9.3 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội). Buổi toạ đàm có sự tham gia của tác giả Lý Trực Dũng và họa sĩ Nguyễn Quân cùng nhiều hoạ sĩ biếm hoạ khác. Triển lãm tranh biếm họa Việt Nam cũng được trưng bày trung tâm từ 9-14.3.

Minh Ngọc


Nguồn: Báo Thanh Niên - 23:13 - 09/03/2011

Nguyễn Mạnh Phúc và Bộ sưu tập biếm họa

Nguyễn Mạnh Phúc và Bộ sưu tập biếm họa

Theo Thể thao và Văn hóa



1. Đây là bức tranh của danh họa Nguyễn Gia Trí được in trên trang nhất bìa báo Ngày nay thời Pháp thuộc (số 116 năm 1938):
Tin các báo: Chính phủ (tức chính phủ bảo hộ Pháp-NV) sẽ phát trâu bò và lợn cho các làng, rồi rút thăm xem ai trúng sẽ được nuôi chứ không được ăn thịt hay bán lại.
Thế nên trâu mới nằm trên phản phía trên treo màn trướng như một ông chủ, con thì cầm quạt, quạt đít trâu, vợ thì bưng máng cho trâu ăn, còn ông chồng chầu hẫu bên ấm nước đun cho trâu uống.

Tuy khuôn khổ chỉ nhỉnh hơn tờ A4 một chút, nhưng có thời các biếm họa của Việt Nam đã có được một vị trí trang trọng như vậy. Các vấn đề của thời sự xã hội được đề cập một cách trực diện qua nét vẽ của các bậc thầy.

Là người sưu tập chủ yếu các tác phẩm của các bậc thầy Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc đã không bỏ qua mảng tranh biếm hoa vô cùng sinh động này.


Sở hỏa xa Đông Dương lập đàn dâng lễ hình nhân thế mạng.

Gần hai chục bức biếm họa được đăng trên trang nhất báo Ngày nay chủ yếu là của Nguyễn Gia Trí (bút danh RIST), một vài tác phẩm của Tô Ngọc Vân (Tô Tử) được vẽ trong khoảng những năm 1936-1939 đã được ông lưu giữ một cách cẩn thận. Mặc dù không phải là bản gốc, nhưng đây là một bộ sưu tập có giá trị, cho thấy một góc nhìn khác của các họa sĩ cận đại của mỹ thuật Việt Nam ngoài những tác phẩm sơn dầu, sơn mài đã làm rạng danh tên tuổi họ.
Được xem là một nghề tay trái để phụ giúp cho việc mua họa phẩm của một giai đoạn khốn khó, đa phần các họa sĩ Việt Nam giai đoạn này đều chọn công việc khá thích hợp là vẽ bìa, minh họa và vẽ tranh đả kích biếm họa cho các báo. Tuy chỉ là một nghề "câu cơm" nhưng họ cũng đã bỏ vào đấy không ít những tâm huyết. Người ta có thể biết nhiều đến một Nguyễn Gia Trí với những tác phẩm vàng son lộng lẫy đầy lãng mạn với các cô thiếu nữ trong vườn xuân Bắc Trung Nam, nhưng lại ít biết đến hơn một con người khác của ông trong những tranh biếm họa sâu sắc.

Đề cập đến vấn đề tự do báo chí thời thuộc Pháp được ông ví như một con chim đại bàng bay cao với hai cái chân bị trói vào cái gốc cây cụt; sự đoàn kết của báo chí thời Pháp thuộc thì được ông ví như một buổi lễ hội mọi người nhảy múa tưng bừng, nhưng trong đám đông ấy những cái chân lại luôn ngáng nhau; hay làng báo làm "lễ cầu mát" với 3 ông quan hình bằng giấy và một bản báo cáo dài dằng dặc.

Ngoài ra, nhiều tác phẩm của Nguyễn Gia Trí dường như còn có giá trị đến ngày nay, như vấn đề giao thông: ông vẽ bức cầu yên: "Vì thấy tai nạn thường xảy ra, chúng tôi xin hiến Sở hỏa xa Đông Dương một ý kiến hay: lập đàn dâng lễ hình nhân thế mạng!" với những nhân vật bằng giấy và một lễ cúng âm hồn ngay trên đường tàu.

2. Có lẽ do thấy được giá trị lâu dài của tác phẩm biếm họa mà ông Nguyễn Mạnh Phúc đã bỏ công sưu tầm.

Nguyễn Mạnh Phúc là một nhà nhiếp ảnh, đồng thời là Chủ nhiệm CLB Giao lưu Mỹ thuật quốc tế. Ngoài sưu tập hội họa, tổ chức các triển lãm, ông còn là một sứ giả mang văn hóa Việt Nam ra thế giới. Ông đưa một loạt tác phẩm hội họa Việt Nam đương đại sang giới thiệu tại Hàn Quốc (1998), Na Uy (2000)... Hiện bộ sưu tập của ông gồm khoảng 300 tác phẩm điêu khắc và hội họa của các họa sĩ tên tuổi trong nước và các họa sĩ quốc tế...

Ông chia sẻ: Đối với mỗi loại hình nghệ thuật nó sẽ phản ánh một góc nhìn khác của người họa sĩ. Biếm họa hay minh hoạ, ký họa là những mảng quan trọng bổ sung cho những tác phẩm hội họa để đời của họ. Những tác phẩm như thế cũng có thể xem như một cuốn nhật ký thời sự của chính các họa sĩ, mà qua đó bộc lộ thái độ của giới văn nghệ sĩ nói chung, hoặc được xem là thái độ của một công dân đối với tình hình thời cuộc dưới con mắt biếm. Nếu cái lãng mạn là cần thiết phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ cận đại, thì yếu tố chiến đấu lại cần thiết cho những bức biếm.

Không chỉ để kiếm tiền, thời bấy giờ các họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã biết dùng ngòi bút để nói lên chính kiến của mình trong xã hội thực dân hồi đó. Qua những tác phẩm của họ còn cho thấy một lòng tự tôn dân tộc rất lớn.


Tự do báo chí thời cuộc Pháp.

Bây giờ, chúng ta phải tiếc nuối cho một thời mà những bức tranh biếm họa được đăng tải chiếm trọn một trang báo như vậy, bởi bằng ngôn ngữ hội họa sử dụng nét là chính, nó có tác dụng còn mạnh hơn cả những dòng tít báo được "giật" rất lớn, hoặc hình ảnh của các cô gái trang bìa ít nhiều vô vị. Cái ẩn ý của các nét vẽ kiệm lời còn giá trị nhiều hơn là những câu "chua theo" để mỗi người xem tự ngẫm mới ra cái thú vị, còn cơ quan hữu trách nhìn vào đó mà phải có phương án giải quyết.
Ngoài các bức biếm họa của Nguyễn Gia Trí, trong bộ sưu tập của ông Nguyễn Mạnh Phúc còn có một mảng khác cũng ít nhiều thú vị đó là tranh biếm của Bùi Xuân Phái vẽ chân dung các bạn bè của mình. Tuy không đặt ra vấn đề xã hội nhưng Bùi Xuân Phái đã dùng ngòi bút biếm để lột tả tính cách con người. Như bức tranh thể hiện cái trán quá khổ của "ông đồ" Vũ Đình Liên, hay bộ dạng hề chèo của nhiếp ảnh Trần Văn Lưu... Những tác phẩm biếm này không phải để cho vui mà còn cho thấy tấm lòng chân thật của những người bạn nghệ sĩ đối đãi nhau. Thế mới biết biếm họa có nhiều giá trị hơn là những mẩu tranh chỉ để giải trí lúc "công nhàn". Và người vẽ biếm cũng phải là người có cái nhìn sắc sảo, chọn lọc hình ảnh sao cho đắt, cho trúng để lột tả vấn đề.

Theo Thể thao và Văn hóa
Nguồn: Báo Nhân Dân - Thứ Sáu, 17/09/2010, 13:23:00

Nguyễn Mạnh Phúc và Bộ sưu tập biếm họa

Theo Thể thao và Văn hóa



1. Đây là bức tranh của danh họa Nguyễn Gia Trí được in trên trang nhất bìa báo Ngày nay thời Pháp thuộc (số 116 năm 1938):
Tin các báo: Chính phủ (tức chính phủ bảo hộ Pháp-NV) sẽ phát trâu bò và lợn cho các làng, rồi rút thăm xem ai trúng sẽ được nuôi chứ không được ăn thịt hay bán lại.
Thế nên trâu mới nằm trên phản phía trên treo màn trướng như một ông chủ, con thì cầm quạt, quạt đít trâu, vợ thì bưng máng cho trâu ăn, còn ông chồng chầu hẫu bên ấm nước đun cho trâu uống.

Tuy khuôn khổ chỉ nhỉnh hơn tờ A4 một chút, nhưng có thời các biếm họa của Việt Nam đã có được một vị trí trang trọng như vậy. Các vấn đề của thời sự xã hội được đề cập một cách trực diện qua nét vẽ của các bậc thầy.

Là người sưu tập chủ yếu các tác phẩm của các bậc thầy Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc đã không bỏ qua mảng tranh biếm hoa vô cùng sinh động này.


Sở hỏa xa Đông Dương lập đàn dâng lễ hình nhân thế mạng.

Gần hai chục bức biếm họa được đăng trên trang nhất báo Ngày nay chủ yếu là của Nguyễn Gia Trí (bút danh RIST), một vài tác phẩm của Tô Ngọc Vân (Tô Tử) được vẽ trong khoảng những năm 1936-1939 đã được ông lưu giữ một cách cẩn thận. Mặc dù không phải là bản gốc, nhưng đây là một bộ sưu tập có giá trị, cho thấy một góc nhìn khác của các họa sĩ cận đại của mỹ thuật Việt Nam ngoài những tác phẩm sơn dầu, sơn mài đã làm rạng danh tên tuổi họ.
Được xem là một nghề tay trái để phụ giúp cho việc mua họa phẩm của một giai đoạn khốn khó, đa phần các họa sĩ Việt Nam giai đoạn này đều chọn công việc khá thích hợp là vẽ bìa, minh họa và vẽ tranh đả kích biếm họa cho các báo. Tuy chỉ là một nghề "câu cơm" nhưng họ cũng đã bỏ vào đấy không ít những tâm huyết. Người ta có thể biết nhiều đến một Nguyễn Gia Trí với những tác phẩm vàng son lộng lẫy đầy lãng mạn với các cô thiếu nữ trong vườn xuân Bắc Trung Nam, nhưng lại ít biết đến hơn một con người khác của ông trong những tranh biếm họa sâu sắc.

Đề cập đến vấn đề tự do báo chí thời thuộc Pháp được ông ví như một con chim đại bàng bay cao với hai cái chân bị trói vào cái gốc cây cụt; sự đoàn kết của báo chí thời Pháp thuộc thì được ông ví như một buổi lễ hội mọi người nhảy múa tưng bừng, nhưng trong đám đông ấy những cái chân lại luôn ngáng nhau; hay làng báo làm "lễ cầu mát" với 3 ông quan hình bằng giấy và một bản báo cáo dài dằng dặc.

Ngoài ra, nhiều tác phẩm của Nguyễn Gia Trí dường như còn có giá trị đến ngày nay, như vấn đề giao thông: ông vẽ bức cầu yên: "Vì thấy tai nạn thường xảy ra, chúng tôi xin hiến Sở hỏa xa Đông Dương một ý kiến hay: lập đàn dâng lễ hình nhân thế mạng!" với những nhân vật bằng giấy và một lễ cúng âm hồn ngay trên đường tàu.

2. Có lẽ do thấy được giá trị lâu dài của tác phẩm biếm họa mà ông Nguyễn Mạnh Phúc đã bỏ công sưu tầm.

Nguyễn Mạnh Phúc là một nhà nhiếp ảnh, đồng thời là Chủ nhiệm CLB Giao lưu Mỹ thuật quốc tế. Ngoài sưu tập hội họa, tổ chức các triển lãm, ông còn là một sứ giả mang văn hóa Việt Nam ra thế giới. Ông đưa một loạt tác phẩm hội họa Việt Nam đương đại sang giới thiệu tại Hàn Quốc (1998), Na Uy (2000)... Hiện bộ sưu tập của ông gồm khoảng 300 tác phẩm điêu khắc và hội họa của các họa sĩ tên tuổi trong nước và các họa sĩ quốc tế...

Ông chia sẻ: Đối với mỗi loại hình nghệ thuật nó sẽ phản ánh một góc nhìn khác của người họa sĩ. Biếm họa hay minh hoạ, ký họa là những mảng quan trọng bổ sung cho những tác phẩm hội họa để đời của họ. Những tác phẩm như thế cũng có thể xem như một cuốn nhật ký thời sự của chính các họa sĩ, mà qua đó bộc lộ thái độ của giới văn nghệ sĩ nói chung, hoặc được xem là thái độ của một công dân đối với tình hình thời cuộc dưới con mắt biếm. Nếu cái lãng mạn là cần thiết phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ cận đại, thì yếu tố chiến đấu lại cần thiết cho những bức biếm.

Không chỉ để kiếm tiền, thời bấy giờ các họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã biết dùng ngòi bút để nói lên chính kiến của mình trong xã hội thực dân hồi đó. Qua những tác phẩm của họ còn cho thấy một lòng tự tôn dân tộc rất lớn.


Tự do báo chí thời cuộc Pháp.

Bây giờ, chúng ta phải tiếc nuối cho một thời mà những bức tranh biếm họa được đăng tải chiếm trọn một trang báo như vậy, bởi bằng ngôn ngữ hội họa sử dụng nét là chính, nó có tác dụng còn mạnh hơn cả những dòng tít báo được "giật" rất lớn, hoặc hình ảnh của các cô gái trang bìa ít nhiều vô vị. Cái ẩn ý của các nét vẽ kiệm lời còn giá trị nhiều hơn là những câu "chua theo" để mỗi người xem tự ngẫm mới ra cái thú vị, còn cơ quan hữu trách nhìn vào đó mà phải có phương án giải quyết.
Ngoài các bức biếm họa của Nguyễn Gia Trí, trong bộ sưu tập của ông Nguyễn Mạnh Phúc còn có một mảng khác cũng ít nhiều thú vị đó là tranh biếm của Bùi Xuân Phái vẽ chân dung các bạn bè của mình. Tuy không đặt ra vấn đề xã hội nhưng Bùi Xuân Phái đã dùng ngòi bút biếm để lột tả tính cách con người. Như bức tranh thể hiện cái trán quá khổ của "ông đồ" Vũ Đình Liên, hay bộ dạng hề chèo của nhiếp ảnh Trần Văn Lưu... Những tác phẩm biếm này không phải để cho vui mà còn cho thấy tấm lòng chân thật của những người bạn nghệ sĩ đối đãi nhau. Thế mới biết biếm họa có nhiều giá trị hơn là những mẩu tranh chỉ để giải trí lúc "công nhàn". Và người vẽ biếm cũng phải là người có cái nhìn sắc sảo, chọn lọc hình ảnh sao cho đắt, cho trúng để lột tả vấn đề.

Theo Thể thao và Văn hóa
Nguồn: Báo Nhân Dân - Thứ Sáu, 17/09/2010, 13:23:00

Thăng trầm biếm họa Việt Nam

Thăng trầm biếm họa Việt Nam

Lê Thủy




Chặng đường dài gần một thế kỷ của biếm họa Việt Nam gắn chặt với báo chí, với thăng trầm của đời sống xã hội. Nhiều họa sỹ biếm họa đã để lại không ít dấu ấn.
Tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội vừa diễn ra triển lãm 80 năm biếm họa Việt Nam, giới thiệu lịch sử thăng trầm của biếm họa nước ta qua bộ sưu tập tranh của họa sỹ Lý Trực Dũng. Nhân dịp này, cuốn sách Biếm họa Việt Nam cũng được giới thiệu, mang đến cái nhìn khái quát và sinh động về “làng cười Việt”.

Nguồn tư liệu lịch sử trung thực


Khi báo chí quốc ngữ ra đời được 60 năm, tranh biếm họa mới lần đầu tiên xuất hiện trên các tuần báo LOA, Phong hóa, Ngày nay… Theo họa sỹ Lý Trực Dũng, người Việt Nam đầu tiên có tranh biếm họa được đăng báo là Nguyễn Ái Quốc, trên tờ Le Paria (Người cùng khổ). Nguyễn Ái Quốc tham gia vẽ biếm họa cũng như phần lớn họa sỹ biếm họa trên thế giới, không qua trường lớp và xuất thân từ đủ mọi tầng lớp xã hội, như kỹ sư, thầy thuốc, thợ cơ khí, chính khách... Biếm họa của Người thuộc biếm họa chính trị. Hiện 7 bức tranh biếm họa của Người vẫn được lưu giữ, như: Văn minh bề trên, Triển lãm thuộc địa, Vi hành... tất cả đều đề cập trực diện đến những vấn đề thời sự quốc tế nóng bỏng lúc bấy giờ là thực dân, áp bức, nô lệ, nô dịch văn hóa... Các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ biếm họa chính là nguồn tư liệu lịch sử trung thực, quý báu.

Tranh biếm họa của Tô Ngọc Vân


Trong thập kỷ 30 - 40 của thế kỷ XX, khi biếm họa bắt đầu xuất hiện trên báo chí, một số họa sỹ chuyên nghiệp được đào tạo tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã bắt tay làm báo. Nhiều người sau này trở thành danh họa, trong đó có Nguyễn Gia Trí (bút danh Rigt) và Tô Ngọc Vân (Tô Tử). Nguyễn Gia Trí vẽ nhiều tranh biếm họa, nhưng ông trở thành họa sỹ biếm họa bậc thầy chính là nhờ những tranh biếm họa chính trị, xã hội đầy góc cạnh, bày tỏ thái độ trực diện, được đăng nguyên cả khổ lớn trên trang bìa Phong hóa và Ngày nay. Cùng xuất hiện trên 2 báo trên là tranh biếm họa của Tô Ngọc Vân. Tuy nhiên, đề tài của ông phần lớn là những vấn đề thời sự, xã hội, chuyện cơm áo gạo tiền sát sườn với cuộc sống thường nhật của người dân.
Thời kháng chiến chống Pháp, tranh biếm họa chủ yếu có 2 màu đen - trắng, hình họa chân phương, không quá cường điệu và thường có lời kèm theo, với mục đích tạo tiếng cười sảng khoái, góp phần đánh bại thực dân Pháp, giải phóng đất nước. Ngay từ đầu, một số báo cách mạng như Sự thật, Toàn dân kháng chiến, Vệ quốc quân, Quân du kích… đã đăng tranh biếm họa. Bằng tài năng và lòng yêu nước, nhiều cựu sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã trở thành những họa sỹ biếm tiên phong. 3 họa sỹ nổi tiếng nhất thời kỳ này là Phan Kích (Phan Kế An) với nhiều tranh đả kích sâu sắc, có tầm chiến lược về chiến cuộc; Mai Văn Hiến với những tranh biếm họa nhân văn; và Nguyễn Bích với tranh biếm họa đầy chất chiến đấu... Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tranh biếm họa vẫn tiếp tục đóng vai trò là vũ khí chiến đấu. Trong đó, nổi bật là các tác phẩm của họa sỹ Võ An Lai, Chóe (Nguyễn Hải Chí) - người sau này được tờ New York Time của Mỹ đánh giá là 1 trong 8 họa sỹ biếm họa hàng đầu thế giới thập niên 1970.

Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc


Đến thời kỳ đổi mới, không thể không kể đến những đóng góp quan trọng của biếm họa, hấp dẫn và sâu sắc từ đầu những năm 1980. Cũng có thể gọi đó là thời kỳ vàng son của biếm họa sau 1975, mà tiêu biểu là tranh biếm họa đăng trên các báo Văn nghệ, Lao động... được nhân dân cả nước chờ đón.

Thể loại “báo chí nghệ thuật”


Trong nền báo chí thế giới, dù nhân loại phải trải qua những biến động xã hội dữ dội, đặc biệt trong thế kỷ XX, biếm họa vẫn giữ một vị trí trang trọng trong lịch sử phát triển mỹ thuật nói chung. Đó là thể loại “báo chí nghệ thuật” đặc thù, nằm giữa đường biên giao nhau của mỹ thuật và báo chí. Không phải ngẫu nhiên mà ở châu Âu người ta xếp họa sỹ biếm vào giới trí thức.

Biếm họa trên thế giới hiện rất phong phú, đa dạng. Có nhiều bảo tàng dành riêng cho biếm họa và cũng không ít bộ sưu tập tư nhân đặc sắc về tranh biếm họa. Hàng năm có tới hàng chục cuộc thi biếm họa quốc tế, tiêu biểu nhất là Liên hoan Biếm họa quốc tế ở Bỉ, năm 2011 tròn 50 năm tuổi... Tuy nhiên, vẽ biếm họa là một nghề nguy hiểm. Thế kỷ XIX, Honere Daumier (1808 - 1879), họa sỹ lớn của Pháp, vì một bức tranh giễu cợt vua Louis Philippe mà bị bỏ tù 6 tháng. Trong thế kỷ XX, không ít họa sỹ biếm là nạn nhân của chế độ quân chủ hoặc độc tài.

Tranh biếm họa của Nguyễn Gia Trí


Biếm họa Việt Nam do những điều kiện đặc thù, không thể so sánh với bề dày của biếm họa thế giới, nhưng cũng từng có những thời kỳ vàng son. Trong kháng chiến chống Pháp, tranh biếm họa được trân trọng sử dụng và đánh giá cao. Các triển lãm mỹ thuật toàn quốc đều có sự tham gia của tranh biếm họa, nhiều lần biếm họa được tặng thưởng giải Nhất, như triển lãm mỹ thuật toàn quốc các năm 1946, 1950, 1953, 1957... Nhưng sau đó, biếm họa bị gạt khỏi triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Từ năm 1975 đến nay, chưa có triển lãm biếm họa quy mô toàn quốc. Theo PGs.Ts Nguyễn Đỗ Bảo, các họa sỹ biếm họa đang không ở đúng vị trí, nên chưa phát huy được tài năng. Trong 5 năm vừa qua, Hội Mỹ thuật Việt Nam không đầu tư, không tổ chức trại sáng tác cho biếm họa. Đây là thiếu sót lớn của mỹ thuật Việt Nam... Hơn thế, tranh biếm họa cần được lên mặt báo, đóng góp tiếng cười và làm thiên chức phê phán, góp phần hoàn thiện xã hội.


Lê Thủy
Nguồn: Đại biểu Nhân dân - 07:38 | 23/03/2011

Thăng trầm biếm họa Việt Nam

Lê Thủy




Chặng đường dài gần một thế kỷ của biếm họa Việt Nam gắn chặt với báo chí, với thăng trầm của đời sống xã hội. Nhiều họa sỹ biếm họa đã để lại không ít dấu ấn.
Tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội vừa diễn ra triển lãm 80 năm biếm họa Việt Nam, giới thiệu lịch sử thăng trầm của biếm họa nước ta qua bộ sưu tập tranh của họa sỹ Lý Trực Dũng. Nhân dịp này, cuốn sách Biếm họa Việt Nam cũng được giới thiệu, mang đến cái nhìn khái quát và sinh động về “làng cười Việt”.

Nguồn tư liệu lịch sử trung thực


Khi báo chí quốc ngữ ra đời được 60 năm, tranh biếm họa mới lần đầu tiên xuất hiện trên các tuần báo LOA, Phong hóa, Ngày nay… Theo họa sỹ Lý Trực Dũng, người Việt Nam đầu tiên có tranh biếm họa được đăng báo là Nguyễn Ái Quốc, trên tờ Le Paria (Người cùng khổ). Nguyễn Ái Quốc tham gia vẽ biếm họa cũng như phần lớn họa sỹ biếm họa trên thế giới, không qua trường lớp và xuất thân từ đủ mọi tầng lớp xã hội, như kỹ sư, thầy thuốc, thợ cơ khí, chính khách... Biếm họa của Người thuộc biếm họa chính trị. Hiện 7 bức tranh biếm họa của Người vẫn được lưu giữ, như: Văn minh bề trên, Triển lãm thuộc địa, Vi hành... tất cả đều đề cập trực diện đến những vấn đề thời sự quốc tế nóng bỏng lúc bấy giờ là thực dân, áp bức, nô lệ, nô dịch văn hóa... Các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ biếm họa chính là nguồn tư liệu lịch sử trung thực, quý báu.

Tranh biếm họa của Tô Ngọc Vân


Trong thập kỷ 30 - 40 của thế kỷ XX, khi biếm họa bắt đầu xuất hiện trên báo chí, một số họa sỹ chuyên nghiệp được đào tạo tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã bắt tay làm báo. Nhiều người sau này trở thành danh họa, trong đó có Nguyễn Gia Trí (bút danh Rigt) và Tô Ngọc Vân (Tô Tử). Nguyễn Gia Trí vẽ nhiều tranh biếm họa, nhưng ông trở thành họa sỹ biếm họa bậc thầy chính là nhờ những tranh biếm họa chính trị, xã hội đầy góc cạnh, bày tỏ thái độ trực diện, được đăng nguyên cả khổ lớn trên trang bìa Phong hóa và Ngày nay. Cùng xuất hiện trên 2 báo trên là tranh biếm họa của Tô Ngọc Vân. Tuy nhiên, đề tài của ông phần lớn là những vấn đề thời sự, xã hội, chuyện cơm áo gạo tiền sát sườn với cuộc sống thường nhật của người dân.
Thời kháng chiến chống Pháp, tranh biếm họa chủ yếu có 2 màu đen - trắng, hình họa chân phương, không quá cường điệu và thường có lời kèm theo, với mục đích tạo tiếng cười sảng khoái, góp phần đánh bại thực dân Pháp, giải phóng đất nước. Ngay từ đầu, một số báo cách mạng như Sự thật, Toàn dân kháng chiến, Vệ quốc quân, Quân du kích… đã đăng tranh biếm họa. Bằng tài năng và lòng yêu nước, nhiều cựu sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã trở thành những họa sỹ biếm tiên phong. 3 họa sỹ nổi tiếng nhất thời kỳ này là Phan Kích (Phan Kế An) với nhiều tranh đả kích sâu sắc, có tầm chiến lược về chiến cuộc; Mai Văn Hiến với những tranh biếm họa nhân văn; và Nguyễn Bích với tranh biếm họa đầy chất chiến đấu... Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tranh biếm họa vẫn tiếp tục đóng vai trò là vũ khí chiến đấu. Trong đó, nổi bật là các tác phẩm của họa sỹ Võ An Lai, Chóe (Nguyễn Hải Chí) - người sau này được tờ New York Time của Mỹ đánh giá là 1 trong 8 họa sỹ biếm họa hàng đầu thế giới thập niên 1970.

Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc


Đến thời kỳ đổi mới, không thể không kể đến những đóng góp quan trọng của biếm họa, hấp dẫn và sâu sắc từ đầu những năm 1980. Cũng có thể gọi đó là thời kỳ vàng son của biếm họa sau 1975, mà tiêu biểu là tranh biếm họa đăng trên các báo Văn nghệ, Lao động... được nhân dân cả nước chờ đón.

Thể loại “báo chí nghệ thuật”


Trong nền báo chí thế giới, dù nhân loại phải trải qua những biến động xã hội dữ dội, đặc biệt trong thế kỷ XX, biếm họa vẫn giữ một vị trí trang trọng trong lịch sử phát triển mỹ thuật nói chung. Đó là thể loại “báo chí nghệ thuật” đặc thù, nằm giữa đường biên giao nhau của mỹ thuật và báo chí. Không phải ngẫu nhiên mà ở châu Âu người ta xếp họa sỹ biếm vào giới trí thức.

Biếm họa trên thế giới hiện rất phong phú, đa dạng. Có nhiều bảo tàng dành riêng cho biếm họa và cũng không ít bộ sưu tập tư nhân đặc sắc về tranh biếm họa. Hàng năm có tới hàng chục cuộc thi biếm họa quốc tế, tiêu biểu nhất là Liên hoan Biếm họa quốc tế ở Bỉ, năm 2011 tròn 50 năm tuổi... Tuy nhiên, vẽ biếm họa là một nghề nguy hiểm. Thế kỷ XIX, Honere Daumier (1808 - 1879), họa sỹ lớn của Pháp, vì một bức tranh giễu cợt vua Louis Philippe mà bị bỏ tù 6 tháng. Trong thế kỷ XX, không ít họa sỹ biếm là nạn nhân của chế độ quân chủ hoặc độc tài.

Tranh biếm họa của Nguyễn Gia Trí


Biếm họa Việt Nam do những điều kiện đặc thù, không thể so sánh với bề dày của biếm họa thế giới, nhưng cũng từng có những thời kỳ vàng son. Trong kháng chiến chống Pháp, tranh biếm họa được trân trọng sử dụng và đánh giá cao. Các triển lãm mỹ thuật toàn quốc đều có sự tham gia của tranh biếm họa, nhiều lần biếm họa được tặng thưởng giải Nhất, như triển lãm mỹ thuật toàn quốc các năm 1946, 1950, 1953, 1957... Nhưng sau đó, biếm họa bị gạt khỏi triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Từ năm 1975 đến nay, chưa có triển lãm biếm họa quy mô toàn quốc. Theo PGs.Ts Nguyễn Đỗ Bảo, các họa sỹ biếm họa đang không ở đúng vị trí, nên chưa phát huy được tài năng. Trong 5 năm vừa qua, Hội Mỹ thuật Việt Nam không đầu tư, không tổ chức trại sáng tác cho biếm họa. Đây là thiếu sót lớn của mỹ thuật Việt Nam... Hơn thế, tranh biếm họa cần được lên mặt báo, đóng góp tiếng cười và làm thiên chức phê phán, góp phần hoàn thiện xã hội.


Lê Thủy
Nguồn: Đại biểu Nhân dân - 07:38 | 23/03/2011

Biếm họa Việt Nam

Biếm họa Việt Nam

Lý Trực Dũng



Giới thiệu sách

“Nói đến biếm họa là nói đến “chông gai và…hoa hồng”, nghề của những anh hề dũng cảm dám đương đầu với sự ngu dốt nói chung”. Với cách nhìn nhận như thế, Lý Trực Dũng đã bỏ mặc công việc chính của mình là kiến trúc sư và xây dựng để “lao vào cuộc khảo ngược gian nan về chân dung những con người và tác phẩm đã tạo nên nền biếm họa Việt Nam” và kết quả là sự ra đời của cuốn Biếm họa Việt Nam – bức tranh khái quát và sinh động về “Làng Cười Việt Nam” trong suốt gần 90 năm qua.

Không sắp xếp theo bố cục của một công trình nghiên cứu với những đề mục, tiểu mục, Lý Trực Dũng mở từng trang lịch sử biếm họa Việt Nam theo những nhân vật cụ thể, bắt đầu từ người đầu tiên vẽ tranh biếm họa ở Việt Nam đến những nhân vật “đình đám” nhất trong làng biếm họa, danh nổi như cồn, vượt ra ngoài cả phạm vi Việt Nam… Nếu người đọc chờ đợi ở đây một văn phong cầu kỳ, trau chuốt của người nghệ sĩ quen cầm cọ hơn là bút viết thì hẳn sẽ thất vọng, bởi Biếm họa Việt Nam đậm chất trào lộng, dí dỏm, hóm hỉnh một cách giản dị và chân thật. Dưới góc nhìn của một họa sĩ, một người làm nghề đã “múa cọ” trên nhiều trang báo nổi tiếng, đã tiếp xúc với những người góp phần tạo nên “Làng Cười Việt Nam”, đã thẩm định và đánh giá rất nhiều tác phẩm trong các cuộc thi biếm họa quy mô toàn quốc, Lý Trực Dũng biết cách tiếp cận và “vẽ” lại chân dung những nhân vật theo cách riêng của mình. Đó là những đại diện cho lớp họa sĩ tài năng thế hệ trước như Nguyễn Gia Trí “bậc thầy biếm họa”, Tô Ngọc Vân – người góp phần quan trọng trong lịch sử phát triển biếm họa Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước, Phan Kích với những bức biếm họa mang nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ biếm chiến khu”, Nguyễn Bích, tác giả lớn của biếm họa thời chống Pháp….; gần đây hơn là họa sĩ nổi tiếng mà người ta biết đến bút danh nhiều hơn tên thật như họa sĩ Chóe, họa sĩ Ớt, họa sĩ Nhím..., bên cạnh đó là những gương mặt “tuổi trẻ tài cao” ghi dấu ấn đặc biệt trong làng biếm họa Việt Nam hiện đại, đặc biệt là chân dung biếm như họa sĩ Còm.Khoái, LEO, LAP…

Nguồn: Nhã Nam -



http://hoasibiem.com/
10 họa sĩ biếm họa đáng nể của Việt Nam

Biếm họa Việt Nam

Lý Trực Dũng



Giới thiệu sách

“Nói đến biếm họa là nói đến “chông gai và…hoa hồng”, nghề của những anh hề dũng cảm dám đương đầu với sự ngu dốt nói chung”. Với cách nhìn nhận như thế, Lý Trực Dũng đã bỏ mặc công việc chính của mình là kiến trúc sư và xây dựng để “lao vào cuộc khảo ngược gian nan về chân dung những con người và tác phẩm đã tạo nên nền biếm họa Việt Nam” và kết quả là sự ra đời của cuốn Biếm họa Việt Nam – bức tranh khái quát và sinh động về “Làng Cười Việt Nam” trong suốt gần 90 năm qua.

Không sắp xếp theo bố cục của một công trình nghiên cứu với những đề mục, tiểu mục, Lý Trực Dũng mở từng trang lịch sử biếm họa Việt Nam theo những nhân vật cụ thể, bắt đầu từ người đầu tiên vẽ tranh biếm họa ở Việt Nam đến những nhân vật “đình đám” nhất trong làng biếm họa, danh nổi như cồn, vượt ra ngoài cả phạm vi Việt Nam… Nếu người đọc chờ đợi ở đây một văn phong cầu kỳ, trau chuốt của người nghệ sĩ quen cầm cọ hơn là bút viết thì hẳn sẽ thất vọng, bởi Biếm họa Việt Nam đậm chất trào lộng, dí dỏm, hóm hỉnh một cách giản dị và chân thật. Dưới góc nhìn của một họa sĩ, một người làm nghề đã “múa cọ” trên nhiều trang báo nổi tiếng, đã tiếp xúc với những người góp phần tạo nên “Làng Cười Việt Nam”, đã thẩm định và đánh giá rất nhiều tác phẩm trong các cuộc thi biếm họa quy mô toàn quốc, Lý Trực Dũng biết cách tiếp cận và “vẽ” lại chân dung những nhân vật theo cách riêng của mình. Đó là những đại diện cho lớp họa sĩ tài năng thế hệ trước như Nguyễn Gia Trí “bậc thầy biếm họa”, Tô Ngọc Vân – người góp phần quan trọng trong lịch sử phát triển biếm họa Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước, Phan Kích với những bức biếm họa mang nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ biếm chiến khu”, Nguyễn Bích, tác giả lớn của biếm họa thời chống Pháp….; gần đây hơn là họa sĩ nổi tiếng mà người ta biết đến bút danh nhiều hơn tên thật như họa sĩ Chóe, họa sĩ Ớt, họa sĩ Nhím..., bên cạnh đó là những gương mặt “tuổi trẻ tài cao” ghi dấu ấn đặc biệt trong làng biếm họa Việt Nam hiện đại, đặc biệt là chân dung biếm như họa sĩ Còm.Khoái, LEO, LAP…

Nguồn: Nhã Nam -



http://hoasibiem.com/
10 họa sĩ biếm họa đáng nể của Việt Nam

Danh họa Tô Ngọc Vân và tranh biếm về những sự kiện "nóng"

Danh họa Tô Ngọc Vân và tranh biếm về những sự kiện "nóng"

Lý Trực Dũng
(TT&VH Online) - Họa sĩ Tô Ngọc Vân, sinh năm 1906 ở Hà Nội, là một nhân cách lớn. Người khi sinh thời được thầy của mình khen ngợi, đồng nghiệp đánh giá cao, học trò kính phục. Ông mất ngày 17/6/1954 khi mới 48 tuổi, trên đường ra mặt trận Điện Biên Phủ.

Một cái chết bi hùng theo nghĩa “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Nhà nước đã tôn vinh ông bằng những phần thưởng cao quý nhất: Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất...

Với cương vị là thầy giáo dạy vẽ ở trường Bưởi, giáo sư của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hiệu trưởng trường Mỹ thuật Việt Bắc, ông đã có ảnh hưởng lớn đến một loạt họa sĩ có tên tuổi của Việt Nam...

Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) [sưu tầm trên mạng (sttm)]


Những bức tranh sơn dầu về đề tài phụ nữ thị thành của ông trước 1945 mang dấu ấn Hậu ấn tượng cho đến nay vẫn làm mê hồn người xem mà tiêu biểu là bức Thiếu nữ bên hoa huệ. Cả ngàn tranh ký họa trong kháng chiến chống Pháp của ông là một tài sản vô cùng quý giá về nghệ thuật và lịch sử...

“Biên” hoạt động nghệ thuật của ông rất rộng: hội họa, đồ họa, minh họa, lý luận... và cả biếm họa cho hai tờ báo nổi tiếng của Tự lực Văn đoàn là Phong HóaNgày Nay. Rất nhiều tranh biếm họa của ông được đăng nguyên trên trang bìa hoặc đăng nguyên cả một trang khổ lớn của báo.

Đặc biệt mục Cuốn sổ tay của ông là một hình thức biếm họa nhiều kỳ nhưng không có một nhân vật cụ thể mà về những sự kiện “nóng” ở khắp mọi miền đất nước, từ hình sự, các vụ bê bối, bi hài... Với nét vẽ rất chắc, tay nghề cao, phần lời ngắn gọn, khá đắt, biếm họa của ông được nhiều người ưa thích...

Bức tranh ở Bắc Giang, ông con làm nghề thiến lợn thiến bố vì nghi bố tòm tem với vợ của mình!



Con làm nghề thiến lợn thiến bố vì nghi bố tòm tem với vợ mình

Ở Hải Dương, lý trưởng Thuận đập đầu ăn vạ vì không được ăn thêm phần xôi thịt...
Báo Ngày Nay số 183 - 14/10/1939, Trang 04.

Bạn đọc cứ háo hức mong chờ xem số báo tới có vụ gì xảy ra ở mục Cuốn sổ tay...

Tô Ngọc Vân cũng có chùm tranh độc đáo Tìm cảm hứng, diễn cảnh bi hài của nhà văn, nhà báo... đi tìm cảm hứng.

Văn sĩ: Trong 5 ngày liền, bà chết chồng và 4 người con. Chuyện bà hay lắm! Nhưng nếu ông và 4 con bà cùng chết một ngày, thì chuyện bà sẽ cảm động hơn!

Phóng viên bị xe chẹt gẫy chân, tiếc vì quên mất cảm giác lúc bị chẹt để làm bài...tường thuật!
Báo Ngày Nay số 194 - 30/12/1939 Trang 16.

Đề tài biếm họa của Tô Ngọc Vân phần lớn là những vấn đề thời sự, xã hội, những chuyện cơm áo gạo tiền sát sườn với cuộc sống thường nhật của người dân. Nhưng thỉnh thoảng ông cũng vẽ tranh biếm họa chính trị khá nặng ký mà tiêu biểu là bức tranh Kém gì nhau! có tựa đề: Bên Tây, Ý, Á xung đột; bên ta, Lục, An khai chiến (Lục và An là tên hai nhân vật kéo bè kéo cánh giành giật, đấu đá nhau để giành chức Nghị trưởng thời Pháp thuộc). Bức tranh thể hiện cảnh hai ông Nghị ở hai chiến tuyến được phân cách bằng dây thép gai đang sử dụng pháo và cối hùng hổ nã vào nhau!


Hai ông Nghị thời Pháp thuộc "khai chiến" trong nghị trường


Báo Ngày Nay số 156 - 04/10/1935 trang 1.



Có thể khẳng định, họa sĩ Tô Ngọc Vân với bút danh Tô Tử đã đóng góp một phần quan trọng vào lịch sử phát triển của biếm họa Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước.


Lý Trực Dũng
Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Thứ Ba, 21/07/2009 16:14





Danh họa Tô Ngọc Vân và tranh biếm về những sự kiện "nóng"

Lý Trực Dũng
(TT&VH Online) - Họa sĩ Tô Ngọc Vân, sinh năm 1906 ở Hà Nội, là một nhân cách lớn. Người khi sinh thời được thầy của mình khen ngợi, đồng nghiệp đánh giá cao, học trò kính phục. Ông mất ngày 17/6/1954 khi mới 48 tuổi, trên đường ra mặt trận Điện Biên Phủ.

Một cái chết bi hùng theo nghĩa “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Nhà nước đã tôn vinh ông bằng những phần thưởng cao quý nhất: Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất...

Với cương vị là thầy giáo dạy vẽ ở trường Bưởi, giáo sư của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hiệu trưởng trường Mỹ thuật Việt Bắc, ông đã có ảnh hưởng lớn đến một loạt họa sĩ có tên tuổi của Việt Nam...

Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) [sưu tầm trên mạng (sttm)]


Những bức tranh sơn dầu về đề tài phụ nữ thị thành của ông trước 1945 mang dấu ấn Hậu ấn tượng cho đến nay vẫn làm mê hồn người xem mà tiêu biểu là bức Thiếu nữ bên hoa huệ. Cả ngàn tranh ký họa trong kháng chiến chống Pháp của ông là một tài sản vô cùng quý giá về nghệ thuật và lịch sử...

“Biên” hoạt động nghệ thuật của ông rất rộng: hội họa, đồ họa, minh họa, lý luận... và cả biếm họa cho hai tờ báo nổi tiếng của Tự lực Văn đoàn là Phong HóaNgày Nay. Rất nhiều tranh biếm họa của ông được đăng nguyên trên trang bìa hoặc đăng nguyên cả một trang khổ lớn của báo.

Đặc biệt mục Cuốn sổ tay của ông là một hình thức biếm họa nhiều kỳ nhưng không có một nhân vật cụ thể mà về những sự kiện “nóng” ở khắp mọi miền đất nước, từ hình sự, các vụ bê bối, bi hài... Với nét vẽ rất chắc, tay nghề cao, phần lời ngắn gọn, khá đắt, biếm họa của ông được nhiều người ưa thích...

Bức tranh ở Bắc Giang, ông con làm nghề thiến lợn thiến bố vì nghi bố tòm tem với vợ của mình!



Con làm nghề thiến lợn thiến bố vì nghi bố tòm tem với vợ mình

Ở Hải Dương, lý trưởng Thuận đập đầu ăn vạ vì không được ăn thêm phần xôi thịt...
Báo Ngày Nay số 183 - 14/10/1939, Trang 04.

Bạn đọc cứ háo hức mong chờ xem số báo tới có vụ gì xảy ra ở mục Cuốn sổ tay...

Tô Ngọc Vân cũng có chùm tranh độc đáo Tìm cảm hứng, diễn cảnh bi hài của nhà văn, nhà báo... đi tìm cảm hứng.

Văn sĩ: Trong 5 ngày liền, bà chết chồng và 4 người con. Chuyện bà hay lắm! Nhưng nếu ông và 4 con bà cùng chết một ngày, thì chuyện bà sẽ cảm động hơn!

Phóng viên bị xe chẹt gẫy chân, tiếc vì quên mất cảm giác lúc bị chẹt để làm bài...tường thuật!
Báo Ngày Nay số 194 - 30/12/1939 Trang 16.

Đề tài biếm họa của Tô Ngọc Vân phần lớn là những vấn đề thời sự, xã hội, những chuyện cơm áo gạo tiền sát sườn với cuộc sống thường nhật của người dân. Nhưng thỉnh thoảng ông cũng vẽ tranh biếm họa chính trị khá nặng ký mà tiêu biểu là bức tranh Kém gì nhau! có tựa đề: Bên Tây, Ý, Á xung đột; bên ta, Lục, An khai chiến (Lục và An là tên hai nhân vật kéo bè kéo cánh giành giật, đấu đá nhau để giành chức Nghị trưởng thời Pháp thuộc). Bức tranh thể hiện cảnh hai ông Nghị ở hai chiến tuyến được phân cách bằng dây thép gai đang sử dụng pháo và cối hùng hổ nã vào nhau!


Hai ông Nghị thời Pháp thuộc "khai chiến" trong nghị trường


Báo Ngày Nay số 156 - 04/10/1935 trang 1.



Có thể khẳng định, họa sĩ Tô Ngọc Vân với bút danh Tô Tử đã đóng góp một phần quan trọng vào lịch sử phát triển của biếm họa Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước.


Lý Trực Dũng
Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Thứ Ba, 21/07/2009 16:14





Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

NN223 - "Cái bụng" - Trang tranh vẽ của Tô Tử

Cái bụng

Trang tranh vẽ của Tô Tử



Nguồn: Ngày Nay số 223 - 31/08/1940, Tr. 16.

Cái bụng

Trang tranh vẽ của Tô Tử



Nguồn: Ngày Nay số 223 - 31/08/1940, Tr. 16.

NN221 - "Cũng đúng luật"

Cũng đúng luật

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 221 - 17/08/1940, Tr. 17.

Cũng đúng luật

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 221 - 17/08/1940, Tr. 17.

NN220 - "Ghen"



NN219 - "Sự thực ở bãi biển"

Sự thực ở bãi biển

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 17.

Sự thực ở bãi biển

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 219 - 03/08/1940, Tr. 17.

NN218-27/07/1940 - "Điềm gì?"

Điềm gì?

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 04.

Điềm gì?

Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 218 - 27/07/1940, Tr. 04.

NN217 - "Bãi biển Sầm-Sơn" - Trang phóng sự bằng tranh của Tô Tử

Bãi biển Sầm-Sơn

Trang phóng sự bằng tranh của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 217 - 20/07/1940, Tr. 17.

Bãi biển Sầm-Sơn

Trang phóng sự bằng tranh của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 217 - 20/07/1940, Tr. 17.

NN216 - "Cạo" - Trang tranh của Tô Tử

Cạo

Trang tranh của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 216 - 13/07/1940, Tr. 17.

Cạo

Trang tranh của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 216 - 13/07/1940, Tr. 17.

NN215 - "Chuyện âm phủ" - Trang vẽ của Tô Tử

Chuyện âm phủ

Trang vẽ của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 215 - 06/07/1940, Tr. 17.

Chuyện âm phủ

Trang vẽ của Tô Tử


Nguồn: Ngày Nay số 215 - 06/07/1940, Tr. 17.