Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2018

"Suy tư" - 1940

Suy tư

Tô Ngọc Vân
1940


PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê




Nhà đấu giá: PI Auction House
Phiên đấu giá: Phiên 04 - VỮNG BƯỚC
Lot: 04041
Ngày giờ: 16:42 - 24/07/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Mã hiện vật: 404
Tên hiện vật: Suy tư
Nguồn gốc: Ký: Tô Ngọc Vân
Niên đại: 1940
Chất liệu: Chì trên giấy
Kích thước: 23x18 cm
Giá khởi điểm: 12.000.000 VNĐ

Nguồn: PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê

Seated Lady in Ao Dai; Lady in Ao Dai in the Studio

Tô Ngọc Vân
1940


Blouin Art Sales Index


LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
Seated Lady in Ao Dai; Lady in Ao Dai in the Studio, 1940
Works on Paper
Materials: each pencil on paper
Measurements: 9.25 in. (23.50 cm.) (height) by 6.89 in. (17.50 cm.) (width)
Size Notes: 1; 2: 28 x 19.5 cm
Markings: signed and dated To Ngoc Van 40 (lower left); signed To Ngoc Van (lower left)
Provenance: Acquired from To Ngoc Thanh, son of the artist by the present owner.

SALE DATE 26/05/2013

SALE DETAILS
Christie's Hong Kong
Asian 20th Century Art (Day Sale)
Lot No 3636

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com


Tranh khắc gỗ của HS Tô ngọc Vân (Ái Mỹ)

Tô ngọc Vân (Ái Mỹ). Thiếu nữ. Tranh khắc gỗ. Phụ bản trang trong báo Xuân Đời Nay 1943. Bản đặc biệt trên nền giấy báo có hoa văn.


Nguồn: Blog CHO ĐỜI THÊM VUI - cau minhngoc




Suy tư

Tô Ngọc Vân
1940


PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê




Nhà đấu giá: PI Auction House
Phiên đấu giá: Phiên 04 - VỮNG BƯỚC
Lot: 04041
Ngày giờ: 16:42 - 24/07/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Mã hiện vật: 404
Tên hiện vật: Suy tư
Nguồn gốc: Ký: Tô Ngọc Vân
Niên đại: 1940
Chất liệu: Chì trên giấy
Kích thước: 23x18 cm
Giá khởi điểm: 12.000.000 VNĐ

Nguồn: PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê

Seated Lady in Ao Dai; Lady in Ao Dai in the Studio

Tô Ngọc Vân
1940


Blouin Art Sales Index


LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
Seated Lady in Ao Dai; Lady in Ao Dai in the Studio, 1940
Works on Paper
Materials: each pencil on paper
Measurements: 9.25 in. (23.50 cm.) (height) by 6.89 in. (17.50 cm.) (width)
Size Notes: 1; 2: 28 x 19.5 cm
Markings: signed and dated To Ngoc Van 40 (lower left); signed To Ngoc Van (lower left)
Provenance: Acquired from To Ngoc Thanh, son of the artist by the present owner.

SALE DATE 26/05/2013

SALE DETAILS
Christie's Hong Kong
Asian 20th Century Art (Day Sale)
Lot No 3636

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com


Tranh khắc gỗ của HS Tô ngọc Vân (Ái Mỹ)

Tô ngọc Vân (Ái Mỹ). Thiếu nữ. Tranh khắc gỗ. Phụ bản trang trong báo Xuân Đời Nay 1943. Bản đặc biệt trên nền giấy báo có hoa văn.


Nguồn: Blog CHO ĐỜI THÊM VUI - cau minhngoc




"Hai chị em" - 1932


Hai chị em - Les deux soeurs

Tô Ngọc Vân
1932


Blouin Art Sales Index




LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
Les deux soeurs , 1932
Paintings
Materials: oil, gouache and ink on silk
Measurements: 37.00 in. (93.98 cm.) (height) by 22.00 in. (55.88 cm.) (width)
Description: s.d.1932 oil gouache ink on silk

SALE DATE december 15, 1999

SALE DETAILS
Piasa Paris
19th & 20th Century Paintings & Sculpture
Lot No 89

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com

Hai chị em - Les deux soeurs

Tô Ngọc Vân
1932


Blouin Art Sales Index




LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
Les deux soeurs , 1932
Paintings
Materials: oil, gouache and ink on silk
Measurements: 37.00 in. (93.98 cm.) (height) by 22.00 in. (55.88 cm.) (width)
Description: s.d.1932 oil gouache ink on silk

SALE DATE december 15, 1999

SALE DETAILS
Piasa Paris
19th & 20th Century Paintings & Sculpture
Lot No 89

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com

"Học thêu" - "Những cô thợ thêu" - 1932




TÁC PHẨM "HỌC THÊU"
(Tranh màu nước trên lụa, 1932)

Tô Ngọc Vân

Tác phẩm "Học thêu" (Tranh màu nước trên lụa, 1932)




Nguồn: Bảo tàng Tô Ngọc Vân - 2022



Những cô thợ thêu - Les brodeuses

Tô Ngọc Vân
1932
Những cô thợ thêu. Màu trên lụa, 1932. (© Christian Murtin) - theo SOI.

Blouin Art Sales Index


LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
La lecon de couture, 1932
Paintings
Materials: oil, ink and gouache on silk
Measurements: 27.00 in. (68.58 cm.) (height) by 27.00 in. (68.58 cm.) (width)
Description: s.d.1932 oil ink gouache on silk

SALE DATE december 15, 1999

SALE DETAILS
Piasa Paris
19th & 20th Century Paintings & Sculpture
Lot No 90

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com




Les brodeuses (Thợ thêu, lụa, 68 x 68 cm, 1932)
Học thêu (1932) - màu nước trên lụa.

Trong bài Những bức tranh tuyệt đẹp về phụ nữ Việt Nam một thời - Báo An ninh Thủ đô, 08/03/17 22:21. -
tranh trên được chú thích là
"Thợ thêu"- tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh?!



TÁC PHẨM "HỌC THÊU"
(Tranh màu nước trên lụa, 1932)

Tô Ngọc Vân

Tác phẩm "Học thêu" (Tranh màu nước trên lụa, 1932)




Nguồn: Bảo tàng Tô Ngọc Vân - 2022



Những cô thợ thêu - Les brodeuses

Tô Ngọc Vân
1932
Những cô thợ thêu. Màu trên lụa, 1932. (© Christian Murtin) - theo SOI.

Blouin Art Sales Index


LOT DETAILS
TO NGOC VAN (VIETNAMESE, 1906-1954)
La lecon de couture, 1932
Paintings
Materials: oil, ink and gouache on silk
Measurements: 27.00 in. (68.58 cm.) (height) by 27.00 in. (68.58 cm.) (width)
Description: s.d.1932 oil ink gouache on silk

SALE DATE december 15, 1999

SALE DETAILS
Piasa Paris
19th & 20th Century Paintings & Sculpture
Lot No 90

Nguồn: Blouin Art Sales Index - Blouin Artinfo.Com




Les brodeuses (Thợ thêu, lụa, 68 x 68 cm, 1932)
Học thêu (1932) - màu nước trên lụa.

Trong bài Những bức tranh tuyệt đẹp về phụ nữ Việt Nam một thời - Báo An ninh Thủ đô, 08/03/17 22:21. -
tranh trên được chú thích là
"Thợ thêu"- tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh?!

"Trò chuyện" (La Rencontre) 1929

LA RENCONTRE

Tô Ngọc Vân
1929


LA RENCONTRE

Tô Ngọc Vân
1929


"Tranh minh họa 'Truyện Kiều'" - 1942

11 bức tranh 'Truyện Kiều' của danh họa Việt

Hiếu Vân



Tranh minh họa 'Truyện Kiều' - 1942,
“Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò” của Tô Ngọc Vân. Khắc gỗ màu trên giấy dó. Cỡ: 21cm x 29.5 cm.




Năm 1942, 11 danh họa Việt Nam vẽ 11 bức vẽ lấy cảm hứng từ Truyện Kiều trên giấy dó với mục đích phát hành để lấy tiền sửa mộ và dựng bia Nguyễn Du tại làng Tiên Điền.

11 bức tranh 'Truyện Kiều' của danh họa Việt

Hiếu Vân



Tranh minh họa 'Truyện Kiều' - 1942,
“Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò” của Tô Ngọc Vân. Khắc gỗ màu trên giấy dó. Cỡ: 21cm x 29.5 cm.




Năm 1942, 11 danh họa Việt Nam vẽ 11 bức vẽ lấy cảm hứng từ Truyện Kiều trên giấy dó với mục đích phát hành để lấy tiền sửa mộ và dựng bia Nguyễn Du tại làng Tiên Điền.

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018

"Thai Girl" - 1937

"Thai Girl" - 1937

To Ngoc Van
1937


Sotheby's
Modern and Contemporary Southeast Asian Art

01 OCTOBER 2018 | 10:00 AM HKT | HONG KONG
OVERVIEW
Demonstrating an immense range of artistic expressions and themes within the Southeast Asian region, this season’s day sale offers an exceptional collection of pieces. Here, classic works by some of Southeast Asia’s most illustrious masters such as Lee Man Fong, Pham Hau, Affandi and Liu Kang showcase their pioneering innovations in medium and technique. These pieces capture the region’s layered histories and cultural diversity in a timeless visual style that remains beloved across generations.

These early modern works then stand alongside the contemporary avant-garde of the 21st Century. The sale celebrates the visionary, inventive spirit of the region’s most audacious rising artists, from Jigger Cruz to Christine Ay Tjoe, as they reimagine the idea of paint and canvas itself, establishing their own highly individualistic artistic languages. Beyond this, their works represent all the dynamism and creativity Southeast Asia offers, to become one of the fastest-growing cultural centres in the world today.

Some prominent highlights this season include Srihadi Sudarsono’s Landscape, Fernando Zobel’s Naranja Y Gris, Hendra Gunawan’s Golden Fish Seller and Arin Sunaryo’s Qerramath triptych.

266



To Ngoc Van
THAI GIRL
Estimate 80,000 — 150,000 HKD
10,222 - 19,166USD
LOT SOLD. 118,750 HKD (15,173 USD)

DETAILS & CATALOGUING

To Ngoc Van
1906-1954
THAI GIRL
Signed and dated 12.37
Crayon and pencil on paper
74 by 32.5 cm; 29 1/4 by 12 3/4 in.

PROVENANCE
Private Collection, Singapore

LITERATURE
Ha Thuc Can., Dao Hung, 100 Years of Contemporary Paintings From Vietnam, Dong Son Editions, 1994, color illustration, p. 6

Nguồn: Sotheby's - Modern and Contemporary Southeast Asian Art - Lot 266 - 01 OCTOBER 2018

"Thai Girl" - 1937

To Ngoc Van
1937


Sotheby's
Modern and Contemporary Southeast Asian Art

01 OCTOBER 2018 | 10:00 AM HKT | HONG KONG
OVERVIEW
Demonstrating an immense range of artistic expressions and themes within the Southeast Asian region, this season’s day sale offers an exceptional collection of pieces. Here, classic works by some of Southeast Asia’s most illustrious masters such as Lee Man Fong, Pham Hau, Affandi and Liu Kang showcase their pioneering innovations in medium and technique. These pieces capture the region’s layered histories and cultural diversity in a timeless visual style that remains beloved across generations.

These early modern works then stand alongside the contemporary avant-garde of the 21st Century. The sale celebrates the visionary, inventive spirit of the region’s most audacious rising artists, from Jigger Cruz to Christine Ay Tjoe, as they reimagine the idea of paint and canvas itself, establishing their own highly individualistic artistic languages. Beyond this, their works represent all the dynamism and creativity Southeast Asia offers, to become one of the fastest-growing cultural centres in the world today.

Some prominent highlights this season include Srihadi Sudarsono’s Landscape, Fernando Zobel’s Naranja Y Gris, Hendra Gunawan’s Golden Fish Seller and Arin Sunaryo’s Qerramath triptych.

266



To Ngoc Van
THAI GIRL
Estimate 80,000 — 150,000 HKD
10,222 - 19,166USD
LOT SOLD. 118,750 HKD (15,173 USD)

DETAILS & CATALOGUING

To Ngoc Van
1906-1954
THAI GIRL
Signed and dated 12.37
Crayon and pencil on paper
74 by 32.5 cm; 29 1/4 by 12 3/4 in.

PROVENANCE
Private Collection, Singapore

LITERATURE
Ha Thuc Can., Dao Hung, 100 Years of Contemporary Paintings From Vietnam, Dong Son Editions, 1994, color illustration, p. 6

Nguồn: Sotheby's - Modern and Contemporary Southeast Asian Art - Lot 266 - 01 OCTOBER 2018

"Ngôi nhà bên bờ sông" (The house near the river) - 1940

CHRISTIE'S
SALE 2106

SOUTHEAST ASIAN & 20TH CENTURY INDIAN PICTURES
Hong Kong|28 April 2002

La maison pres de la riviere (The house near the river)







LOT 36
TO NGOC VAN (Vietnam 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The house near the river)
Price realised
HKD 119,500

Estimate
HKD 120,000 - HKD 150,000

TO NGOC VAN (Vietnam 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The house near the river)
signed and dated 'To Ngoc Van 1929' (lower right); signed and dated again on the reverse
oil on canvas
35 x 24 in. (90 x 60 cm.)
Nguồn: CHRISTIE'S -



Ngôi nhà bên bờ sông

Tô Ngọc Vân
1940




PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê




Nhà đấu giá: Christie's
Phiên đấu giá: Christie's Chủ nhật 28/04/2002
Lot: C42036
Ngày giờ: 11:49 - 18/09/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Mã hiện vật: 21317
Tên hiện vật: Ngôi nhà bên bờ sông
Nguồn gốc: Tô Ngọc Vân (1906-1954)
Niên đại: 1929
Chất liệu: Sơn dầu trên toan
Kích thước: 90x60
Giá ước lượng: 120.000 - 150.000 HKD

Nguồn: PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê

CHRISTIE'S
SALE 12517

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Convention Hall|29 May 2016
LOT 308
TO NGOC VAN (Vietnamese, 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The House Near the River)
Price realised
HKD 625,000

Estimate
HKD 500,000 - HKD 700,000
Follow lot
Add to Interests
TO NGOC VAN (Vietnamese, 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The House Near the River)
signed and dated 'To Ngoc Van 1929' (lower right); signed and dated again on the reverse
oil on canvas
90 x 60 cm. (35 3/8 x 23 5/8 in.)
Painted in 1929

Provenance

Anon. sale; Christie's Hong Kong, 28 April 2002, Lot 36
Acquired from the above sale by the present owner

MutualArt



Tô Ngọc Vân
Vietnamese | 1906 - 1954
Tô Ngọc Vân was a Vietnamese painter who was born in 1906. Their work has featured in an exhibition at the de Sarthe Gallery, Hong Kong . Tô Ngọc Vân's work has been offered at auction multiple times, with realized prices ranging from $8,451 USD to $80,471 USD, depending on the size and medium of the artwork. The current record price for this artist at auction is $80,471 USD for "La maison pres de la riviere (The House Near the River)", sold at Christie's Hong Kong in 2016. The artist died in 1954.


CHRISTIE'S
SALE 2106

SOUTHEAST ASIAN & 20TH CENTURY INDIAN PICTURES
Hong Kong|28 April 2002

La maison pres de la riviere (The house near the river)







LOT 36
TO NGOC VAN (Vietnam 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The house near the river)
Price realised
HKD 119,500

Estimate
HKD 120,000 - HKD 150,000

TO NGOC VAN (Vietnam 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The house near the river)
signed and dated 'To Ngoc Van 1929' (lower right); signed and dated again on the reverse
oil on canvas
35 x 24 in. (90 x 60 cm.)
Nguồn: CHRISTIE'S -



Ngôi nhà bên bờ sông

Tô Ngọc Vân
1940




PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê




Nhà đấu giá: Christie's
Phiên đấu giá: Christie's Chủ nhật 28/04/2002
Lot: C42036
Ngày giờ: 11:49 - 18/09/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Mã hiện vật: 21317
Tên hiện vật: Ngôi nhà bên bờ sông
Nguồn gốc: Tô Ngọc Vân (1906-1954)
Niên đại: 1929
Chất liệu: Sơn dầu trên toan
Kích thước: 90x60
Giá ước lượng: 120.000 - 150.000 HKD

Nguồn: PI’s Auction House - Công ty Cổ phần Đầu tư Say mê

CHRISTIE'S
SALE 12517

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Convention Hall|29 May 2016
LOT 308
TO NGOC VAN (Vietnamese, 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The House Near the River)
Price realised
HKD 625,000

Estimate
HKD 500,000 - HKD 700,000
Follow lot
Add to Interests
TO NGOC VAN (Vietnamese, 1906-1954)
La maison pres de la riviere (The House Near the River)
signed and dated 'To Ngoc Van 1929' (lower right); signed and dated again on the reverse
oil on canvas
90 x 60 cm. (35 3/8 x 23 5/8 in.)
Painted in 1929

Provenance

Anon. sale; Christie's Hong Kong, 28 April 2002, Lot 36
Acquired from the above sale by the present owner

MutualArt



Tô Ngọc Vân
Vietnamese | 1906 - 1954
Tô Ngọc Vân was a Vietnamese painter who was born in 1906. Their work has featured in an exhibition at the de Sarthe Gallery, Hong Kong . Tô Ngọc Vân's work has been offered at auction multiple times, with realized prices ranging from $8,451 USD to $80,471 USD, depending on the size and medium of the artwork. The current record price for this artist at auction is $80,471 USD for "La maison pres de la riviere (The House Near the River)", sold at Christie's Hong Kong in 2016. The artist died in 1954.


Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

QUANG THI


TTO - Một thông tin bất ngờ: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức tranh The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo (trái) và bức tranh có chữ ký của họa sĩ Tô Ngọc Vân trên sàn đấu giá Chrisite's Hong Kong ngày 28-5 - Ảnh: Artble, Christie’s



Sự kiện một số tranh Việt được bán giá cao tại các sàn đấu giá quốc tế gần đây được người trong giới đánh giá là chưa mừng đã lo.

Bởi nhà nghiên cứu Phạm Long vừa đưa ra phát hiện “động trời”: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức sơn dầu Mơ về một ngày mai (Dream of the following day, giá khởi điểm: 9.026-11.025 USD, giá bán 350.000 USD) được giới thiệu là của Tô Ngọc Vân có thể thấy là bức chép của tác phẩm The Young Beggar (Trẻ ăn mày) của họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17 Bartolome Esteban Murillo.

Thế nhưng, website của nhà đấu giá Christie’s dẫn bài giới thiệu của “chuyên viên mỹ thuật Việt Nam” Jean François Hubert rằng:
"Với xu hướng hiện thực và chủ nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, bức tranh Mơ về một ngày mai khác nào là một bản tóm tắt những suy tư của Tô Ngọc Vân: rồi sẽ có đổi thay và hi vọng.

Nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Pháp Claude Mahoudeau sớm nhận ra phẩm chất của các tác phẩm của Tô Ngọc Vân và đã mua lại bức tranh đầy cảm xúc và rung động này trực tiếp từ họa sĩ”.
Ông Jean François Hubert cũng là người đã bán cho ông Vũ Xuân Chung 17 bức tranh của các danh họa Việt Nam bị phát hiện hầu hết là tranh giả khi triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Nhà nghiên cứu Phạm Long băn khoăn: nếu đó là tranh do Tô Ngọc Vân chép, theo nguyên tắc họa sĩ Tô Ngọc Vân không được ký tên. Nhưng chữ ký đó có thật không?

Sự kiện này làm nhớ lại bức tranh do họa sĩ Thành Chương vẽ, nhưng bị xóa tên Thành Chương để ký đè lên là tranh của... Tạ Tỵ!

Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Long lo lắng:
“Sự kiện tranh Lê Phổ đạt giá 1,1 triệu USD được cảnh báo sẽ báo hiệu cho cao trào mới về chế tác và buôn bán tranh giả của các họa sĩ mỹ thuật Đông Dương, mà trường hợp tranh Tô Ngọc Vân này chỉ là phát pháo mở màn!”.

Câu chuyện tranh giả của các họa sĩ thời mỹ thuật Đông Dương trên các sàn đấu giá quốc tế không mới.

Từng có tranh của các họa sĩ như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái... - những danh họa bậc thầy, những người đặt nền móng cho mỹ thuật Việt Nam - xuất hiện trên các sàn đấu giá quốc tế với giá bán cao bị cho là tranh giả, bị phanh phui và khiếu nại ầm ĩ.

Nhưng đáng tiếc hơn nữa là sau họ, không có nhiều các họa sĩ đương đại Việt Nam được biết tới.

Có thể nói, tranh Việt ở sàn đấu giá quốc tế đạt giá triệu đô không có gì quá mừng. Bởi trong nước có những bức tranh của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng... có giá hơn cả triệu đô.

Những tác phẩm này được chủ sở hữu xem như báu vật, không đem trao đổi mà chỉ truyền trong giới.

Sự đẩy giá tranh Việt ở sàn quốc tế có ý nghĩa tích cực, nhưng bị ảnh hưởng và “mặc cả” cơ hội với những đường dây làm tranh giả hết sức tinh vi, được xem là nguyên nhân làm mất uy tín nền mỹ thuật Việt Nam.

Trong khi công cuộc giới thiệu nền mỹ thuật Việt Nam đương đại ra thế giới không liền mạch, bị đứt gãy.

Từ trước đến nay từng có tranh của Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Xuân Hòa, Đỗ Quang Em... xuất hiện trên sàn đấu giá, nhưng những tên tuổi này chưa đứng được trên sàn quốc tế.

Không ồn ã như sàn đấu giá, gần đây thị trường mỹ thuật có những giao dịch tranh lên đến hàng tỉ đồng.

Điều này cho thấy thị trường tranh Việt đang ấm lên, có những kênh đang đầu tư vào mỹ thuật. Những chuyển động này mới là điều mỹ thuật Việt Nam đang cần.

Bởi kinh nghiệm từ mỹ thuật nước bạn cho thấy một khi trong nước biết quý, đánh giá đúng tài năng và vị thế của họa sĩ thì giá tranh trên trường quốc tế mới tăng theo.

The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo

Họa sĩ Nguyễn Lâm chia sẻ một câu chuyện:

“Gần đây có những người ở sàn đấu giá Singapore, Hong Kong đến đặt hàng tôi và đồng nghiệp vẽ những bức tranh theo môtip thiếu nữ, hoa sen... mềm mại, thướt tha kiểu của các họa sĩ thời kỳ mỹ thuật Đông Dương.

Tôi hỏi họ sao không đặt hàng những bức tranh hiện đại hơn, chúng tôi không thể vẽ mãi theo cách cũ. Nhưng họ cười lắc đầu trả lời: Ông không hiểu. Nước ngoài nhiều người biết về tranh Việt Nam chỉ đến giai đoạn này thôi!”.


QUANG THI
Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 06/06/2017 11:00




CHRISTIE'S


SALE 13268

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Hong Kong|28 May 2017
LOT 428
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
Price realised
HKD 350,000

Estimate
HKD 70,000 - HKD 90,000

TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
signed 'To Ngoc Van' (lower right)
oil on canvas
47.5 x 40 cm. (18 3/4 x 15 3/4 in.)
Painted circa 1940

Provenance

Acquired directly from the artist by Claude Mahoudeau, Hanoi, 1943
Private collection, Paris, France



Gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân phản ứng về vụ mạo danh

VOV TV Online
Xuất bản 10 thg 6, 2017
Vụ việc Họa sĩ Tô Ngọc Vân bị mạo danh trong một bức tranh chép tại phiên đấu giá của sàn Christie’s Hong Kong vừa qua, đã làm cho các nhà chuyên môn, giới yêu nghệ thuật và gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân bức xúc.







Forgery claims throw dark shadow over the global rise of Vietnamese art

By Trang Bui June 13, 2017

A tale of two paintings: Days after a $45,000 piece was sold at Christie's, the celebratory mood ended abruptly.
(L) The Young Beggar by Bartolomé Esteban Murillo.
(R) Le Songe du Lendemain by To Ngoc Van.


It could have been another uncontested victory for Vietnamese art.

The day was May 28, 2017. An auction at Christie’s Hong Kong valued a piece named “Le Songe du Lendemain” (Dream of the Following Day) at over $45,000. It’s billed as a masterwork by the renowned 20th-century artist To Ngoc Van.

The event appeared to herald a new era for modern Vietnamese artworks in the international market. It seemed to be the time for cheers.

But only a week later, art scholars and painters quickly raised their concerns on local media, alleging that the painting in question could be a forgery of “The Young Beggar” by Spanish painter Bartolomé Esteban Murillo.

Many were also angry that the piece had been tied to To Ngoc Van (1906-1954), a Vietnamese master.

Van, an early talent in oil painting, was among the brightest graduates of the Indochina College of Fine Arts in the 1930s. He was a recipient of the Ho Chi Minh Prize, a teacher at fine arts colleges in Hanoi and Phnom Penh.

But most importantly, he’s a pride of Vietnamese art.

Luong Xuan Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, did not hide his displeasure in a phone conversation: “It’s certainly a fake. The painting looks coarse and clumsy; there’s no way it could be To Ngoc Van’s work.”

Other Vietnamese experts believe To Ngoc Van did not paint the art and that the artist wouldn’t have signed his name if he had actually copied Murillo’s.

A descendant of the artist was also cautious. He said he had asked several members in the family and none could confirm whether the painting is Van’s.

Responding to the allegations, Lavina Chan, Senior Vice-President of Christie’s Asia, affirmed the auction house’s due diligence on the painting’s provenance.

“There is no basis on which to call into question its authenticity,” Chan wrote in an email to VnExpress International.

Christie’s sale catalog, written by Jean-François Hubert, senior consultant and expert in Vietnamese art, states that “Le Songe du Lendemain” was first acquired directly from the Vietnamese artist by Claude Mahoudeau, who “recognized early the quality of To Ngoc Van's works.”

The painting has then been passed through two European gentlemen, Chan said.

However, the representative could not look past the resemblance.

“While the artist was indeed influenced by the Spanish artist Murillo, it was not uncommon in that era to follow the footsteps of European old masters,” Chan wrote.

In a follow-up interview, Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, refuted that point.

“It’s unusual.” Doan said. “To Ngoc Van had French and European teachers so he could be influenced in the material and the techniques he used. But the great artist painted with a signature style, so he wouldn’t have forged such amazing works of masters like Murillo.”

“It’s an insult to the artist and heartbreaking news for Vietnamese art,” Doan concluded.

An uphill battle

Tran Khanh Chuong, the president of Vietnam Fine Arts Association, is more reserved. But he too is not optimistic when talking about rampant counterfeits on international markets.

“We can’t confirm forgery until an evaluation center provides clear evidence,” Chuong said. “It also costs a fortune to re-evaluate an artwork, even if the inspectors of the Ministry of Culture, Sports and Tourism could step in.”

In Vietnam, curators and collectors face immense difficulties procuring artwork. The one and only Artwork Evaluation Center, which belongs to the Vietnam Fine Arts Museum, closed a few months after its opening in 2010.

“Not many people cared to bring in their purchases for evaluation,” Chuong said. “They think there’s no point in spotting theirs as fakes, even if they have doubts.”

Meanwhile, the most valuable, sought-after art comes from the elites of Indochina College of Fine Arts, whose works in the 1930s are neither registered nor protected by the Vietnam Copyright Office.

Vietnam has long been known for its legacy of fake arts after two brutal wars. The New York Times ran a piece in 2009 describing the chaos inside the Vietnam Fine Arts Museum, where hundreds of artworks were replaced with copies to protect them from bombings in the 1960s. These days the real ones cannot be found or evaluated easily.

When the economy opened up and Vietnamese art became more popular abroad, copies proliferated even more.

Authenticity questions become more relevant considering the recent impressive climbs that Vietnamese art has made on international markets.

In April, Le Pho’s “Family Life” hit record-high hammer price of over $1 million also at Sotheby's Hong Kong. An earlier painting of Pho’s, “View from the Hilltop,” had fetched nearly $850,000 in 2014.

Le Pho's "View From The Hilltop" hammered at $850,000 in a sale of Christie's Hong Kong in November 2014.


Christie’s Hong Kong in May sold “La Moyenne Région” by Hoang Tich Chu and Nguyen Tien Chung at closely $600,000, the second highest of the day. Sotheby’s New York in June also saw Vu Cao Dam’s “Joueuse de Lune” hammered at $94,000, the fifth highest of the sale.

But just last year, in an exhibition at the Museum of Fine Arts in Ho Chi Minh City that honored seventeen pieces of four Vietnamese legends, at least fifteen were alleged to be forgeries.

Painter Thanh Chuong made headlines after claiming that one of the paintings was his. It was displayed as a work of his contemporary, Ta Ty.

The owner of the collections told VnExpress that he placed his full trust in Jean-François Hubert from Christie’s.

Days later, the HCMC Museum of Fine Arts had to form an evaluation panel, which then decided to close the exhibition and officially apologized to the public.

Tran Khanh Chuong said his association, museums and art experts could make their voices heard in national cases such as this, but it’s an uphill battle overseas.

“The question is, who will have the money to re-evaluate the artwork?” Chuong said, ending an apparent rhetoric question with a chuckle.
VnExpress.net - June 13, 2017


Vietnamese Art Has Never Been More Popular. But the Market Is Full of Fakes - By Richard C. Paddock, Aug. 11, 2017, The New York Times.

Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

QUANG THI


TTO - Một thông tin bất ngờ: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức tranh The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo (trái) và bức tranh có chữ ký của họa sĩ Tô Ngọc Vân trên sàn đấu giá Chrisite's Hong Kong ngày 28-5 - Ảnh: Artble, Christie’s



Sự kiện một số tranh Việt được bán giá cao tại các sàn đấu giá quốc tế gần đây được người trong giới đánh giá là chưa mừng đã lo.

Bởi nhà nghiên cứu Phạm Long vừa đưa ra phát hiện “động trời”: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức sơn dầu Mơ về một ngày mai (Dream of the following day, giá khởi điểm: 9.026-11.025 USD, giá bán 350.000 USD) được giới thiệu là của Tô Ngọc Vân có thể thấy là bức chép của tác phẩm The Young Beggar (Trẻ ăn mày) của họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17 Bartolome Esteban Murillo.

Thế nhưng, website của nhà đấu giá Christie’s dẫn bài giới thiệu của “chuyên viên mỹ thuật Việt Nam” Jean François Hubert rằng:
"Với xu hướng hiện thực và chủ nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, bức tranh Mơ về một ngày mai khác nào là một bản tóm tắt những suy tư của Tô Ngọc Vân: rồi sẽ có đổi thay và hi vọng.

Nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Pháp Claude Mahoudeau sớm nhận ra phẩm chất của các tác phẩm của Tô Ngọc Vân và đã mua lại bức tranh đầy cảm xúc và rung động này trực tiếp từ họa sĩ”.
Ông Jean François Hubert cũng là người đã bán cho ông Vũ Xuân Chung 17 bức tranh của các danh họa Việt Nam bị phát hiện hầu hết là tranh giả khi triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Nhà nghiên cứu Phạm Long băn khoăn: nếu đó là tranh do Tô Ngọc Vân chép, theo nguyên tắc họa sĩ Tô Ngọc Vân không được ký tên. Nhưng chữ ký đó có thật không?

Sự kiện này làm nhớ lại bức tranh do họa sĩ Thành Chương vẽ, nhưng bị xóa tên Thành Chương để ký đè lên là tranh của... Tạ Tỵ!

Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Long lo lắng:
“Sự kiện tranh Lê Phổ đạt giá 1,1 triệu USD được cảnh báo sẽ báo hiệu cho cao trào mới về chế tác và buôn bán tranh giả của các họa sĩ mỹ thuật Đông Dương, mà trường hợp tranh Tô Ngọc Vân này chỉ là phát pháo mở màn!”.

Câu chuyện tranh giả của các họa sĩ thời mỹ thuật Đông Dương trên các sàn đấu giá quốc tế không mới.

Từng có tranh của các họa sĩ như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái... - những danh họa bậc thầy, những người đặt nền móng cho mỹ thuật Việt Nam - xuất hiện trên các sàn đấu giá quốc tế với giá bán cao bị cho là tranh giả, bị phanh phui và khiếu nại ầm ĩ.

Nhưng đáng tiếc hơn nữa là sau họ, không có nhiều các họa sĩ đương đại Việt Nam được biết tới.

Có thể nói, tranh Việt ở sàn đấu giá quốc tế đạt giá triệu đô không có gì quá mừng. Bởi trong nước có những bức tranh của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng... có giá hơn cả triệu đô.

Những tác phẩm này được chủ sở hữu xem như báu vật, không đem trao đổi mà chỉ truyền trong giới.

Sự đẩy giá tranh Việt ở sàn quốc tế có ý nghĩa tích cực, nhưng bị ảnh hưởng và “mặc cả” cơ hội với những đường dây làm tranh giả hết sức tinh vi, được xem là nguyên nhân làm mất uy tín nền mỹ thuật Việt Nam.

Trong khi công cuộc giới thiệu nền mỹ thuật Việt Nam đương đại ra thế giới không liền mạch, bị đứt gãy.

Từ trước đến nay từng có tranh của Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Xuân Hòa, Đỗ Quang Em... xuất hiện trên sàn đấu giá, nhưng những tên tuổi này chưa đứng được trên sàn quốc tế.

Không ồn ã như sàn đấu giá, gần đây thị trường mỹ thuật có những giao dịch tranh lên đến hàng tỉ đồng.

Điều này cho thấy thị trường tranh Việt đang ấm lên, có những kênh đang đầu tư vào mỹ thuật. Những chuyển động này mới là điều mỹ thuật Việt Nam đang cần.

Bởi kinh nghiệm từ mỹ thuật nước bạn cho thấy một khi trong nước biết quý, đánh giá đúng tài năng và vị thế của họa sĩ thì giá tranh trên trường quốc tế mới tăng theo.

The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo

Họa sĩ Nguyễn Lâm chia sẻ một câu chuyện:

“Gần đây có những người ở sàn đấu giá Singapore, Hong Kong đến đặt hàng tôi và đồng nghiệp vẽ những bức tranh theo môtip thiếu nữ, hoa sen... mềm mại, thướt tha kiểu của các họa sĩ thời kỳ mỹ thuật Đông Dương.

Tôi hỏi họ sao không đặt hàng những bức tranh hiện đại hơn, chúng tôi không thể vẽ mãi theo cách cũ. Nhưng họ cười lắc đầu trả lời: Ông không hiểu. Nước ngoài nhiều người biết về tranh Việt Nam chỉ đến giai đoạn này thôi!”.


QUANG THI
Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 06/06/2017 11:00




CHRISTIE'S


SALE 13268

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Hong Kong|28 May 2017
LOT 428
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
Price realised
HKD 350,000

Estimate
HKD 70,000 - HKD 90,000

TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
signed 'To Ngoc Van' (lower right)
oil on canvas
47.5 x 40 cm. (18 3/4 x 15 3/4 in.)
Painted circa 1940

Provenance

Acquired directly from the artist by Claude Mahoudeau, Hanoi, 1943
Private collection, Paris, France



Gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân phản ứng về vụ mạo danh

VOV TV Online
Xuất bản 10 thg 6, 2017
Vụ việc Họa sĩ Tô Ngọc Vân bị mạo danh trong một bức tranh chép tại phiên đấu giá của sàn Christie’s Hong Kong vừa qua, đã làm cho các nhà chuyên môn, giới yêu nghệ thuật và gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân bức xúc.







Forgery claims throw dark shadow over the global rise of Vietnamese art

By Trang Bui June 13, 2017

A tale of two paintings: Days after a $45,000 piece was sold at Christie's, the celebratory mood ended abruptly.
(L) The Young Beggar by Bartolomé Esteban Murillo.
(R) Le Songe du Lendemain by To Ngoc Van.


It could have been another uncontested victory for Vietnamese art.

The day was May 28, 2017. An auction at Christie’s Hong Kong valued a piece named “Le Songe du Lendemain” (Dream of the Following Day) at over $45,000. It’s billed as a masterwork by the renowned 20th-century artist To Ngoc Van.

The event appeared to herald a new era for modern Vietnamese artworks in the international market. It seemed to be the time for cheers.

But only a week later, art scholars and painters quickly raised their concerns on local media, alleging that the painting in question could be a forgery of “The Young Beggar” by Spanish painter Bartolomé Esteban Murillo.

Many were also angry that the piece had been tied to To Ngoc Van (1906-1954), a Vietnamese master.

Van, an early talent in oil painting, was among the brightest graduates of the Indochina College of Fine Arts in the 1930s. He was a recipient of the Ho Chi Minh Prize, a teacher at fine arts colleges in Hanoi and Phnom Penh.

But most importantly, he’s a pride of Vietnamese art.

Luong Xuan Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, did not hide his displeasure in a phone conversation: “It’s certainly a fake. The painting looks coarse and clumsy; there’s no way it could be To Ngoc Van’s work.”

Other Vietnamese experts believe To Ngoc Van did not paint the art and that the artist wouldn’t have signed his name if he had actually copied Murillo’s.

A descendant of the artist was also cautious. He said he had asked several members in the family and none could confirm whether the painting is Van’s.

Responding to the allegations, Lavina Chan, Senior Vice-President of Christie’s Asia, affirmed the auction house’s due diligence on the painting’s provenance.

“There is no basis on which to call into question its authenticity,” Chan wrote in an email to VnExpress International.

Christie’s sale catalog, written by Jean-François Hubert, senior consultant and expert in Vietnamese art, states that “Le Songe du Lendemain” was first acquired directly from the Vietnamese artist by Claude Mahoudeau, who “recognized early the quality of To Ngoc Van's works.”

The painting has then been passed through two European gentlemen, Chan said.

However, the representative could not look past the resemblance.

“While the artist was indeed influenced by the Spanish artist Murillo, it was not uncommon in that era to follow the footsteps of European old masters,” Chan wrote.

In a follow-up interview, Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, refuted that point.

“It’s unusual.” Doan said. “To Ngoc Van had French and European teachers so he could be influenced in the material and the techniques he used. But the great artist painted with a signature style, so he wouldn’t have forged such amazing works of masters like Murillo.”

“It’s an insult to the artist and heartbreaking news for Vietnamese art,” Doan concluded.

An uphill battle

Tran Khanh Chuong, the president of Vietnam Fine Arts Association, is more reserved. But he too is not optimistic when talking about rampant counterfeits on international markets.

“We can’t confirm forgery until an evaluation center provides clear evidence,” Chuong said. “It also costs a fortune to re-evaluate an artwork, even if the inspectors of the Ministry of Culture, Sports and Tourism could step in.”

In Vietnam, curators and collectors face immense difficulties procuring artwork. The one and only Artwork Evaluation Center, which belongs to the Vietnam Fine Arts Museum, closed a few months after its opening in 2010.

“Not many people cared to bring in their purchases for evaluation,” Chuong said. “They think there’s no point in spotting theirs as fakes, even if they have doubts.”

Meanwhile, the most valuable, sought-after art comes from the elites of Indochina College of Fine Arts, whose works in the 1930s are neither registered nor protected by the Vietnam Copyright Office.

Vietnam has long been known for its legacy of fake arts after two brutal wars. The New York Times ran a piece in 2009 describing the chaos inside the Vietnam Fine Arts Museum, where hundreds of artworks were replaced with copies to protect them from bombings in the 1960s. These days the real ones cannot be found or evaluated easily.

When the economy opened up and Vietnamese art became more popular abroad, copies proliferated even more.

Authenticity questions become more relevant considering the recent impressive climbs that Vietnamese art has made on international markets.

In April, Le Pho’s “Family Life” hit record-high hammer price of over $1 million also at Sotheby's Hong Kong. An earlier painting of Pho’s, “View from the Hilltop,” had fetched nearly $850,000 in 2014.

Le Pho's "View From The Hilltop" hammered at $850,000 in a sale of Christie's Hong Kong in November 2014.


Christie’s Hong Kong in May sold “La Moyenne Région” by Hoang Tich Chu and Nguyen Tien Chung at closely $600,000, the second highest of the day. Sotheby’s New York in June also saw Vu Cao Dam’s “Joueuse de Lune” hammered at $94,000, the fifth highest of the sale.

But just last year, in an exhibition at the Museum of Fine Arts in Ho Chi Minh City that honored seventeen pieces of four Vietnamese legends, at least fifteen were alleged to be forgeries.

Painter Thanh Chuong made headlines after claiming that one of the paintings was his. It was displayed as a work of his contemporary, Ta Ty.

The owner of the collections told VnExpress that he placed his full trust in Jean-François Hubert from Christie’s.

Days later, the HCMC Museum of Fine Arts had to form an evaluation panel, which then decided to close the exhibition and officially apologized to the public.

Tran Khanh Chuong said his association, museums and art experts could make their voices heard in national cases such as this, but it’s an uphill battle overseas.

“The question is, who will have the money to re-evaluate the artwork?” Chuong said, ending an apparent rhetoric question with a chuckle.
VnExpress.net - June 13, 2017


Vietnamese Art Has Never Been More Popular. But the Market Is Full of Fakes - By Richard C. Paddock, Aug. 11, 2017, The New York Times.

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Ngọc Điệp (Tổng hợp)


Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được các họa sĩ truyền tải vô cùng duyên dáng với nhiều sắc thái khác nhau.

Thiếu nữ bên Hoa huệ


Thiếu nữ bên Hoa huệ là một tác phẩm tranh sơn dầu do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1908 - 1954), đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam.

Thiếu nữ bên Hoa huệ mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng đầu dịu dàng bên lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân và cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mĩ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Điều đặc biệt trong bức tranh là mặc dù có tên là Thiếu nữ bên Hoa huệ, nhưng bông hoa trong tranh lại là hoa loa kèn. Tuy nhiên ít người biết rằng hoa loa kèn còn có tên là hoa huệ tây, chứ không phải loại hoa huệ nhỏ dân ta hay sử dụng. Loài hoa này đối với các tín đồ Cơ đốc giáo là biểu tượng của sự trinh trắng, đức hạnh.


Bức tranh Thiếu nữ bên Hoa huệ.


Số phận của bức tranh này đã trải qua muôn vàn gian truân. Sau khi quân đội Pháp quay lại chiếm Hà Nội, Thiếu nữ bên Hoa huệ được bán cho nhà sưu tập tranh nổi tiếng Đức Minh. Sau khi ông Đức Minh qua đời, tác phẩm này được các con của ông bán cho một người sưu tầm tên là Hà Thúc Cần với giá 15.000 USD. Theo lời con trai của họa sĩ Tô Ngọc Vân thì sau khi mua được Thiếu nữ bên Hoa huệ, ông Cần đã bán lại tác phẩm nổi tiếng ra nước ngoài, bấp chấp quy định cấm của Việt Nam. Một phiên bản chép lại của bức tranh từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhưng từ sau năm 1990 phiên bản này đã được gỡ bỏ.


Em Thúy


Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Họa sĩ Trần Văn Cẩn là một trong những đại diện hàng đầu của Hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937.

Em Thúy là bức tranh mà họa sĩ Trần Văn Cẩn dành tặng cháu gái ông, bà Minh Thúy sinh năm 1935. Tác phẩm là bức chân dung bé gái 8 tuổi ngồi trên ghế mây, hai tay đặt trên đùi và mặc váy trắng đơn giản. Nét ngây thơ qua đôi mắt to tròn, trong sáng của cháu gái đã được họa sĩ khắc họa thành công. Tính đến nay đã gần một thế kỷ, nhưng Em Thúy vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm lớn nhất của Việt Nam. Năm 2013, Em Thúy chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia Việt Nam.


Bức tranh Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn.


Cũng giống như Thiếu nữ bên Hoa huệ, Em Thúy cũng lưu lạc trong chiến tranh. Sau khi quân Pháp quay lại chiếm Hà Nội, gia đình bà Minh Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi họ quay về thì bức tranh đã bị lấy trộm và gia đình phải bỏ tiền ra chuộc lại từ một người buôn tranh. Ông này trước đó tìm thấy Em Thúy tại nhà một người thợ cạo. Cuối cùng Em Thúy được họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng lại cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Hai thiếu nữ và em bé


Là một trong những bức tranh đẹp nhất của họa sĩ Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé đã chính thức trở thành Bảo vật quốc gia trong đợt công nhận lần 2 vừa qua của Thủ tướng Chính Phủ.

Hai thiếu nữ và em bé là tác phẩm được danh họa sáng tác năm 1944. Bức tranh miêu tả hình dáng hai chị em ngồi tâm sự trong một ngôi nhà ấm cúng. Người chị với gương mặt độ tuổi trung niên mặc áo vàng, đôi tay e ấp đặt trên đùi, dưới chân là một đứa trẻ đang đùa nghịch. Bên cạnh đứa trẻ là người em mặc áo dài trắng, trẻ trung và xinh đẹp của độ tuổi trăng tròn. Cảnh gia đình xưa tạo cho người xem cảm giác ấm áp, gần gũi.




Đặc biệt trong bức tranh, sự sắp xép khéo léo những gam màu sáng của họa sĩ Tô Ngọc Vân đã tạo nên nhịp điệu cho bức tranh. Bức màn với những bông hoa phù dung tinh khiết tạo nên sự hài hòa hiếm có. Tổng thể, bức tranh có một nét quyến rũ kỳ lạ, khiến khán giả phải công nhận không ai vẽ thiếu nữ đẹp như Tô Ngọc Vân.


Vườn xuân Trung Nam Bắc

Nhắc đến nghệ thuật sơn mài Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Gia Trí - người được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc được Nguyễn Gia Trí thực hiện trong vòng 20 năm, từ 1969 đến 1989.




Tác phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, đi dự hội xuân, chùa chiền. Giai đoạn sáng tác bức tranh, đất nước đang chìm tranh khói lửa chiến tranh. Có thể nói, Vườn xuân Trung Nam Bắc là lời nguyện cầu độc lập, hạnh phúc quê hương của Nguyễn Gia Trí. Đồng thời, tác phẩm cũng là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật nhất, có kích thước lớn nhất và là tác phẩm sáng tác cuối cùng của cuộc đời họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1996, bức tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc đã được UBND Tp.HCM mua lại với mức giá 600 triệu đồng, tương đương khoảng 100.000 USD ở thời điểm đó. Ngay sau đó, một người đã ngỏ ý mua lại bức tranh với giá lên tới 1 triệu USD. Hiện giờ, bức tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng mỹ thuật Tp.HCM.


Ngọc Điệp (Tổng hợp)
Nguồn: SAO360 - Thứ năm ngày 7 tháng 3 năm 2018

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Ngọc Điệp (Tổng hợp)


Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được các họa sĩ truyền tải vô cùng duyên dáng với nhiều sắc thái khác nhau.

Thiếu nữ bên Hoa huệ


Thiếu nữ bên Hoa huệ là một tác phẩm tranh sơn dầu do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1908 - 1954), đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam.

Thiếu nữ bên Hoa huệ mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng đầu dịu dàng bên lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân và cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mĩ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Điều đặc biệt trong bức tranh là mặc dù có tên là Thiếu nữ bên Hoa huệ, nhưng bông hoa trong tranh lại là hoa loa kèn. Tuy nhiên ít người biết rằng hoa loa kèn còn có tên là hoa huệ tây, chứ không phải loại hoa huệ nhỏ dân ta hay sử dụng. Loài hoa này đối với các tín đồ Cơ đốc giáo là biểu tượng của sự trinh trắng, đức hạnh.


Bức tranh Thiếu nữ bên Hoa huệ.


Số phận của bức tranh này đã trải qua muôn vàn gian truân. Sau khi quân đội Pháp quay lại chiếm Hà Nội, Thiếu nữ bên Hoa huệ được bán cho nhà sưu tập tranh nổi tiếng Đức Minh. Sau khi ông Đức Minh qua đời, tác phẩm này được các con của ông bán cho một người sưu tầm tên là Hà Thúc Cần với giá 15.000 USD. Theo lời con trai của họa sĩ Tô Ngọc Vân thì sau khi mua được Thiếu nữ bên Hoa huệ, ông Cần đã bán lại tác phẩm nổi tiếng ra nước ngoài, bấp chấp quy định cấm của Việt Nam. Một phiên bản chép lại của bức tranh từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhưng từ sau năm 1990 phiên bản này đã được gỡ bỏ.


Em Thúy


Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Họa sĩ Trần Văn Cẩn là một trong những đại diện hàng đầu của Hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937.

Em Thúy là bức tranh mà họa sĩ Trần Văn Cẩn dành tặng cháu gái ông, bà Minh Thúy sinh năm 1935. Tác phẩm là bức chân dung bé gái 8 tuổi ngồi trên ghế mây, hai tay đặt trên đùi và mặc váy trắng đơn giản. Nét ngây thơ qua đôi mắt to tròn, trong sáng của cháu gái đã được họa sĩ khắc họa thành công. Tính đến nay đã gần một thế kỷ, nhưng Em Thúy vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm lớn nhất của Việt Nam. Năm 2013, Em Thúy chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia Việt Nam.


Bức tranh Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn.


Cũng giống như Thiếu nữ bên Hoa huệ, Em Thúy cũng lưu lạc trong chiến tranh. Sau khi quân Pháp quay lại chiếm Hà Nội, gia đình bà Minh Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi họ quay về thì bức tranh đã bị lấy trộm và gia đình phải bỏ tiền ra chuộc lại từ một người buôn tranh. Ông này trước đó tìm thấy Em Thúy tại nhà một người thợ cạo. Cuối cùng Em Thúy được họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng lại cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Hai thiếu nữ và em bé


Là một trong những bức tranh đẹp nhất của họa sĩ Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé đã chính thức trở thành Bảo vật quốc gia trong đợt công nhận lần 2 vừa qua của Thủ tướng Chính Phủ.

Hai thiếu nữ và em bé là tác phẩm được danh họa sáng tác năm 1944. Bức tranh miêu tả hình dáng hai chị em ngồi tâm sự trong một ngôi nhà ấm cúng. Người chị với gương mặt độ tuổi trung niên mặc áo vàng, đôi tay e ấp đặt trên đùi, dưới chân là một đứa trẻ đang đùa nghịch. Bên cạnh đứa trẻ là người em mặc áo dài trắng, trẻ trung và xinh đẹp của độ tuổi trăng tròn. Cảnh gia đình xưa tạo cho người xem cảm giác ấm áp, gần gũi.




Đặc biệt trong bức tranh, sự sắp xép khéo léo những gam màu sáng của họa sĩ Tô Ngọc Vân đã tạo nên nhịp điệu cho bức tranh. Bức màn với những bông hoa phù dung tinh khiết tạo nên sự hài hòa hiếm có. Tổng thể, bức tranh có một nét quyến rũ kỳ lạ, khiến khán giả phải công nhận không ai vẽ thiếu nữ đẹp như Tô Ngọc Vân.


Vườn xuân Trung Nam Bắc

Nhắc đến nghệ thuật sơn mài Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Gia Trí - người được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc được Nguyễn Gia Trí thực hiện trong vòng 20 năm, từ 1969 đến 1989.




Tác phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, đi dự hội xuân, chùa chiền. Giai đoạn sáng tác bức tranh, đất nước đang chìm tranh khói lửa chiến tranh. Có thể nói, Vườn xuân Trung Nam Bắc là lời nguyện cầu độc lập, hạnh phúc quê hương của Nguyễn Gia Trí. Đồng thời, tác phẩm cũng là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật nhất, có kích thước lớn nhất và là tác phẩm sáng tác cuối cùng của cuộc đời họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1996, bức tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc đã được UBND Tp.HCM mua lại với mức giá 600 triệu đồng, tương đương khoảng 100.000 USD ở thời điểm đó. Ngay sau đó, một người đã ngỏ ý mua lại bức tranh với giá lên tới 1 triệu USD. Hiện giờ, bức tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng mỹ thuật Tp.HCM.


Ngọc Điệp (Tổng hợp)
Nguồn: SAO360 - Thứ năm ngày 7 tháng 3 năm 2018

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại - Trịnh Chu

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Trịnh Chu



Xã hội cổ truyền Việt Nam đắm mình trong giáo lý Nho, Phật, Lão nên vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ chưa bao giờ được xem trọng, nếu không muốn nói đó là một cấm kị, đừng đụng vào mà bị coi khinh. Một ngày kia cơn gió mạnh Tây phương ồ ạt thổi đến cuốn phăng bao định kiến đang có nguy cơ phá sản của những não trạng không bình thường. Và lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, tầng lớp tiểu tư sản thành thị xuất hiện, đấy chính là nhân tố mới đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong giai tầng xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi. Lẽ dĩ nhiên những hệ luỵ là điều khó tránh khỏi, như mâu thuẫn giữa các ý thức hệ, cái cũ - cái mới, bản sắc - ngoại lai… Là mẫu nghệ sĩ hoàn hảo cả trong cách nghĩ lẫn cách biểu đạt, Tô Ngọc Vân đã bắt được cái đẹp phát xuất từ ngọn gió phương xa nơi phong thái người thiếu nữ thị thành với những đường cong uốn lượn, những hình thể chói loà sắc màu, sáng tạo nên những bức tranh lộng lẫy, tươi mát, giàu sức biểu hiện nhờ một nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi, bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đã ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân nguồn cội, lại vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân mới.

Nhập học khoá II (1926-1931) - Khoa sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vốn bản tính năng động, truy cầu hiểu biết cùng nỗi hoài vọng lớn lao muốn cách tân nền nghệ thuật nước nhà trên tinh thần dân tộc, bản quán, Tô Ngọc Vân đã vẽ bằng tất cả lòng đam mê, sự nhiệt thành hồ hởi của một tâm hồn khát khao cái hiện đại tân kỳ nơi những hình sắc nồng nàn, mê đắm. Ông nhạy cảm, tế nhị với những khối tròn đầy, những đường cong của người thiếu nữ. Tất nhiên đấy không phải chỉ đơn thuần là một thái độ chuộng lạ mà còn là sự đồng điệu giữa tâm hồn nghệ sĩ với hình tượng đẫm tính tạo hình nơi những vóc dáng hoàng cung. Tô Ngọc Vân đã tiếp thu một cách sáng tạo nền hội họa hàn lâm Pháp – cấu trúc, bố cục, phép viễn cận, màu sắc, đường nét khoa học… - nhưng vẫn không quên tìm về nguồn mạch giống nòi với mảng khối lớn, có nhịp điệu, tả thần là chính, thậm chí còn có phần tâm linh, tỉ lệ theo cảm giác… của mỹ thuật truyền thống Đông phương qua việc học tập, mày mò, nghiên cứu tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, bích hoạ Nhật Bản, thủy mặc Trung Hoa… và đã không ít hồn xưa Á Đông đổ bóng xuống tác phẩm của Tô Ngọc Vân. Do vậy, nếu bảo hội hoạ Tô Ngọc Vân là sự tương hợp kỳ diệu giữa hai phương trời vời vợi Đông - Tây cũng không có gì là thái quá: Cảm xúc và tưởng tượng mạnh mẽ được biểu đạt bằng một kỹ thuật độc đáo, hữu hiệu.

Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạch những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.

Năm 1935, trong cuộc triển lãm do SADEAI (Hội Chấn hưng Mỹ thuật & Kỹ nghệ) tổ chức, Tô Ngọc Vân tham gia một số tác phẩm về phong cảnh cố đô Huế, như: Lăng Tự Đức, Thuyền trên sông Hương, Bức thư…báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935, ca ngợi:
“Bao nhiêu là ánh sáng linh động trong tranh phong cảnh của Tô Ngọc Vân. Bức hoạ Lăng Tự Đức của ông Vân thật là khéo léo, cái lặng lẽ của một ngôi mộ, những bức tường có rêu bao phủ, những bóng cây râm mát, tất cả cái đó đều tỏ ra một cách vừa rõ rệt, vừa kín đáo làm người ta nghĩ đến một cảnh Huế êm đềm. Bức thư – Đó là một cảnh yên lặng trang nhã, êm đềm và mát mẻ lắm, cái nền hoa mai nở làm cho bức họa thêm xuân, xuân vì cái màu trắng non của hoa điểm trong cái màu mờ nhạt của bức họa”.
Cũng năm này, Tô Ngọc Vân được bổ nhiệm đi dạy học ở Trường trung học Sisovath ở thủ đô Phnompenh của Campuchia. Đến năm 1939, ông trở lại Hà Nội nhận chức giáo sư hình hoạ và dạy học luôn ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ở cương vị mới này Tô Ngọc Vân vẫn tỏ ra xuất chúng. Ông hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo. Và một đội ngũ họa sĩ kế cận thực tâm, thực tài đã xuất hiện dưới bàn tay đào luyện của ông như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Diệp Minh Châu, Dương Bích Liên, Huỳnh Văn Gấm… mà tên tuổi của họ sẽ còn vọng dội mãi vào lịch sử nền mỹ thuật Việt Nam với tư cách là những đại diện ưu tú.

Năm 1944, Tô Ngọc Vân làm ngây ngất công chúng thủ đô bằng những bức tranh về thiếu nữ: Thiếu nữ bên hoa huệ, Thiếu nữ bên hoa sen, Hai thiếu nữ và em bé đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu Tô Ngọc Vân: Nghệ thuật vững vàng về hình khối, màu sắc đẹp, hài hoà, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với những họa phẩm ấy, Tô Ngọc Vân đã làm một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ông trở thành một trong những trụ cột vững chãi làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại phát triển. Thiếu nữ bên hoa huệ - sơn dầu, vừa được quan sát tinh tường, khoa học, lại được buông thả xa vời trong tưởng tượng đã ám ảnh nhân gian bằng cái nhung, cái tuyết của người thiếu nữ trong chiếc áo dài trắng thuỷ tinh, đẹp thanh thoát và dịu dàng. Với lối nhìn, khối ánh sáng rất hiện đại, có phần chịu ảnh hưởng trường phái Paris nhưng về chiều sâu vẫn kế thừa đậm nét cốt cách dân tộc, cái yêu kiều, cái phong nhã, một cái gì thuần tuý Việt Nam: Trong trắng, kiều diễm và thông mình. Ta bỗng nhận ra cái chùng chình lơ lửng, cái thư thái mà u uẩn, cái háo hức mà cô đơn, cái giản dị mà cao khiết, cái gần gũi mà xa vời… nơi hình tượng người thiếu nữ trước hoa. Bằng lăng kính photo cup, Tô Ngọc Vân đã giúp ta phát hiện ra cái nhan sắc ẩn diệu, cái chớp sáng phiêu linh mà các thế hệ họa sĩ trước Tô Ngọc Vân không có.

Hai thiếu nữ và em bé lại cho ta cái cảm giác mộng sầu êm ái để từ trong thẳm xa ẩn ức bật ra lời thơ “Người em sầu mộng của muôn đời” mà thi sĩ cõi mộng Lưu Trọng Lư đã viết trong bài Một mùa đông đầy tính nhạc:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vương víu nợ thi nhân?

Với Hai thiếu nữ và em bé, Tô Ngọc Vân đã xoá nhòa ranh giới giữa họa và thơ, là dịp để con tim yêu thương lên tiếng, đồng vọng tỏa lan.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tô Ngọc Vân lãnh trọng trách chèo chống con thuyền mỹ thuật Việt Nam tiến lên phía trước. Trong buổi đầu gây dựng cơ sở với biết bao khó khăn, thách thức nhưng bằng lòng đam mê, sự nhiệt thành năng động của một nhà tổ chức kiến tạo có tài và nhân cách, dám cháy hết mình cho nghệ thuật, cho dân tộc, mọi chuyện đã dần dần đi vào ổn định. Năm 1946, ông cùng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nữ điêu khắc Nguyễn Thị Kim được phép vào Phủ Chủ tịch vẽ Bác Hồ, để rồi năm 1951, bức khắc gỗ Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ ra đời, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường nghệ thuật của Tô Ngọc Vân. Thay vì hình sắc lộng lẫy, óng chuốt ngày nào, giờ hình sắc Tô Ngọc Vân đã đổi mới: Những nét khắc gỗ chắc, khỏe, mộc mạc khiến Bác Hồ hiện lên không chỉ bằng ngoại hình mà cả tính cách của Người.

Ta lại bắt gặp người nghệ sĩ nhanh nhẹn, vui tính Tô Ngọc Vân sát cánh cùng anh em văn nghệ trên những nẻo đường Việt Bắc. Sống gắn bó, trải lòng giữa nhân quần rộng lớn, đem tài năng, kinh nghệm góp phần phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc. Những bài giảng của Tô Ngọc Vân trong khóa Mỹ thuật kháng chiến là những bài học nhập môn có chất lượng rất cao, và mang một ý nghĩa khai mở lớn. Bên cạnh đó là hàng tập ký họa tươi ánh về những con người bình dị, chất phác đã hòa quyện trong xúc cảm của một tâm hồn trong sáng, đôn hậu: Bủ Đường bế con đi học, Hành quân qua suối, Nghỉ giữa rừng, Hành quân qua đèo… Mặc dù mới chỉ là tranh ký họa nhưng rất có giá trị về mặt nghệ thuật: Đường nét linh động, chắc nịch, tiết tấu rộn ràng, thần thái các nhân vật được thâu tóm, diễn đạt theo lối dân gian cách điệu mà vẫn đẫm chất tài hoa, mẫu mực Tô Ngọc Vân. Không những thế, Tô Ngọc Vân còn là người đặt nền móng cho ngành lý luận phê bình mỹ thuật ở nước ta. Hãy nghe ông luận giải về chất liệu mới sơn mài – một chất liệu hoàn toàn do người Việt Nam sáng tạo nên – trong bài thuyết trình trước Hội nghị văn hoá toàn quốc, diễn ra vào ngày 19 tháng 7 năm 1948:
“… Sơn ta có sắc phẩm, có phẩm chất đủ năng lực để làm tan các mâu thuẫn giữa hình, sắc, chất, mâu thuẫn đã có từ non một thế kỷ. Sơn mài, một ngành hội họa mới do tay người Việt Nam dựng lên, sẽ đem lại cho thế giới hội họa hình, sắc, chất đang mong đợi và sự điều hòa những khuynh hướng trái ngược nhau…”.
Tuy cách đánh giá có phần thái quá nhưng không ai không nhận ra đằng sau những lời hồ hởi chân thành ấy một tình yêu bao la đối với tiền đồ nghệ thuật dân tộc mà cả đời ông mong mỏi khôn nguôi, muốn đạt đến địa vị trọng yếu trên mặt bằng chung mỹ thuật thế giới.

Tô Ngọc Vân bám sát hiện thực, có ý thức phục vụ thời cuộc, nhưng không vì thế mà hạ thấp tiêu chí thẩm mỹ, như quan điểm đã bộc lộ trong bài viết: Tranh tuyên truyền và hội hoạ, tranh luận với giáo sư Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân đã nói rất trung thực: Đứng trước đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc, các nghệ sĩ phải dám lăn vào lửa, phải biết làm nghệ thuật cách mạng và làm giỏi, nhưng trong lâu dài, nếu muốn thành một người thực sự sáng tạo thì phải nhìn xa hơn cái sứ mệnh mà mình đã lựa chọn, có thế mới mang lại vẻ vang cho nền nghệ thuật nước nhà.

Có nghệ thuật tuyên truyền nhưng cũng có nghệ thuật theo đuổi cái đẹp. Một họa sĩ chỉ dừng lại ở nghệ thuật tuyên truyền cũng giống như một anh chàng kỵ sĩ an tâm một đời dắt ngựa chứ không chịu nhảy lên ngồi trên lưng ngựa phóng tới phía trước. Từ cách chọn đề tài đến cái tứ gửi gắm ở mỗi bức tranh, cho đến đường nét, màu sắc Tô Ngọc Vân đều hướng tới cái đẹp bền vững, không ăn xổi, nông cạn như một số hoạ sĩ đương thời.

Người nghệ sĩ đầy nhân cách và tài năng hết lòng vì nghệ thuật, vì dân tộc ấy đã ngã xuống trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đấy là một tổn thất lớn của nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng một lẽ khác, cái chết ấy lại là một niềm tự hào của chúng ta: Tô Ngọc Vân chết vì đất nước và cũng chết cho nghệ thuật được sống. Ngày nay tìm đến hội họa Tô Ngọc Vân là tìm đến với vẻ đẹp mới, bình an, tĩnh tại của một tâm thức duy mỹ trong dòng đời sinh hoá mà chính bản thân ông đã sống, trải nghiệm và hiến dâng.



Trịnh Chu
Nguồn: Tạp chí Non nước - Số 165 (Tháng 4/2011)






báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935








Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930





Phác họa của Lê Thị Lựu - 1930

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Trịnh Chu



Xã hội cổ truyền Việt Nam đắm mình trong giáo lý Nho, Phật, Lão nên vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ chưa bao giờ được xem trọng, nếu không muốn nói đó là một cấm kị, đừng đụng vào mà bị coi khinh. Một ngày kia cơn gió mạnh Tây phương ồ ạt thổi đến cuốn phăng bao định kiến đang có nguy cơ phá sản của những não trạng không bình thường. Và lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, tầng lớp tiểu tư sản thành thị xuất hiện, đấy chính là nhân tố mới đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong giai tầng xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi. Lẽ dĩ nhiên những hệ luỵ là điều khó tránh khỏi, như mâu thuẫn giữa các ý thức hệ, cái cũ - cái mới, bản sắc - ngoại lai… Là mẫu nghệ sĩ hoàn hảo cả trong cách nghĩ lẫn cách biểu đạt, Tô Ngọc Vân đã bắt được cái đẹp phát xuất từ ngọn gió phương xa nơi phong thái người thiếu nữ thị thành với những đường cong uốn lượn, những hình thể chói loà sắc màu, sáng tạo nên những bức tranh lộng lẫy, tươi mát, giàu sức biểu hiện nhờ một nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi, bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đã ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân nguồn cội, lại vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân mới.

Nhập học khoá II (1926-1931) - Khoa sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vốn bản tính năng động, truy cầu hiểu biết cùng nỗi hoài vọng lớn lao muốn cách tân nền nghệ thuật nước nhà trên tinh thần dân tộc, bản quán, Tô Ngọc Vân đã vẽ bằng tất cả lòng đam mê, sự nhiệt thành hồ hởi của một tâm hồn khát khao cái hiện đại tân kỳ nơi những hình sắc nồng nàn, mê đắm. Ông nhạy cảm, tế nhị với những khối tròn đầy, những đường cong của người thiếu nữ. Tất nhiên đấy không phải chỉ đơn thuần là một thái độ chuộng lạ mà còn là sự đồng điệu giữa tâm hồn nghệ sĩ với hình tượng đẫm tính tạo hình nơi những vóc dáng hoàng cung. Tô Ngọc Vân đã tiếp thu một cách sáng tạo nền hội họa hàn lâm Pháp – cấu trúc, bố cục, phép viễn cận, màu sắc, đường nét khoa học… - nhưng vẫn không quên tìm về nguồn mạch giống nòi với mảng khối lớn, có nhịp điệu, tả thần là chính, thậm chí còn có phần tâm linh, tỉ lệ theo cảm giác… của mỹ thuật truyền thống Đông phương qua việc học tập, mày mò, nghiên cứu tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, bích hoạ Nhật Bản, thủy mặc Trung Hoa… và đã không ít hồn xưa Á Đông đổ bóng xuống tác phẩm của Tô Ngọc Vân. Do vậy, nếu bảo hội hoạ Tô Ngọc Vân là sự tương hợp kỳ diệu giữa hai phương trời vời vợi Đông - Tây cũng không có gì là thái quá: Cảm xúc và tưởng tượng mạnh mẽ được biểu đạt bằng một kỹ thuật độc đáo, hữu hiệu.

Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạch những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.

Năm 1935, trong cuộc triển lãm do SADEAI (Hội Chấn hưng Mỹ thuật & Kỹ nghệ) tổ chức, Tô Ngọc Vân tham gia một số tác phẩm về phong cảnh cố đô Huế, như: Lăng Tự Đức, Thuyền trên sông Hương, Bức thư…báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935, ca ngợi:
“Bao nhiêu là ánh sáng linh động trong tranh phong cảnh của Tô Ngọc Vân. Bức hoạ Lăng Tự Đức của ông Vân thật là khéo léo, cái lặng lẽ của một ngôi mộ, những bức tường có rêu bao phủ, những bóng cây râm mát, tất cả cái đó đều tỏ ra một cách vừa rõ rệt, vừa kín đáo làm người ta nghĩ đến một cảnh Huế êm đềm. Bức thư – Đó là một cảnh yên lặng trang nhã, êm đềm và mát mẻ lắm, cái nền hoa mai nở làm cho bức họa thêm xuân, xuân vì cái màu trắng non của hoa điểm trong cái màu mờ nhạt của bức họa”.
Cũng năm này, Tô Ngọc Vân được bổ nhiệm đi dạy học ở Trường trung học Sisovath ở thủ đô Phnompenh của Campuchia. Đến năm 1939, ông trở lại Hà Nội nhận chức giáo sư hình hoạ và dạy học luôn ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ở cương vị mới này Tô Ngọc Vân vẫn tỏ ra xuất chúng. Ông hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo. Và một đội ngũ họa sĩ kế cận thực tâm, thực tài đã xuất hiện dưới bàn tay đào luyện của ông như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Diệp Minh Châu, Dương Bích Liên, Huỳnh Văn Gấm… mà tên tuổi của họ sẽ còn vọng dội mãi vào lịch sử nền mỹ thuật Việt Nam với tư cách là những đại diện ưu tú.

Năm 1944, Tô Ngọc Vân làm ngây ngất công chúng thủ đô bằng những bức tranh về thiếu nữ: Thiếu nữ bên hoa huệ, Thiếu nữ bên hoa sen, Hai thiếu nữ và em bé đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu Tô Ngọc Vân: Nghệ thuật vững vàng về hình khối, màu sắc đẹp, hài hoà, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với những họa phẩm ấy, Tô Ngọc Vân đã làm một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ông trở thành một trong những trụ cột vững chãi làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại phát triển. Thiếu nữ bên hoa huệ - sơn dầu, vừa được quan sát tinh tường, khoa học, lại được buông thả xa vời trong tưởng tượng đã ám ảnh nhân gian bằng cái nhung, cái tuyết của người thiếu nữ trong chiếc áo dài trắng thuỷ tinh, đẹp thanh thoát và dịu dàng. Với lối nhìn, khối ánh sáng rất hiện đại, có phần chịu ảnh hưởng trường phái Paris nhưng về chiều sâu vẫn kế thừa đậm nét cốt cách dân tộc, cái yêu kiều, cái phong nhã, một cái gì thuần tuý Việt Nam: Trong trắng, kiều diễm và thông mình. Ta bỗng nhận ra cái chùng chình lơ lửng, cái thư thái mà u uẩn, cái háo hức mà cô đơn, cái giản dị mà cao khiết, cái gần gũi mà xa vời… nơi hình tượng người thiếu nữ trước hoa. Bằng lăng kính photo cup, Tô Ngọc Vân đã giúp ta phát hiện ra cái nhan sắc ẩn diệu, cái chớp sáng phiêu linh mà các thế hệ họa sĩ trước Tô Ngọc Vân không có.

Hai thiếu nữ và em bé lại cho ta cái cảm giác mộng sầu êm ái để từ trong thẳm xa ẩn ức bật ra lời thơ “Người em sầu mộng của muôn đời” mà thi sĩ cõi mộng Lưu Trọng Lư đã viết trong bài Một mùa đông đầy tính nhạc:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vương víu nợ thi nhân?

Với Hai thiếu nữ và em bé, Tô Ngọc Vân đã xoá nhòa ranh giới giữa họa và thơ, là dịp để con tim yêu thương lên tiếng, đồng vọng tỏa lan.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tô Ngọc Vân lãnh trọng trách chèo chống con thuyền mỹ thuật Việt Nam tiến lên phía trước. Trong buổi đầu gây dựng cơ sở với biết bao khó khăn, thách thức nhưng bằng lòng đam mê, sự nhiệt thành năng động của một nhà tổ chức kiến tạo có tài và nhân cách, dám cháy hết mình cho nghệ thuật, cho dân tộc, mọi chuyện đã dần dần đi vào ổn định. Năm 1946, ông cùng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nữ điêu khắc Nguyễn Thị Kim được phép vào Phủ Chủ tịch vẽ Bác Hồ, để rồi năm 1951, bức khắc gỗ Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ ra đời, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường nghệ thuật của Tô Ngọc Vân. Thay vì hình sắc lộng lẫy, óng chuốt ngày nào, giờ hình sắc Tô Ngọc Vân đã đổi mới: Những nét khắc gỗ chắc, khỏe, mộc mạc khiến Bác Hồ hiện lên không chỉ bằng ngoại hình mà cả tính cách của Người.

Ta lại bắt gặp người nghệ sĩ nhanh nhẹn, vui tính Tô Ngọc Vân sát cánh cùng anh em văn nghệ trên những nẻo đường Việt Bắc. Sống gắn bó, trải lòng giữa nhân quần rộng lớn, đem tài năng, kinh nghệm góp phần phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc. Những bài giảng của Tô Ngọc Vân trong khóa Mỹ thuật kháng chiến là những bài học nhập môn có chất lượng rất cao, và mang một ý nghĩa khai mở lớn. Bên cạnh đó là hàng tập ký họa tươi ánh về những con người bình dị, chất phác đã hòa quyện trong xúc cảm của một tâm hồn trong sáng, đôn hậu: Bủ Đường bế con đi học, Hành quân qua suối, Nghỉ giữa rừng, Hành quân qua đèo… Mặc dù mới chỉ là tranh ký họa nhưng rất có giá trị về mặt nghệ thuật: Đường nét linh động, chắc nịch, tiết tấu rộn ràng, thần thái các nhân vật được thâu tóm, diễn đạt theo lối dân gian cách điệu mà vẫn đẫm chất tài hoa, mẫu mực Tô Ngọc Vân. Không những thế, Tô Ngọc Vân còn là người đặt nền móng cho ngành lý luận phê bình mỹ thuật ở nước ta. Hãy nghe ông luận giải về chất liệu mới sơn mài – một chất liệu hoàn toàn do người Việt Nam sáng tạo nên – trong bài thuyết trình trước Hội nghị văn hoá toàn quốc, diễn ra vào ngày 19 tháng 7 năm 1948:
“… Sơn ta có sắc phẩm, có phẩm chất đủ năng lực để làm tan các mâu thuẫn giữa hình, sắc, chất, mâu thuẫn đã có từ non một thế kỷ. Sơn mài, một ngành hội họa mới do tay người Việt Nam dựng lên, sẽ đem lại cho thế giới hội họa hình, sắc, chất đang mong đợi và sự điều hòa những khuynh hướng trái ngược nhau…”.
Tuy cách đánh giá có phần thái quá nhưng không ai không nhận ra đằng sau những lời hồ hởi chân thành ấy một tình yêu bao la đối với tiền đồ nghệ thuật dân tộc mà cả đời ông mong mỏi khôn nguôi, muốn đạt đến địa vị trọng yếu trên mặt bằng chung mỹ thuật thế giới.

Tô Ngọc Vân bám sát hiện thực, có ý thức phục vụ thời cuộc, nhưng không vì thế mà hạ thấp tiêu chí thẩm mỹ, như quan điểm đã bộc lộ trong bài viết: Tranh tuyên truyền và hội hoạ, tranh luận với giáo sư Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân đã nói rất trung thực: Đứng trước đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc, các nghệ sĩ phải dám lăn vào lửa, phải biết làm nghệ thuật cách mạng và làm giỏi, nhưng trong lâu dài, nếu muốn thành một người thực sự sáng tạo thì phải nhìn xa hơn cái sứ mệnh mà mình đã lựa chọn, có thế mới mang lại vẻ vang cho nền nghệ thuật nước nhà.

Có nghệ thuật tuyên truyền nhưng cũng có nghệ thuật theo đuổi cái đẹp. Một họa sĩ chỉ dừng lại ở nghệ thuật tuyên truyền cũng giống như một anh chàng kỵ sĩ an tâm một đời dắt ngựa chứ không chịu nhảy lên ngồi trên lưng ngựa phóng tới phía trước. Từ cách chọn đề tài đến cái tứ gửi gắm ở mỗi bức tranh, cho đến đường nét, màu sắc Tô Ngọc Vân đều hướng tới cái đẹp bền vững, không ăn xổi, nông cạn như một số hoạ sĩ đương thời.

Người nghệ sĩ đầy nhân cách và tài năng hết lòng vì nghệ thuật, vì dân tộc ấy đã ngã xuống trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đấy là một tổn thất lớn của nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng một lẽ khác, cái chết ấy lại là một niềm tự hào của chúng ta: Tô Ngọc Vân chết vì đất nước và cũng chết cho nghệ thuật được sống. Ngày nay tìm đến hội họa Tô Ngọc Vân là tìm đến với vẻ đẹp mới, bình an, tĩnh tại của một tâm thức duy mỹ trong dòng đời sinh hoá mà chính bản thân ông đã sống, trải nghiệm và hiến dâng.



Trịnh Chu
Nguồn: Tạp chí Non nước - Số 165 (Tháng 4/2011)






báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935








Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930





Phác họa của Lê Thị Lựu - 1930