Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Sự phản ánh lịch sử trong hội họa hiện đại Việt Nam

Sự phản ánh lịch sử trong hội họa hiện đại Việt Nam

Trong: ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VÀ SỰ PHẢN ÁNH LỊCH SỬ TRONG HỘI HỌA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Bùi Thị Thanh Mai

[...]
Ngoài những sáng tác về đề tài lịch sử như đã trình bày ở trên, cũng cần kể đến những sáng tác hội họa không thuộc về đề tài lịch sử song lại có yếu tố “sử” do phản ánh chân thực nhân vật và sự kiện của một giai đoạn. Nếu thời kỳ Mỹ thuật Đông Dương, sáng tác hội họa chủ yếu tập trung miêu tả con người, phong cảnh, sinh hoạt và người nghệ sĩ khi ấy đang say sưa với cái “Đẹp”, khoa học về nghệ thuật tạo hình, khám phá chất liệu, kỹ thuật xử lý các chất liệu tạo hình thì bước sang giai đoạn 1945-1954 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, người nghệ sĩ đã ý thức về tinh thần độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước. Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện một số sáng tác hội họa về những nhân vật, cảnh tượng, sự kiện quan trọng trong giai đoạn này. Nhờ đó, tạo nên giá trị nhất định để giai đoạn sau có thể tham chiếu về mặt hình ảnh về con người, sự kiện…, hay nói cách khác là những tác phẩm hội họa này có yếu tố “sử”, trở thành tư liệu sử bằng hình ảnh do sự phản ánh chân thực về con người, sự kiện của một giai đoạn trong lịch sử dân tộc. Chẳng hạn, Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ nhất với những tác phẩm thể hiện chân thực về con người, cuộc sống Việt Nam đang trong khí thế đấu tranh chống thực dân và ủng hộ cách mạng tuy không phải là sáng tác hội họa về đề tài lịch sử, song đã trở thành những tư liệu quý có giá trị lịch sử về một giai đoạn của lịch sử dân tộc bởi sự phản ánh chân thực về cuộc cách mạng của dân tộc. Những tác phẩm hội họa vẽ về những chiến sĩ tự vệ Hà Nội đội mũ canô vai mang súng, những phố phường đỏ rực cờ Việt Nam,
hay những lớp bình dân học vụ… không phải là tranh về đề tài lịch sử, song ngày nay chúng ta có thể tìm hiểu về đặc điểm trang phục một số nhân vật hoặc sự kiện qua những tác phẩm này như một nguồn tham khảo về hình ảnh thực tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Như trường hợp bức bột màu Bộ đội Nam tiến của Nguyễn Đỗ Cung vẽ năm 1947, cung cấp cho chúng ta những tư liệu hình ảnh về trang phục như mũ ca lô, bao đạn… Hay như tác phẩm Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ của Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1946 vẽ về Bác, vị lãnh tụ đương thời, thuộc thể loại tranh nhân vật vào thời điểm ấy, nhưng ngày nay thì sự kiện Bác làm việc ở Bắc bộ Phủ lại thuộc về lịch sử. Do đấy, cũng như trường hợp bức bột màu Bộ đội Nam tiến vừa kể trên, do tính chất khách quan, chân thực mà tác phẩm trở thành tài liệu sử quan trọng giúp chúng ta biết thêm, cũng như hiểu thêm về con người, công việc và nhân cách của Bác. Trong tranh, Bác Hồ trong dáng vẻ và trang phục giản dị, nghiêm trang, khoan thai mà đĩnh đạc. Để xây dựng được tác phẩm này, Tô Ngọc Vân đã ký họa nghiên cứu dáng ngồi, tư thế Bác khi đang làm việc. Bức tranh sơn dầu tôn trọng sự chân thực các chi tiết trong ghi chép ký họa về Bác nhưng được đặc tả kỹ, sâu, và hoàn thiện. So sánh bản ký họa với tác phẩm sơn dầu sẽ thấy các chi tiết đồ vật như cuốn sách đang mở, chiếc ghế, bàn làm việc, chi tiết trang phục cho đến tư thế của Bác đang chăm chú tập trung làm việc sẽ thấy hầu như không có sự khác biệt. Chính những chi tiết này đã làm cho tác phẩm không chỉ có ý nghĩa giá trị về mặt nghệ thuật tạo hình mà còn cả về mặt lịch sử, trở thành tư liệu quý về Bác Hồ, vị lãnh tụ của dân tộc. Nếu hiểu lịch sử là những gì thuộc về quá khứ thì việc phản ánh lại nhân vật, sự kiện đương thời dường như không thuộc lĩnh vực lịch sử. Thế nhưng, chính những tác phẩm này lại mang giá trị sử liệu quý báu về nhân vật, sự kiện để các giai đoạn sau có thể tra cứu, tham khảo.
Tương tự, các bức ký họa sinh động, chân thực về bộ đội, du kích, nông dân là những tư liệu lịch sử quý bằng hình ảnh về giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, chẳng hạn như: Hai chiến sĩ (1954) Đi học đêm (1954) của Tô Ngọc Vân, Chiến sĩ Điện Biên (1964) của Mai văn Hiến, Du kích tập bắn (1947) của Nguyễn Đỗ Cung, Nhà thờ bị ném bom (1954) của Huỳnh Văn Thuận…. Không chỉ các ký họa, mà nhiều tác phẩm hội họa trong giai đoạn này như Bộ đội thổi sáo dưới nhà sàn, Tiểu đội pháo (sơn mài, 1949) của Nguyễn Tư Nghiêm, Tự vệ Huế sơn dầu của Nguyễn Văn Bình. Bắc Ninh Bắc - Giang tiêu thổ kháng chiến (1948), Đóng thuế nông nghiệp (1951) của Tạ Thúc Bình… do đặc điểm sáng tác nghệ thuật là hiện thực đồng thời gắn bó với thực tiễn lịch sử dân tộc nên có ý nghĩa giá trị về lịch sử và yếu tố “sử”.

[...]

Nguồn: www.academia.edu -

Sự phản ánh lịch sử trong hội họa hiện đại Việt Nam

Trong: ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VÀ SỰ PHẢN ÁNH LỊCH SỬ TRONG HỘI HỌA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Bùi Thị Thanh Mai

[...]
Ngoài những sáng tác về đề tài lịch sử như đã trình bày ở trên, cũng cần kể đến những sáng tác hội họa không thuộc về đề tài lịch sử song lại có yếu tố “sử” do phản ánh chân thực nhân vật và sự kiện của một giai đoạn. Nếu thời kỳ Mỹ thuật Đông Dương, sáng tác hội họa chủ yếu tập trung miêu tả con người, phong cảnh, sinh hoạt và người nghệ sĩ khi ấy đang say sưa với cái “Đẹp”, khoa học về nghệ thuật tạo hình, khám phá chất liệu, kỹ thuật xử lý các chất liệu tạo hình thì bước sang giai đoạn 1945-1954 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, người nghệ sĩ đã ý thức về tinh thần độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước. Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện một số sáng tác hội họa về những nhân vật, cảnh tượng, sự kiện quan trọng trong giai đoạn này. Nhờ đó, tạo nên giá trị nhất định để giai đoạn sau có thể tham chiếu về mặt hình ảnh về con người, sự kiện…, hay nói cách khác là những tác phẩm hội họa này có yếu tố “sử”, trở thành tư liệu sử bằng hình ảnh do sự phản ánh chân thực về con người, sự kiện của một giai đoạn trong lịch sử dân tộc. Chẳng hạn, Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ nhất với những tác phẩm thể hiện chân thực về con người, cuộc sống Việt Nam đang trong khí thế đấu tranh chống thực dân và ủng hộ cách mạng tuy không phải là sáng tác hội họa về đề tài lịch sử, song đã trở thành những tư liệu quý có giá trị lịch sử về một giai đoạn của lịch sử dân tộc bởi sự phản ánh chân thực về cuộc cách mạng của dân tộc. Những tác phẩm hội họa vẽ về những chiến sĩ tự vệ Hà Nội đội mũ canô vai mang súng, những phố phường đỏ rực cờ Việt Nam,
hay những lớp bình dân học vụ… không phải là tranh về đề tài lịch sử, song ngày nay chúng ta có thể tìm hiểu về đặc điểm trang phục một số nhân vật hoặc sự kiện qua những tác phẩm này như một nguồn tham khảo về hình ảnh thực tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Như trường hợp bức bột màu Bộ đội Nam tiến của Nguyễn Đỗ Cung vẽ năm 1947, cung cấp cho chúng ta những tư liệu hình ảnh về trang phục như mũ ca lô, bao đạn… Hay như tác phẩm Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ của Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1946 vẽ về Bác, vị lãnh tụ đương thời, thuộc thể loại tranh nhân vật vào thời điểm ấy, nhưng ngày nay thì sự kiện Bác làm việc ở Bắc bộ Phủ lại thuộc về lịch sử. Do đấy, cũng như trường hợp bức bột màu Bộ đội Nam tiến vừa kể trên, do tính chất khách quan, chân thực mà tác phẩm trở thành tài liệu sử quan trọng giúp chúng ta biết thêm, cũng như hiểu thêm về con người, công việc và nhân cách của Bác. Trong tranh, Bác Hồ trong dáng vẻ và trang phục giản dị, nghiêm trang, khoan thai mà đĩnh đạc. Để xây dựng được tác phẩm này, Tô Ngọc Vân đã ký họa nghiên cứu dáng ngồi, tư thế Bác khi đang làm việc. Bức tranh sơn dầu tôn trọng sự chân thực các chi tiết trong ghi chép ký họa về Bác nhưng được đặc tả kỹ, sâu, và hoàn thiện. So sánh bản ký họa với tác phẩm sơn dầu sẽ thấy các chi tiết đồ vật như cuốn sách đang mở, chiếc ghế, bàn làm việc, chi tiết trang phục cho đến tư thế của Bác đang chăm chú tập trung làm việc sẽ thấy hầu như không có sự khác biệt. Chính những chi tiết này đã làm cho tác phẩm không chỉ có ý nghĩa giá trị về mặt nghệ thuật tạo hình mà còn cả về mặt lịch sử, trở thành tư liệu quý về Bác Hồ, vị lãnh tụ của dân tộc. Nếu hiểu lịch sử là những gì thuộc về quá khứ thì việc phản ánh lại nhân vật, sự kiện đương thời dường như không thuộc lĩnh vực lịch sử. Thế nhưng, chính những tác phẩm này lại mang giá trị sử liệu quý báu về nhân vật, sự kiện để các giai đoạn sau có thể tra cứu, tham khảo.
Tương tự, các bức ký họa sinh động, chân thực về bộ đội, du kích, nông dân là những tư liệu lịch sử quý bằng hình ảnh về giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, chẳng hạn như: Hai chiến sĩ (1954) Đi học đêm (1954) của Tô Ngọc Vân, Chiến sĩ Điện Biên (1964) của Mai văn Hiến, Du kích tập bắn (1947) của Nguyễn Đỗ Cung, Nhà thờ bị ném bom (1954) của Huỳnh Văn Thuận…. Không chỉ các ký họa, mà nhiều tác phẩm hội họa trong giai đoạn này như Bộ đội thổi sáo dưới nhà sàn, Tiểu đội pháo (sơn mài, 1949) của Nguyễn Tư Nghiêm, Tự vệ Huế sơn dầu của Nguyễn Văn Bình. Bắc Ninh Bắc - Giang tiêu thổ kháng chiến (1948), Đóng thuế nông nghiệp (1951) của Tạ Thúc Bình… do đặc điểm sáng tác nghệ thuật là hiện thực đồng thời gắn bó với thực tiễn lịch sử dân tộc nên có ý nghĩa giá trị về lịch sử và yếu tố “sử”.

[...]

Nguồn: www.academia.edu -

Họa sĩ Tô Ngọc Vân - Ngô Trọng Bình

Họa sĩ Tô Ngọc Vân

Ngô Trọng Bình (TTXVN/Vietnam+)

Danh họa Tô Ngọc Vân là một trong “tứ kiệt” của hội họa hàng đầu của mỹ thuật hiện đại Việt Nam: nhất Trí (Nguyễn Gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân), tam Lân (Nguyễn Tường Lân), tứ Cẩn (Trần Văn Cẩn). Tô Ngọc Vân vừa là người mở đường, vừa là người đặt nền móng đầu tiên và góp nhiều công xây dựng tiền đồ vẻ vang của hội họa hiện đại Việt Nam thế kỷ 20. Ông là một nghệ sỹ có nhiều tác phẩm nổi tiếng, một nhà giáo đã có công tổ chức, lãnh đạo Trường Mỹ thuật và giảng dạy cho nhiều thế hệ họa sỹ. Ông là người chiến sỹ xuất sắc trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, là tấm gương sáng của các thế hệ nghệ sỹ tạo hình Việt Nam.
Nền mỹ thuật Việt Nam tự hào có một Tô Ngọc Vân. Ông vinh dự được Bác Hồ và Nhà nước tặng bức trướng với dòng chữ vàng “Một tài năng lớn - Một nhà trí thức yêu nước chân chính”.


Một tài năng mỹ thuật lớn

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906, ở làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên, lớn lên tại phố Hàng Quạt (Hà Nội). Cha ông thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, mẹ ông thuộc dòng nho nghèo ở nông thôn.
Từ năm lên 6 tuổi, do gia đình nghèo, ông phải ở với bà nội và một người cô. Có năng khiếu hội hoạ từ nhỏ, học hết năm thứ ba trường Bưởi (cấp trung học), ông quyết tâm bỏ trường Bưởi để ra ngoài tập vẽ thêm.
Say mê với nghệ thuật, ông thi đỗ vào khóa 2 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Khoa Sơn dầu), và là một trong số ít tài năng được chú ý khi mới nhập môn. Năm 1931, ông thi tốt nghiệp và đỗ thủ khoa của Trường.
Về kỹ thuật vẽ sơn dầu, ông đã đạt đến trình độ bậc thầy. Ngay từ khi còn là sinh viên, ông đã có 3 tác phẩm sơn dầu được trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật đầu tiên ở Sài Gòn tháng 12/1930 và được nhiều người hâm mộ về phong cách diễn tả như: “Ánh mặt trời”, “Bụi chuối ngoài nắng”“Trời dịu”.
Nhiều tác phẩm sơn dầu của ông đến nay vẫn được đánh giá là những kiệt tác của nền mỹ thuật Việt Nam.
Khi cảm thụ tranh của ông, người ta dễ dàng nhận ra âm hưởng của Gauguin (Pháp) trong bức “Lễ vật”, cũng như phảng phất ảnh hưởng của bích họa Ajanta (Ấn Độ) trên bức lụa “Quà cưới” (1932) hay của hội hoạ Nhật Bản ở bức lụa “Hai em bé mục đồng”...
Qua những thể nghiệm đầu tay, những tác phẩm của ông đã sớm lộ ra tính cách của một họa sĩ duy sắc: ưa thích thể chất đẹp, say sưa với ánh sáng, với những phản quang phong phú của màu sắc nồng nàn...
Những nét riêng được trau dồi đã trở thành định hình cơ bản trong phong cách Tô Ngọc Vân vào những năm sau này.
Năm 1931 và 1932, ông gửi tranh tham gia Triển lãm Mỹ thuật tại Paris, Pháp, và được tặng Huy chương Vàng với bức tranh sơn dầu “Bức thư”. Cũng năm 1932, ông được cấp Bằng danh dự Phòng triển lãm họa sĩ Pháp và được bầu là hội viên Hội họa sỹ Pháp.
Từ năm 1935 đến 1939, ông được cử đi dạy họa ở trường Sisowath ở Phnom Penh, Campuchia. Tại đây, ông đã sáng tác nhiều bức tranh với những đặc trưng của con người, phong cảnh của đất nước Chùa Tháp.
Từ năm 1930 đến 1945, ông là giáo sư hội họa Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nhiều học sinh của ông sau này đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.
Vừa giảng dạy, ông vừa sáng tác mà nhiều bức sơn dầu đã trở nên nổi tiếng như “Thiếu nữ bên hoa huệ” (sơn dầu-1943), “Buổi trưa” (sơn dầu-1943), “Thiếu nữ bên hoa sen” (sơn dầu-1944).
Có thể nói, giai đoạn từ 1940 đến 1944 là giai đoạn ông sáng tác nhiều tranh về thiếu nữ (ngoài những tranh trên còn có “Thiếu nữ nằm bên hoa sen”, “Thiếu nữ ngồi”, “Thiếu nữ tựa kỷ”).

Tô Ngọc Vân còn là một trong những hoạ sĩ đã viết nhiều bài báo có những nhận định sắc bén về mỹ thuật có giá trị nhằm phổ cập, quảng bá, hướng dẫn và phê bình về mỹ thuật.
Những bài trong giai đoạn này ông viết với bút danh Ái Mỹ hoặc Tô Tử: “Cái đẹp trong hội họa” (1936), “Nguyễn Gia Trí và sơn ta” (1930), “Phòng triển lãm 1940”, “Phê bình nghệ thuật vẽ sơn của hoạ sỹ Nhật” (1941), “Cái đẹp trong tranh” (1942), “Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn Gia Trí” (1944).


Nghệ sỹ - chiến sỹ trọn đời vì cách mạng

Hoạ sỹ Tô Ngọc Vân không chỉ có tài năng mà còn là một nhân cách nghệ thuật lớn. Với tình yêu cái đẹp, mê say màu sắc và giá trị thẩm mỹ dân tộc, ông đã đến với nghệ thuật cách mạng như một lẽ sống để ông thực hiện ước mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam.
Cách mạng chuyển mình, Tô Ngọc Vân cũng chuyển biến tư tưởng, nhìn thấy con đường đi đúng đắn nhất cho một hoạ sỹ.
Về quá trình lột xác và hóa thân này, Tô Ngọc Vân đã viết: “Sự chuyển hướng nghệ thuật, chúng tôi thấy còn khó khăn, nặng nề như trái núi. Việc không dễ dàng như người ta tưởng, như giở một bàn tay úp thành ngửa hay thay cái nhãn hiệu này thành cái nhãn hiệu kia.”
Sau đó vài năm, ông đã trở thành một Nghệ sỹ Cách mạng, một Nghệ sỹ Nhân dân, đúng theo nghĩa của nó.
Năm 1945, ông được cử làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam trên cơ sở trường bị tàn phá nặng nề. Khoá học đầu tiên được khai giảng ngày 15/11/1945.

Đầu năm 1946, ông được giới thiệu vào Bắc Bộ phủ vẽ tranh và nặn tượng Bác Hồ. Ông đã sáng tác bức tranh sơn dầu “Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ” và đây là bức tranh chân dung sơn dầu đẹp nhất của ông sáng tác về Bác.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), ông cùng nhiều văn nghệ sỹ lên chiến khu Việt Bắc, công tác tại Đội tuyên truyền xung phong, rồi Đội kịch Tháng Tám.

Năm 1948, ông được cử làm trưởng đoàn Văn hoá kháng chiến Việt Bắc. Cuối năm 1949, ông làm Giám đốc xưởng hoạ sơn mài Việt Nam, đồng thời là biên tập viên đầu tiên và là một trong những người sáng lập báo Văn Nghệ.

Năm 1950, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương sau này chuyển thành Trường Mỹ thuật Việt Nam.

25 sinh viên “khoá mỹ thuật kháng chiến” được sự giảng dạy trực tiếp của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tài danh khác đã trở thành những hoạ sỹ tên tuổi của nền mỹ thuật đương đại Việt Nam như: Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Kim Đồng, Phan Kế An, Diệp Minh Châu, Huỳnh Văn Gấm, Lê Thanh Đắc, Mai Văn Hiến, Mai Văn Nam, Quang Phòng, Trần Lưu Hậu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Đào Đức... Đào tạo lớp anh chị em họa sĩ kế cận là một đóng góp lớn lao của ông.

Những năm tháng sống trong lòng dân, cùng vui buồn với những con người chất phác, những chiến sĩ, những người lao động cần mẫn đã đưa lại cho ông cảm hứng sáng tác đề tài mới: “Hà Nội vùng lên” (1948), “Giặc đến giặc đi” (1949), “Nữ y tá” (1949).

Các tác phẩm trong giai đoạn này đã báo hiệu sự chuyển biến bước đầu của ông, đề tài và đối tượng như: tiết tấu năng động, rộn ràng, chiều hướng đi vào khắc họa tính cách nhân vật...

Trong thời gian này, ông làm nhiều việc, khi thì hoá trang trình bày cho một vở sân khấu, khi thì in truyền đơn và ông tranh thủ thời gian ký hoạ cuộc sống con người, cảnh vật của núi rừng Việt Bắc dưới nhiều chất liệu như sơn mài, sơn dầu, màu nước, chì.

Tháng 4/1954, vào lúc chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt nhất, Tô Ngọc Vân đã lên đường ra mặt trận. Ông đã trực tiếp tham gia và ghi lại không khí ác liệt của chiến trường cũng như sinh hoạt thường nhật của bộ đội ta ở Điện Biên qua các tác phẩm như: “Giáo viên dân tộc Thái”, “Cho ngựa ăn”, “Qua đèo”, “Qua suối”, “Trú quân”

Ngày 17/6/1954, ông hy sinh tại Ba Khe, bên kia đèo Lũng Lô lịch sử trong lúc nghệ thuật của ông đang lớn lên mạnh mẽ. Chiếc cặp vẽ mà ông mang theo mình đi chiến dịch có nhiều ký hoạ dọc đường như: “Trú quân”, “Hành quân qua suối”, “Lên đèo”, “Qua đèo Lũng Lô,” “Chuẩn bị lên đường”.

Bức ký họa chì “Đèo Lũng Lô” là bức tranh cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

Với những đóng góp to lớn của ông cho nền mỹ thuật cách mạng hiện đại Việt Nam, toàn bộ tác phẩm của ông được nhà nước trưng thu và lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Năm 1985, một đường phố của Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Tô Ngọc Vân; năm 1995, một đường phố của Hà Nội mang tên Tô Ngọc Vân.

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1 năm 1996) về văn học nghệ thuật./.




Ngô Trọng Bình (TTXVN/Vietnam+)
Nguồn: nslide.com -

Họa sĩ Tô Ngọc Vân

Ngô Trọng Bình (TTXVN/Vietnam+)

Danh họa Tô Ngọc Vân là một trong “tứ kiệt” của hội họa hàng đầu của mỹ thuật hiện đại Việt Nam: nhất Trí (Nguyễn Gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân), tam Lân (Nguyễn Tường Lân), tứ Cẩn (Trần Văn Cẩn). Tô Ngọc Vân vừa là người mở đường, vừa là người đặt nền móng đầu tiên và góp nhiều công xây dựng tiền đồ vẻ vang của hội họa hiện đại Việt Nam thế kỷ 20. Ông là một nghệ sỹ có nhiều tác phẩm nổi tiếng, một nhà giáo đã có công tổ chức, lãnh đạo Trường Mỹ thuật và giảng dạy cho nhiều thế hệ họa sỹ. Ông là người chiến sỹ xuất sắc trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, là tấm gương sáng của các thế hệ nghệ sỹ tạo hình Việt Nam.
Nền mỹ thuật Việt Nam tự hào có một Tô Ngọc Vân. Ông vinh dự được Bác Hồ và Nhà nước tặng bức trướng với dòng chữ vàng “Một tài năng lớn - Một nhà trí thức yêu nước chân chính”.


Một tài năng mỹ thuật lớn

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906, ở làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên, lớn lên tại phố Hàng Quạt (Hà Nội). Cha ông thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, mẹ ông thuộc dòng nho nghèo ở nông thôn.
Từ năm lên 6 tuổi, do gia đình nghèo, ông phải ở với bà nội và một người cô. Có năng khiếu hội hoạ từ nhỏ, học hết năm thứ ba trường Bưởi (cấp trung học), ông quyết tâm bỏ trường Bưởi để ra ngoài tập vẽ thêm.
Say mê với nghệ thuật, ông thi đỗ vào khóa 2 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Khoa Sơn dầu), và là một trong số ít tài năng được chú ý khi mới nhập môn. Năm 1931, ông thi tốt nghiệp và đỗ thủ khoa của Trường.
Về kỹ thuật vẽ sơn dầu, ông đã đạt đến trình độ bậc thầy. Ngay từ khi còn là sinh viên, ông đã có 3 tác phẩm sơn dầu được trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật đầu tiên ở Sài Gòn tháng 12/1930 và được nhiều người hâm mộ về phong cách diễn tả như: “Ánh mặt trời”, “Bụi chuối ngoài nắng”“Trời dịu”.
Nhiều tác phẩm sơn dầu của ông đến nay vẫn được đánh giá là những kiệt tác của nền mỹ thuật Việt Nam.
Khi cảm thụ tranh của ông, người ta dễ dàng nhận ra âm hưởng của Gauguin (Pháp) trong bức “Lễ vật”, cũng như phảng phất ảnh hưởng của bích họa Ajanta (Ấn Độ) trên bức lụa “Quà cưới” (1932) hay của hội hoạ Nhật Bản ở bức lụa “Hai em bé mục đồng”...
Qua những thể nghiệm đầu tay, những tác phẩm của ông đã sớm lộ ra tính cách của một họa sĩ duy sắc: ưa thích thể chất đẹp, say sưa với ánh sáng, với những phản quang phong phú của màu sắc nồng nàn...
Những nét riêng được trau dồi đã trở thành định hình cơ bản trong phong cách Tô Ngọc Vân vào những năm sau này.
Năm 1931 và 1932, ông gửi tranh tham gia Triển lãm Mỹ thuật tại Paris, Pháp, và được tặng Huy chương Vàng với bức tranh sơn dầu “Bức thư”. Cũng năm 1932, ông được cấp Bằng danh dự Phòng triển lãm họa sĩ Pháp và được bầu là hội viên Hội họa sỹ Pháp.
Từ năm 1935 đến 1939, ông được cử đi dạy họa ở trường Sisowath ở Phnom Penh, Campuchia. Tại đây, ông đã sáng tác nhiều bức tranh với những đặc trưng của con người, phong cảnh của đất nước Chùa Tháp.
Từ năm 1930 đến 1945, ông là giáo sư hội họa Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nhiều học sinh của ông sau này đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.
Vừa giảng dạy, ông vừa sáng tác mà nhiều bức sơn dầu đã trở nên nổi tiếng như “Thiếu nữ bên hoa huệ” (sơn dầu-1943), “Buổi trưa” (sơn dầu-1943), “Thiếu nữ bên hoa sen” (sơn dầu-1944).
Có thể nói, giai đoạn từ 1940 đến 1944 là giai đoạn ông sáng tác nhiều tranh về thiếu nữ (ngoài những tranh trên còn có “Thiếu nữ nằm bên hoa sen”, “Thiếu nữ ngồi”, “Thiếu nữ tựa kỷ”).

Tô Ngọc Vân còn là một trong những hoạ sĩ đã viết nhiều bài báo có những nhận định sắc bén về mỹ thuật có giá trị nhằm phổ cập, quảng bá, hướng dẫn và phê bình về mỹ thuật.
Những bài trong giai đoạn này ông viết với bút danh Ái Mỹ hoặc Tô Tử: “Cái đẹp trong hội họa” (1936), “Nguyễn Gia Trí và sơn ta” (1930), “Phòng triển lãm 1940”, “Phê bình nghệ thuật vẽ sơn của hoạ sỹ Nhật” (1941), “Cái đẹp trong tranh” (1942), “Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn Gia Trí” (1944).


Nghệ sỹ - chiến sỹ trọn đời vì cách mạng

Hoạ sỹ Tô Ngọc Vân không chỉ có tài năng mà còn là một nhân cách nghệ thuật lớn. Với tình yêu cái đẹp, mê say màu sắc và giá trị thẩm mỹ dân tộc, ông đã đến với nghệ thuật cách mạng như một lẽ sống để ông thực hiện ước mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam.
Cách mạng chuyển mình, Tô Ngọc Vân cũng chuyển biến tư tưởng, nhìn thấy con đường đi đúng đắn nhất cho một hoạ sỹ.
Về quá trình lột xác và hóa thân này, Tô Ngọc Vân đã viết: “Sự chuyển hướng nghệ thuật, chúng tôi thấy còn khó khăn, nặng nề như trái núi. Việc không dễ dàng như người ta tưởng, như giở một bàn tay úp thành ngửa hay thay cái nhãn hiệu này thành cái nhãn hiệu kia.”
Sau đó vài năm, ông đã trở thành một Nghệ sỹ Cách mạng, một Nghệ sỹ Nhân dân, đúng theo nghĩa của nó.
Năm 1945, ông được cử làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam trên cơ sở trường bị tàn phá nặng nề. Khoá học đầu tiên được khai giảng ngày 15/11/1945.

Đầu năm 1946, ông được giới thiệu vào Bắc Bộ phủ vẽ tranh và nặn tượng Bác Hồ. Ông đã sáng tác bức tranh sơn dầu “Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ” và đây là bức tranh chân dung sơn dầu đẹp nhất của ông sáng tác về Bác.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), ông cùng nhiều văn nghệ sỹ lên chiến khu Việt Bắc, công tác tại Đội tuyên truyền xung phong, rồi Đội kịch Tháng Tám.

Năm 1948, ông được cử làm trưởng đoàn Văn hoá kháng chiến Việt Bắc. Cuối năm 1949, ông làm Giám đốc xưởng hoạ sơn mài Việt Nam, đồng thời là biên tập viên đầu tiên và là một trong những người sáng lập báo Văn Nghệ.

Năm 1950, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương sau này chuyển thành Trường Mỹ thuật Việt Nam.

25 sinh viên “khoá mỹ thuật kháng chiến” được sự giảng dạy trực tiếp của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tài danh khác đã trở thành những hoạ sỹ tên tuổi của nền mỹ thuật đương đại Việt Nam như: Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Kim Đồng, Phan Kế An, Diệp Minh Châu, Huỳnh Văn Gấm, Lê Thanh Đắc, Mai Văn Hiến, Mai Văn Nam, Quang Phòng, Trần Lưu Hậu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Đào Đức... Đào tạo lớp anh chị em họa sĩ kế cận là một đóng góp lớn lao của ông.

Những năm tháng sống trong lòng dân, cùng vui buồn với những con người chất phác, những chiến sĩ, những người lao động cần mẫn đã đưa lại cho ông cảm hứng sáng tác đề tài mới: “Hà Nội vùng lên” (1948), “Giặc đến giặc đi” (1949), “Nữ y tá” (1949).

Các tác phẩm trong giai đoạn này đã báo hiệu sự chuyển biến bước đầu của ông, đề tài và đối tượng như: tiết tấu năng động, rộn ràng, chiều hướng đi vào khắc họa tính cách nhân vật...

Trong thời gian này, ông làm nhiều việc, khi thì hoá trang trình bày cho một vở sân khấu, khi thì in truyền đơn và ông tranh thủ thời gian ký hoạ cuộc sống con người, cảnh vật của núi rừng Việt Bắc dưới nhiều chất liệu như sơn mài, sơn dầu, màu nước, chì.

Tháng 4/1954, vào lúc chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt nhất, Tô Ngọc Vân đã lên đường ra mặt trận. Ông đã trực tiếp tham gia và ghi lại không khí ác liệt của chiến trường cũng như sinh hoạt thường nhật của bộ đội ta ở Điện Biên qua các tác phẩm như: “Giáo viên dân tộc Thái”, “Cho ngựa ăn”, “Qua đèo”, “Qua suối”, “Trú quân”

Ngày 17/6/1954, ông hy sinh tại Ba Khe, bên kia đèo Lũng Lô lịch sử trong lúc nghệ thuật của ông đang lớn lên mạnh mẽ. Chiếc cặp vẽ mà ông mang theo mình đi chiến dịch có nhiều ký hoạ dọc đường như: “Trú quân”, “Hành quân qua suối”, “Lên đèo”, “Qua đèo Lũng Lô,” “Chuẩn bị lên đường”.

Bức ký họa chì “Đèo Lũng Lô” là bức tranh cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

Với những đóng góp to lớn của ông cho nền mỹ thuật cách mạng hiện đại Việt Nam, toàn bộ tác phẩm của ông được nhà nước trưng thu và lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Năm 1985, một đường phố của Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Tô Ngọc Vân; năm 1995, một đường phố của Hà Nội mang tên Tô Ngọc Vân.

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1 năm 1996) về văn học nghệ thuật./.




Ngô Trọng Bình (TTXVN/Vietnam+)
Nguồn: nslide.com -

Mỹ học _ Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân

Mỹ học _ Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân

Luận văn
123DOC



A. PHẦN MỞ ĐẦU



1. Lý do chọn đề tài
Người phụ nữ luôn là tâm điểm của bao nhiêu các danh bậc họa sĩ muốn nghiên cứu sâu xa về cái đẹp. Bởi họ là phái đẹp. ẩn chứa cả bên trong và bên ngoài nhưng nét đẹp về hình thể cũng như tâm hồn. Nhưng không phải họa sĩ nào cũng vẽ ra được hình ảnh người phụ nữ đẹp mà truyền tải được các nét đẹp ở trong tranh. Ở Việt Nam các nhà họa sĩ tài ba vẽ về người phụ nữ khá là nhiều nhưng phải kể đến Tô Ngọc Vân, họa sĩ được coi là thành công nhất trong việc xây dụng hình tượng người phụ nữ trong tranh, bằng chất liệu sơn dầu. Bằng cái tài dùng màu, cái thông minh ý nhị trong cảm xúc về ánh sáng, về hiệu quả tinh tế của những tương quan tác động qua lại những phản quang mà ông đã khám
phá và say sưa tìm hiểu cái hương vị nồng nàn của chất liệu sơn dầu đó rồi lại truyền đạt vào tranh, cái quyền quyện óng ánh có trọng lượng ấy cái phong phú và cả những cái đôi lúc bất thần của chất liệu ấy là sự kích thích cho ông, con người vốn say mê hình, săc, chất ấy. Nhất là khi đối tượng vẽ của ông lại là những hình thể đường nét, sắc màu óng ả hấp dẫn của phái đẹp. Chính vì thế, em đã chọn đề tài "Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân" để làm đề tài nhiên cứu về cái đẹp người phụ nữ trong nghệ thuật.

2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật nhằm nâng cao vốn hiểu biết về bản thân. Biết cảm thụ cái đẹp tích cực, phân tích cái đẹp. Chỉ ra được giá trị tư tưởng, thẩm mỹ tạo hình, tư duy và khả năng sáng tạo của họa sĩ Tô Ngọc Vân qua một số tác phẩm của ông nhằm làm nổi bật được vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong nghê thuật hội họa từ đó vận dụng vào học tập và giữ gìn vẻ đẹp đó trong xã hội hiện nay.

3. Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng người phụ nữ trong tranh của Tô Ngọc Vân.

4. Phạm vị nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi một số tác phẩm tiêu biểu mang đậm tính nghệ thuật, ảnh hưởng đến triết lý phương Đông.

5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sưu tầm tài liệu, liệt kê.
Phương pháp phân tích tổng hợp.


B. NỘI DUNG



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN


1. Cái đẹp trong nghệ thuật

1.1 Khái niệm
Cái đẹp là một phạm trù mỹ học, trong đó phản ánh và đánh giá những hiện tượng của hiện thực và những tác phẩm nghệ thuật đem lại cho con người một cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ, biểu hiện dưới hình thức cảm tính, đồng thời xác định giá trị thẩm mỹ của đối tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem chúng là các hiện tượng có giá trị thẩm mỹ cao nhất.
Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Theo ý nghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau.
Như vậy cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp tồn tại trong các tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo ra.

1.2. Đặc điểm của cái đẹp trong nghệ thuật

Nét đặc trưng của cái đẹp trong nghệ thuật là tính điển hình. Người nghệ sĩ không dùng khái niệm để truyền đạt cái đẹp mà thể hiện cái đẹp bằng những biểu tượng toàn vẹn cụ thể giàu cảm xúc. Cái đẹp trong nghệ thuật chứa đựng những nét chủ yếu và đặc sắc của cái đep khách quan ngoài cuộc sống, bao quát được tính thời gian, tính không gian,... cái đẹp trong nghệ thuật cũng là sự thống nhất giữa nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật, đó là một lý tưởng thẩm mỹ có khả năng đánh giá sâu sắc các hiện tượng của cuộc sống, có năng lực giải đáp các vấn đề đang diễn ra giữa ra con người với cách diễn tả bằng hình tượng, phù hợp nhất với các bản chất lý tưởng thẩm mỹ đó.
Cái đẹp trong nghệ thuật còn là cái đẹp phản ánh mọi cái đẹp của tự nhiên và xã hội, là kết quả hoạt động mang tính sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ.
Có thể nói rằng, lý tưởng - khát vọng, ý chí vươn lên của con người lại được tập trung cao độ, độc đáo mà đầy sức sống như trong cái đẹp nghệ thuật. Với tư cách là thành quả sáng tạo định hướng của người nghệ sĩ bao giờ cái đẹp nghệ thuật cũng là tín hiệu thẩm mĩ đặc biệt. Ở đó được tập trung cao độ đời sống tinh thần của loài người, nó được sử dụng và phản chiếu bởi muôn vàn màu sắc cuộc sống. Nó mang ước mơ, lý tưởng, lý chí loài người tiến bộ. Cho nên nó có sức mạnh to lớn, trong nhận thức cải tạo thế giới, vươn tới sự hoàn thiện thế giới vô cùng sinh động đó của con người.

2. Khái quát về họa sĩ Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân (1906-1954) tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí.

Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Pemh, sau đó ông về dạy ở Cao đặng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.

Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Tô Ngọc Vân: Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942, Bên hoa (1942), Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946), Nghỉ đêm bên đồi (sơn mài - 1948),...

Ông có những thành tựu là: Giải nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc (1954), Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Thư khen của Bác Hồ (1952) và chiếc áo Bác Hồ tặng (1954). Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1966). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam và cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy.



CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam
Trên truyền hình, báo chí, chắc hẳn bạn đã nghe nhiều tên tuổi người phụ nữ tài hoa trong xã hội, họ không những có đôi bàn tay khéo léo, đảm đang, có sức chịu đựng bền bỉ mà họ còn có địa vị trong xã hội được nhiều người yêu quý tôn trọng.

Theo tiến trình phát triển của xã hội loài người, người phụ nữ trong mỗi giai đoạn đều có vai trò khác nhau. Ở thời kỳ xã hội mẫu hệ - khi đó người phụ nữ có vai trò đứng đầu và nắm giữ mọi quyền lực trong gia đình và xã hội, trong khi đó người đàn ông đều dưới quyền và phục tùng. Tới xã hội phong kiến vai trò của người phụ nữ không được tôn trọng. Họ bị coi rẻ và được ví như "Nữ nhi khoe sắc thường tình", "Thân em như hạt mưa sa", "Đàn ông trong nhà, đàn bà xó bếp",...

Như vậy khái niệm về người phụ nữ thời kỳ này lại hoàn toàn khác với thời kỳ mẫu hệ, phụ nữ thời phong kiến về sự cam chịu, an phận và ít được tôn trọng. Thời đại ngày nay khi mà xã hội đã dân chủ công bằng văn minh thì quan niệm người phụ nữ đã được bình đẳng. Người phụ nữ được tự do lao động sáng tạo và được khẳng định mình trước xã hội, họ ngày càng phát huy bản năng của người phụ nữ dịu dàng, đảm đang, khéo léo mà họ vẫn có đủ khả năng đảm nhận các công việc như đàn ông làm. Như vậy trong xã hội ngày nay khái niệm về người phụ nữ đã khác đi, đó là người phụ nữ "giỏi việc nước đảm việc nhà".

Tóm lại, khi nói về người phụ nữ ngoài khái niệm chung thì người phụ nữ trải qua từng thời kỳ phát triển của xã hội mà người ta có khái niệm riêng phù hợp . Nhưng ở trong xã hội nào phụ nữ cũng đều phát huy đặc trưng, vai trò của mình là người vợ, mẹ và người có trách nhiệm trước pháp luật.

Có thể nói hình tượng người phụ nữ là một mảng đề tài rất rộng lớn và sâu sắc không có ngôn ngữ, trang viết nào miêu tả hết được. Bản thân em cũng là một người người phụ nữ và em luôn tự hào về điều đó. Cùng với những người có cùng khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật, em sẽ dùng cây bút mình để dựng lên những tác phẩm nghệ thuật ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ. Để hình tượng phụ nữ luôn sáng ngời trong chúng ta.


2. Hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm của họa sỹ Tô Ngọc Vân
2.1 Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám
2.1.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám Tô Ngọc Vân đã nắm bắt được cái đẹp của hình thể, chói lóa sắc màu, sáng tạo lên bức tranh lộng lẫy tươi mới, giàu sức biểu hiện nhờ nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đang ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật của Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân. Ở giai đoạn này ông có những tác phẩm nổi tiếng như: Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Thiếu nữ bên hoa sen (1944),...
Những tác phẩm lúc này đã đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu của ông, nghệ thuật vững vàng về hình khối màu sắc đẹp, hòa nhã, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với họa phẩm nay Tô Ngọc vân đã làm cuộc cách mạng tạo hình Việt Nam. Ông đã trở thành một trong những người trụ cột vững trãi, làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại và phát triển.
Những người phụ nữ trước cách mạng của họa sỹ chủ yếu là những phụ nữ tân thời yếu ớt không quen lao động. Quan niệm của ông lúc đó về cái đẹp của người phụ nữ chỉ là vẻ đẹp đài các, yểu điệu mảnh mai chứ không phải là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong lao động sản xuất "Với ông không cần biết đến chuyện bếp núc chỉ cần đẹp".
Ngắm bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ", như đã nói, Tô Ngọc Vân là một họa sĩ rất thành công trong việc vẽ sơn dầu ở nước ta, một chất liệu mới mẻ lúc bấy giờ ở Việt Nam.
Từ đây ta có thể nói rằng không phải chất liệu làm nên tác phẩm, mà tác giả làm lên giá trị của nó. Với một chủ đề đơn giản, một cô thiếu nữ ngồi ngắm hoa nhưng với sự diễn đạt ở ngòi bút và cảm xúc mà Tô Ngọc Vân đã làm lên tác phẩm nổi tiếng này. Với một bố cục được họa sĩ thể hiện không toàn vẹn toàn phần thân thể nhưng ta cảm thấy bố cục rất hợp lý, chắc chắn. Hoa huệ trắng, màu trắng của sự thanh khiết và cô thiếu nữ cũng được họa sĩ khoác lên trên mình những tấm vải lụa mỏng, làm tôn lên vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ.

Toàn bộ bức tranh vẽ màu sắc trắng, xám và xanh nhẹ không vẽ chi tiết như truyền thần mà ở đây ta chỉ thấy có tiếng nói của ánh sáng, hình chắc gọn đến mức đơn giản hơn nữ để làm ấm lại bức tranh tác giả đã định xuyến vào đó những chấm đỏ lên cánh mũi, môi và gò má tạo cho khuôn mặt cô gái thêm phần thanh tú, sáng ngời. Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gọi bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ... Cách sử dụng ánh sáng này một phần do ông chắt lọc trong nghệ thuật ấn tượng Pháp, ông chỉ dùng mảng màu làm ánh sáng, bóng tối mà không sử dụng đến viền nét.
Trong tranh là một cô thiếu nữ Hà thành với bộ áo dài, mái tóc dài ngồi ngắm hoa huệ đã biểu thị cho nét e ấp kín đáo, trầm tư của người con gái thành thị Việt Nam lúc bất giờ. Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã diễn tả được cái hiện thực xã hội đó. Bởi vì họa sỹ Tô Ngọc Vân không chỉ vẽ giống mà ông còn vẽ giống hơn thực tế.

Một nhà phê bình mỹ thuật đã viết về ông: "Những thiếu nữ trong tranh Tô Ngọc Vân đều có vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết, giàu nữ tính. Họ duyên dáng, kín đáo và tế nhị, lịch sự, quý phái trong từng cử chỉ, dáng điệu khiến người xem có cảm tưởng họ sinh ra từ không khí, ánh sáng và những cánh hoa. Và dường như chung quanh họ được bao bọc bởi một không gian êm đềm, thơ mộng. Vẻ đẹp của họ là vẻ đẹp của phụ nữ Hà Nội, phụ nữ Á Đông: Mong manh mà bền vững, bí ẩn mà quyến rũ, lúc nào cũng như đắm chìm, soi rọi vào thế giới nội tâm chính mình; ngay cả nỗi buồn thành thực, ngây thơ của họ cũng hết sức đáng yêu". Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã đưa ông lên đỉnh cao của nghệ thuật nhưng nó cũng chỉ là một trong số rất nhiều tác phẩm thiếu nữ của ông. Năm 1944, ông lại nối tiếp bức tranh "Thiếu nữ với hoa sen", so sánh với bức "Thiếu nữ bên hoa huệ" thì tác phẩm này có gì đó toàn vẹn hơn về hình thể người thiếu nữ nhưng nó lại có một điểm chung là đối tượng là những cô gái thiếu nữ hà thành và điều đáng nói ở đây là tâm trạng của hai cô thiếu nữ ở hai bức tranh có gì đó rất giống nhau, phải chăng là các cô gái đều gửi tâm trạng đến những bông hoa còn điểm khác có thể là cách thể hiện của tác giả. Bởi vì với việc ông thể hiện bút pháp trong bức tranh "Thiếu nữ với hoa sen" có phần trau chuốt cho nên ta cảm thấy hình tượng cô thiếu nữ rất duyên dáng và mền mại. Tuy không gian là một góc nhỏ ở trong phòng nhưng ông dùng tới khả năng diễn tả đậm nhạt tốt cho nên ta vẫn thấy bức tranh rất thoáng về không gian ta thầy ông sử dụng màu rất tươi tắn với những gam màu đỏ và vàng là chủ yếu. Màu đỏ ở đây được đặt vào cho mặt bàn trên đó là chiếc bình gốm màu trắng. Và để chiếc bình gốm không bị nhàm chán tác giả đã điểm lên đó vài chấm đỏ để tạo các sắc đỏ phong phú hơn.
Tranh của Tô Ngọc vân thường là rất ít nét, ông làm hình bằng việc sử dụng các mảng màu, như ta thấy hình ảnh cô thiếu nữ trên, ông không dùng nét mà chỉ làm khối và sử dụng đậm nhạt bằng mảng màu, có lẽ thế mà tạo được dáng vẻ mềm mại uyển chuyển của người thiếu nữ. Bởi hình đối với ông nó là sự gợi lên cấu tạo chủ yếu của sự vật, nhưng nó mang lại một âm hưởng mới. Đối với ông đó là sự thể hiện được những đường nét cân đối, nhịp nhàng, hình thể tròn đầy, chất óng mượt của lụa và vải mỏng bó sát lên cơ thể của người phụ nữ. Tô Ngọc Vân biết yêu cái đẹp và ông biết thể hiện nó dù là cái đẹp tập trung của một nhận vật hay nhiều nhân vật.
Tô Ngọc Vân đã từng nhận xét: "Không ai vẽ mặt thiếu nữ sắp khóc tài bằng Mai Trung Thứ". Nhưng người đương thời lại nhận xét: "Không ai vẽ thiếu nữ duyên dáng gợi cảm, đa tình bằng Tô Ngọc Vân". Mọi người đều công nhận người họa sỹ duy sắc phải chạy theo ánh sáng của mặt trời Tô Ngọc Vân là chủ nhân của những bức tranh sơn dầu phác họa về người thiếu nữ nổi tiếng của một thời đó. Từ cô bé e ấp bên song cửa đọc bức thư, chị em tâm sự trong buổi trữ tĩnh mịch, cô thiếu nữ áo trắng dưới bóng nắng đến những chị em đi du xuân, ngắm trăng, lả lưới bên huệ, hoa sen buồn tư lự bên án thư, vẻ đẹp đài các, nhẹ nhàng của các cô thiếu nữ trong mỗi tác phẩm của ông đã toát lên vẻ đẹp của thế giới nội tâm sâu sắc. Ông đã đi sâu nghiên cứu nó, nắm bắt nó đến từng chi tiết chuyển động nhỏ một của người phụ nữ. Có thể nói rằng hình tượng người phụ nữ trong tranh ông trước cách mạng đó là vẻ đẹp tâm hồn.
Tác phẩm "Hai thiếu nữ và em bé" (1944), là một trong những tác phẩm đẹp nhất của ông về đề tài người phụ nữ. Tác giả đã chọn một góc độ ấm cúng nhất của ngôi nhà cố để hai chị em có thể ngồi bên nhau tâm sự. Toàn bộ bức tranh là gam nóng, ấm áp với màu vàng chữ đạo, ba nhân vật được quy gọn trong hình tam giác theo lới bố cục cổ điển. Đây là kiểu bố cục mang tính cơ bản chặt chẽ nhất, tập trung nhất. Mảng hình từ em bé đến người phụ nữ trong tà áo dài màu vàng lớn dần, gợi cho ta cảm giác về sự vận động và phát triển từ nhỏ đén lớn, từ thấp đến cao, ánh sáng mạnh dần và hướng người xem thấy được vẻ đẹp tâm hồn, hồn nhiên, ngây thơ của em bé, vẻ đẹp e ấp, kí đáo của cô thiếu nữ trong tà áo trắng tinh khiết và vẻ đẹp đằm thắm của người thiếu phụ toát lên từ cử chỉ hai bàn tay chắp vào nhau, nếp áo dài rũ khá mềm mại. Sự xuất hiện của đứa trẻ đang nghịch đưới sàn nhà cho thấy một thiếu phụ hạnh phúc với cuộc sống viên mãn. Sự sắp xếp các mảng trắng, xanh, vàng theo những đường lượn phong phú đã tạo nhịp điệu cho bức tranh. Sự cân đối giữa các mảng màu vàng, đỏ, cam nóng thêm những mảng xanh cây, xanh lơ nhẹ nhàng mát mẻ kết hợp với những mảng màu trắng trên trang phục ở những bông hoa phù dung tinh khiết đã tạo nên sự hài hòa về màu sắc. Tất cả những yêu tố ngôn ngữ tạo hình vừa phân tích ở trên đã góp phần tạo nên một tác phẩm chuẩn mực về phẩm chất tạo hình, tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong trang phục áo dài dân tộc. Toàn bộ tác phẩm là vẻ đẹp quyến rũ hấp dẫn người xem từ hình dáng đến màu sắc, bố cục. Với hình tượng hai cô gái và em bé bên cây hoa phù dung đang độ đẹp rực rỡ và tinh khiết nhất còn gợi cho ta một sự liện tưởng mơ hồ về vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng ở góc độ nghệ thuật tạo hình thì những điểm nhấn làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng ở góc độ nghệ thuật tạo hình thì những mảng lá cây xanh đậm và những bông hoa phù dung trắng muốt là những điểm nhấn làm tăng thêm vẻ đẹp cho hình tượng những cô gái cũng như toàn tác phầm. Màu đỏ tươi rực rỡ tập trung ở hình tượng em bé dài trên toàn bộ tranh và dừng lại ở trước mành cửa trên góc tranh đã góp phần tạo nên sự chặt chẽ nhưng không đóng kín của bố cục tranh. Ngoài ra tác giả còn rất chú ý đến giữa mảng nhân vật và nền tạo ra bố cục tranh chặt chẽ, chắc chắn song lại rất thoáng, động. Với lối diễn tả ánh sáng nhẹ nhàng tạo sự chan hòa gợi khối đơn giản càng làm tăng thêm vẻ đẹp duyên dáng, đài các nhưng rất kín đáo của hình tượng hai thiếu nữ và hồn nhiên của em bé. Những đường cong mềm mại trong diễn tả các nhân vật tương phản với những nét thẳng, ngang, sắc của khung cửa, tường nhà đã tạo nên sự phong phú cho yếu tố đường nét trong tranh.
Nhưng vẻ đẹp đó như chỉ giới hạn, bó buộc trong không gian hạn hẹp, trong những sinh hoạt gia đình - như đang bó buộc trong lễ giáo phong kiến,... Chính vì vậy mà chúng ta thấy phảng phất trong tác phẩm, hình ảnh nhưng người phụ nữ có đôi chút lặng lẽ, trầm ngâm, buồn tư lự... Với một tâm hồn tưởng chừng sâu thẳm vô định bên trong. Ngoài vẻ đẹp hình thể mà tạo hóa ban cho, người phụ nữ còn có vẻ đẹp đức hạnh, về nhân phẩm, về sự hi sinh cả cả... Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn.

2.1.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
Nghệ thuật kim cổ Đông Tây bao giờ cũng trọng vọng những vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ, xem như mùa xuân vĩnh hằng, là nguồn hứng khởi vô biên và là một đề tài muôn thủa... Song không có vẻ đẹp nào lại trừu tượng, hư vô... mà bao giờ cũng là sản phẩm của tâm linh lý tưởng hoặc thiên hứng của cảm xúc ở mỗi nghệ sĩ, mỗi dân tộc, mỗi thời đại và theo thời gian diễn biến không ngừng.
Hình tượng người phụ nữ trong tranh tranh của Tô Ngọc Vân được diễn tả rất đẹp về hình thể. Một vẻ đẹp tinh khiết đài các, sang trọng với nếp áo dài mềm mỏng ôm sát lấy những đường nét tuyệt đẹp của cơ thể, càng làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Thành, phần ngực ôm sát, phần vạt áo được sẻ cao tới lưng, hông, để lộ đôi bàn chân đầy đặn, với những cử chỉ nhẹ nhàng của cô thiếu nữ nghiêng mình, áp sát khuông mặt xuống đóa hoa. Cô gái như muốn tâm sự với những đóa hoa ấy rằng: "Cô đang rất buồn". Có thể thấy được vẻ đẹp hình thể của người đẹp bình dị, mộc mạc. Ông đã mô tả vẻ đẹp hình thể người phụ nữ Việt Nam đậm bản sắc dân tộc Việt. Ta không thấy những đường cong lượn của cơ thể trong tranh, ta không thấy được làn da trắng nõn nà của cơ thể, không khiêu gợi, không phô trương mà chỉ là những điểm nhấn nhỏ, đôi chỗ là da để hở một cách tự nhiên, người xem cũng như thấy được vẻ "tự nhiên" của người phụ nữ trong tranh ông mà vẫn khắc họa được vẻ kín đáo. Hình tượng nhân vật được đưa cận cảnh làm biểu tượng trung tâm và biểu đạt ý tưởng của bức tranh, không gian trở thành ước lệ dường như tĩnh lặng. Những ý niệm về thời gian trong tranh biểu lộ rất rõ khuôn mặt, mảng hình, trang phục. Tô Ngọc Vân đã đem lại cho người xem một hình ảnh hiện thực về con người mà ông đã thể hiện.

2.2. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng Tám
2.2.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một chân trời mới, một hướng đi mới cho các văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và các họa sĩ Việt Nam nói riêng. Nổi danh là họa sĩ chuyên vẽ phụ nữ đẹp theo quan niệm tiểu tư sản (Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai chị em gái), nhưng hầu như ngay lập tức, xuất hiện trên giá vẽ của Tô Ngọc Vân những hình ảnh, những khuôn mặt phụ nữ Việt Nam dọc đường kháng chiến, với quan niệm về cái đẹp thay đổi theo nhân sinh quan thời đại. Cùng một thế hệ họa sỹ với ông nhưng không phải ai cũng có nhiều trăn trở như ông, ông phải tự vượt qua chính mình để chuyển hẳn sang con đường nghệ thuật cách mạng. Qua Tô Ngọc Vân ta thấy sự hóa thân của một họa sỹ lớn đã đau lòng như thế nào? Khi "Thiếu nữ bên hoa huệ" với những tà áo dài thướt tha ngồi bên những bông hoa huệ được cắm trong chiếc bình trắng với những họa tiết đơn giản nhưng vẫn cổ kính. Đến "Nghỉ chân bên đường" (1948), "Chị cán bộ cốt cán" (1954). Tuyệt nhiên không phải là sự chuyển hóa êm thấm nhất mà là người đó có đầy đủ ý thức về hoạt động sáng tác của mình như Tô Ngọc Vân, ông không thể vẽ bất cứ cái gì khi cái đó chưa thấm đượm vào tâm hồn mình mà tâm hồn của người nghệ sĩ lớn như Tô Ngọc Vân khi đã hình thành vững chắc thì không dễ gì biến đổi, nếu không trải qua những cơn đau lột xác, những cơn đau của sự hóa thân, chính Tô Ngọc Vân đã viết những dòng tâm sự này trong quá trình lột xác và sự hóa thân ấy của mình.
Bức kí họa "chị cán bộ cốt cán" là một trong những bức kí họa ghi chép của ông về chị Tốt ông vẽ chị đeo một chiếc túi thổ cẩm và để một bàn tay lên ngực, với dáng đứng thẳng chị có vẻ đẹp trầm lắng trong suy nghĩ. Ông dùng những nét bút gọn và sắc vuốt thẳng. Chị cán bộ cốt cán đứng lặng giữa cuộc đời không sức gì có thể kiềm chế được. Không phải ngẫu nhiên ông lại vẽ chị chụm chân, mắt nhìn xa đôi môi hơi mím lại nét mặt trầm tĩnh, lắng trong suy nghĩ, tay giơ lên phát biểu ý kiến, chị muốn góp một phần ý kiến nhỏ bé của mình vào sự phát triển của nước nhà, cũng cái đôi bàn tay ấy được Tô Ngọc Vân phác họa rõ nét, đầy dứt khoát. Hình ảnh cương quyết, cương trực đầy lòng tin tưởng ở sức mình.

Nhân vật người phụ nữ trong tranh ông buồn như: "Thiếu nữ bên hoa huệ" nhân vật mới một con người mới "Chị cán bộ cốt cán" đúng thẳng người như măng mọc tràn đầy sức sồng. Hai bức tranh của cùng một tác giả, một chặng đường nhiều tiểu xảo trong nghệ thuật dẫn con người tới những cảm giác chật hẹp trong hình khối, một chặng đường giản dị chân thành dẫn con người tới ước vọng cao đẹp.

2.2.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
Nếu như bắt gặp hình ảnh người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám, ta không khỏi ngỡ ngàng khi thấy sự thay đổi về vẻ đẹp của họ trong tranh sau cách mạng. Từ những cô gái da trắng, má hồng, thân hình mảnh mai, yểu điệu thục nữ với những cử chỉ nhẹ nhàng, mềm mại trong bộ áo dài,... nay thì với những chiếc áo vải, gọn gàng, chiếc quần lụa đen ánh được sắn cao, đến nhưng mái tóc dài buộc gọn. Họ sẵn sàng lao vào cuộc kháng chiến đầy ác liệt để giữ vững nền độc lập, tư do vừa mới giành được.
Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám họa sĩ Tô Ngọc Vân dồn hết năng lực của mình vào sáng tác để diễn tả hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống mới, trong chiến đấu giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Vào những năm tháng đất nước chiến tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: "Văn hóa trong đó có, văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, người văn nghệ sĩ là chiền sĩ trong mặt trận ấy". Lĩnh hội được tư tưởng đó Tô Ngọc Vân đã đến tới cách mạng bằng tinh thần và lòng nhiệt huyết, trong tranh của ông ở thời kỳ này tập chung chủ yếu vào lao động, sản xuất chiến đấu. Vẻ dẹp thiên phú tuyệt vời về hình thể người phụ nữ lại được đề cập lại. Nhưng đem lại cho người xem không phải là vẻ đẹp tươi mát của
da thịt, thân thể mà là nhưng khuôn mặt rạng ngời, tươi tắn, đôi lúc e thẹn làm duyên.
Bức ký họa "Đi học đêm" miêu tả hai thanh niên nam nữ đang tuổi mới lớn lên, khỏe mạnh hiền hậu, ngây thơ cầm bút mực, tay cầm quyển sách soi lên trước đèn, tâm hồn hai người như lắng cả sự suy nghĩ, với nét bút ký họa thỏai mái linh hoạt, trong sáng, giàu tình yêu thương trìu mến, một thế hệ mới, một xã hội đang lên, một nông thôn dạt dào sức sống đang trỗi dậy được sát vai nhau chụm đầu dưới ánh đèn dầu cùng giúp nhau học tập. Hai người cùng chung một lứa tuổi, nhưng họ đã chứa chất trong tâm hồn non trẻ trong cuộc sống lên biểu hiện được sự thay dổi của nông dân mới dậy. Mặc dù bức kí họa này chưa xây dựng thành tranh nhưng đã gợi cho chúng ta thấy ấn tượng khá rõ nét về khuynh hướng nghệ thuật hiện thực xã hội trong họa sỹ Tô Ngọc Vân. Hình ảnh người thiếu nữ đó đã thay đổi không như trước nhưng người ta thầy họa sĩ phát hiện những vẻ đẹp của thiếu nữ cho dù đó là vẻ đẹp của người thiếu nữ nông thôn hay thành thị nhưng ở họ vẫn toát lên một vẻ đẹp cơ thể tuyệt mỹ.
Bây giờ là một hình ảnh phụ nữ hoàn toàn khác với hình ảnh của người thiếu nữ tước cách mạng. Nó không còn là người phụ nữ của gia đình nữa mà nó đã trở thành người phụ nữ đã tham gia vào lao động sản xuất, tham gia hoạt động xã hội.
Bức kí họa "Con trâu quả thực" này, Tô Ngọc Vân xây dựng nhũng con người với một tình cảm thương mến, ông đã xây dựng hình ảnh nhân dân lao động trên trang vẽ vô cùng đẹp đẽ. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ toát lên trên tranh với vẻ đẹp khỏe, với mái tóc búi gọn sau gáy, chiếc quần đen được sắn cao để tham gia lao động sản xuất, vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ toát lên tình yêu thương giai cấp, sức sống và tính chiến đấu cao, sự chuyển biến về tư tưởng tình cảm dẫn đến sự thay đổi về nghệ thuật. Màu sắc của ông không cồn giữ vai trò chính, nó trở lên tươi sáng bình dị. Ông diễn tả bằng nét nhiều hơn bằng màu, đường nét trước kia của ông vuốt ve, đi sau diễn tả những đường cong uốn lượn của người phụ nữ, thì nay giản dị, linh họat khỏe mạnh dứt khoát đủ để diễn tả sức mạnh vùng lên của nhân dân. Chỉ bằng những thủ pháp nghệ thuật tưởng chừng như đơn giản ấy nó đã trở thành những bài học quý giá cho các thế hệ họa sỹ phải học hỏi, và chiêm nghiệm.
Có thể khẳng định rằng vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ mới trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng là vẻ đẹp của người phụ nữ đã làm chủ cuộc đời, nhưng vẫn hiền hòa, duyên dáng, đôn hậu, tự tin, thông minh. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của ông thể hiện được nét đẹp của người con gái theo thời gian. Mỗi khoảng thời gian qua đi ta nhìn thấy sự thay đổi về hình thể của người phụ nữ được thay đổi theo nét bút của ông. Nhưng dù thế nào là vẻ đẹp đài các, yểu điệu mảnh mai hay là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong lao động sản xuất thì ông đều gợi tả những nét đẹp của người phụ nữ thật tài tình, xuất sắc.

C. KẾT LUẬN



Qua việc nghiên cứu và phân tích một số tác phẩm về hình tượng người phụ nữ của Tô Ngọc Vân, ta thấy được tranh của ông không những có giá trị nghệ thuật cao mà các giá trị đích thực ở đây là sự nhận thức, lý luận ở các vấn đề dân tộc trong nghệ thuật tạo hình. Phải nói rằng nhìn những tác phẩm của ông cho thấy ông là người giàu tình cảm, tâm huyết với nghề, một tâm hồn đầy rung động. Đây có thể nói rằng đó là giá trị nội tâm của ông với nghệ thuật, còn giá trị biểu hiện của ông ở đây có thể thấy được cái chân thực, giản dị, màu sắc trong sáng. Tô Ngọc Vân là một hình ảnh đẹp trong sáng của mọt họa sỹ tự tìm cho mình con đường đi đến nghệ thuật chân chính, mà ông đã vinh dự góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng nền Mỹ thuật hội họa hiện đại mà họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hiến trọn cuộc đời.
Qua phân tích và cảm nhận về một số tác phẩm diễn tả hình tượng người phụ nữ của Tô Ngọc vân đã giúp ta có thêm một cái nhìn xa về cái đẹp trong nghệ thuật hội họa Việt Nam. Không chỉ em mà còn nhiều thế hệ đi sau đã rút ra được những bài học bổ ích cho bẩn thân, để phát huy những giá trị cao đẹp của dân tộc mình, nền Mỹ thuật Việt Nam đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ, giống như nhũng gì họa sĩ Tô Ngọc Vân đã từng nói và mong đợi là: "xây một nền hội họa vừa tân tạo vừa có tính dân tộc có thể đứng ngang với nghệ thuật nước ngoài".
Nhưng đối với em bài học lớn nhất là bản sắc sâu xa của người nghệ sĩ mà điều đó Tô Ngọc Vân đã hình thành từ rất sớm ngay từ khi ông bước vào trường mỹ thuật.


D. TÀI LIỆU THAM KHẢO



Giáo trình Mỹ học, Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thư - Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương.
Tô Ngọc Vân. NXB Văn hóa thông tin 1994.
Tô Ngọc Vân, "Nghệ sỹ của cái đẹp", NXB Văn hóa, 1996.
Tác giả - Tác phẩm mỹ thuật Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, 1998.


MỤC LỤC


A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Cái đẹp trong nghệ thuật
1.1 Khái niệm
1.2. Đặc điểm của cái đẹp trong nghệ thuật
2. Khái quát về họa sĩ Tô Ngọc Vân
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam
2. Hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm của họa sỹ Tô Ngọc Vân
2.1 Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám
2.1.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
2.1.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
2.2. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng Tám
2.2.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
2.2.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn: 123DOC -

Mỹ học _ Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân

Luận văn
123DOC



A. PHẦN MỞ ĐẦU



1. Lý do chọn đề tài
Người phụ nữ luôn là tâm điểm của bao nhiêu các danh bậc họa sĩ muốn nghiên cứu sâu xa về cái đẹp. Bởi họ là phái đẹp. ẩn chứa cả bên trong và bên ngoài nhưng nét đẹp về hình thể cũng như tâm hồn. Nhưng không phải họa sĩ nào cũng vẽ ra được hình ảnh người phụ nữ đẹp mà truyền tải được các nét đẹp ở trong tranh. Ở Việt Nam các nhà họa sĩ tài ba vẽ về người phụ nữ khá là nhiều nhưng phải kể đến Tô Ngọc Vân, họa sĩ được coi là thành công nhất trong việc xây dụng hình tượng người phụ nữ trong tranh, bằng chất liệu sơn dầu. Bằng cái tài dùng màu, cái thông minh ý nhị trong cảm xúc về ánh sáng, về hiệu quả tinh tế của những tương quan tác động qua lại những phản quang mà ông đã khám
phá và say sưa tìm hiểu cái hương vị nồng nàn của chất liệu sơn dầu đó rồi lại truyền đạt vào tranh, cái quyền quyện óng ánh có trọng lượng ấy cái phong phú và cả những cái đôi lúc bất thần của chất liệu ấy là sự kích thích cho ông, con người vốn say mê hình, săc, chất ấy. Nhất là khi đối tượng vẽ của ông lại là những hình thể đường nét, sắc màu óng ả hấp dẫn của phái đẹp. Chính vì thế, em đã chọn đề tài "Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân" để làm đề tài nhiên cứu về cái đẹp người phụ nữ trong nghệ thuật.

2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật nhằm nâng cao vốn hiểu biết về bản thân. Biết cảm thụ cái đẹp tích cực, phân tích cái đẹp. Chỉ ra được giá trị tư tưởng, thẩm mỹ tạo hình, tư duy và khả năng sáng tạo của họa sĩ Tô Ngọc Vân qua một số tác phẩm của ông nhằm làm nổi bật được vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong nghê thuật hội họa từ đó vận dụng vào học tập và giữ gìn vẻ đẹp đó trong xã hội hiện nay.

3. Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng người phụ nữ trong tranh của Tô Ngọc Vân.

4. Phạm vị nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi một số tác phẩm tiêu biểu mang đậm tính nghệ thuật, ảnh hưởng đến triết lý phương Đông.

5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sưu tầm tài liệu, liệt kê.
Phương pháp phân tích tổng hợp.


B. NỘI DUNG



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN


1. Cái đẹp trong nghệ thuật

1.1 Khái niệm
Cái đẹp là một phạm trù mỹ học, trong đó phản ánh và đánh giá những hiện tượng của hiện thực và những tác phẩm nghệ thuật đem lại cho con người một cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ, biểu hiện dưới hình thức cảm tính, đồng thời xác định giá trị thẩm mỹ của đối tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem chúng là các hiện tượng có giá trị thẩm mỹ cao nhất.
Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Theo ý nghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau.
Như vậy cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp tồn tại trong các tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo ra.

1.2. Đặc điểm của cái đẹp trong nghệ thuật

Nét đặc trưng của cái đẹp trong nghệ thuật là tính điển hình. Người nghệ sĩ không dùng khái niệm để truyền đạt cái đẹp mà thể hiện cái đẹp bằng những biểu tượng toàn vẹn cụ thể giàu cảm xúc. Cái đẹp trong nghệ thuật chứa đựng những nét chủ yếu và đặc sắc của cái đep khách quan ngoài cuộc sống, bao quát được tính thời gian, tính không gian,... cái đẹp trong nghệ thuật cũng là sự thống nhất giữa nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật, đó là một lý tưởng thẩm mỹ có khả năng đánh giá sâu sắc các hiện tượng của cuộc sống, có năng lực giải đáp các vấn đề đang diễn ra giữa ra con người với cách diễn tả bằng hình tượng, phù hợp nhất với các bản chất lý tưởng thẩm mỹ đó.
Cái đẹp trong nghệ thuật còn là cái đẹp phản ánh mọi cái đẹp của tự nhiên và xã hội, là kết quả hoạt động mang tính sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ.
Có thể nói rằng, lý tưởng - khát vọng, ý chí vươn lên của con người lại được tập trung cao độ, độc đáo mà đầy sức sống như trong cái đẹp nghệ thuật. Với tư cách là thành quả sáng tạo định hướng của người nghệ sĩ bao giờ cái đẹp nghệ thuật cũng là tín hiệu thẩm mĩ đặc biệt. Ở đó được tập trung cao độ đời sống tinh thần của loài người, nó được sử dụng và phản chiếu bởi muôn vàn màu sắc cuộc sống. Nó mang ước mơ, lý tưởng, lý chí loài người tiến bộ. Cho nên nó có sức mạnh to lớn, trong nhận thức cải tạo thế giới, vươn tới sự hoàn thiện thế giới vô cùng sinh động đó của con người.

2. Khái quát về họa sĩ Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân (1906-1954) tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí.

Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Pemh, sau đó ông về dạy ở Cao đặng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.

Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Tô Ngọc Vân: Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942, Bên hoa (1942), Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946), Nghỉ đêm bên đồi (sơn mài - 1948),...

Ông có những thành tựu là: Giải nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc (1954), Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Thư khen của Bác Hồ (1952) và chiếc áo Bác Hồ tặng (1954). Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1966). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam và cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy.



CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam
Trên truyền hình, báo chí, chắc hẳn bạn đã nghe nhiều tên tuổi người phụ nữ tài hoa trong xã hội, họ không những có đôi bàn tay khéo léo, đảm đang, có sức chịu đựng bền bỉ mà họ còn có địa vị trong xã hội được nhiều người yêu quý tôn trọng.

Theo tiến trình phát triển của xã hội loài người, người phụ nữ trong mỗi giai đoạn đều có vai trò khác nhau. Ở thời kỳ xã hội mẫu hệ - khi đó người phụ nữ có vai trò đứng đầu và nắm giữ mọi quyền lực trong gia đình và xã hội, trong khi đó người đàn ông đều dưới quyền và phục tùng. Tới xã hội phong kiến vai trò của người phụ nữ không được tôn trọng. Họ bị coi rẻ và được ví như "Nữ nhi khoe sắc thường tình", "Thân em như hạt mưa sa", "Đàn ông trong nhà, đàn bà xó bếp",...

Như vậy khái niệm về người phụ nữ thời kỳ này lại hoàn toàn khác với thời kỳ mẫu hệ, phụ nữ thời phong kiến về sự cam chịu, an phận và ít được tôn trọng. Thời đại ngày nay khi mà xã hội đã dân chủ công bằng văn minh thì quan niệm người phụ nữ đã được bình đẳng. Người phụ nữ được tự do lao động sáng tạo và được khẳng định mình trước xã hội, họ ngày càng phát huy bản năng của người phụ nữ dịu dàng, đảm đang, khéo léo mà họ vẫn có đủ khả năng đảm nhận các công việc như đàn ông làm. Như vậy trong xã hội ngày nay khái niệm về người phụ nữ đã khác đi, đó là người phụ nữ "giỏi việc nước đảm việc nhà".

Tóm lại, khi nói về người phụ nữ ngoài khái niệm chung thì người phụ nữ trải qua từng thời kỳ phát triển của xã hội mà người ta có khái niệm riêng phù hợp . Nhưng ở trong xã hội nào phụ nữ cũng đều phát huy đặc trưng, vai trò của mình là người vợ, mẹ và người có trách nhiệm trước pháp luật.

Có thể nói hình tượng người phụ nữ là một mảng đề tài rất rộng lớn và sâu sắc không có ngôn ngữ, trang viết nào miêu tả hết được. Bản thân em cũng là một người người phụ nữ và em luôn tự hào về điều đó. Cùng với những người có cùng khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật, em sẽ dùng cây bút mình để dựng lên những tác phẩm nghệ thuật ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ. Để hình tượng phụ nữ luôn sáng ngời trong chúng ta.


2. Hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm của họa sỹ Tô Ngọc Vân
2.1 Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám
2.1.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám Tô Ngọc Vân đã nắm bắt được cái đẹp của hình thể, chói lóa sắc màu, sáng tạo lên bức tranh lộng lẫy tươi mới, giàu sức biểu hiện nhờ nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đang ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật của Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân. Ở giai đoạn này ông có những tác phẩm nổi tiếng như: Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Thiếu nữ bên hoa sen (1944),...
Những tác phẩm lúc này đã đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu của ông, nghệ thuật vững vàng về hình khối màu sắc đẹp, hòa nhã, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với họa phẩm nay Tô Ngọc vân đã làm cuộc cách mạng tạo hình Việt Nam. Ông đã trở thành một trong những người trụ cột vững trãi, làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại và phát triển.
Những người phụ nữ trước cách mạng của họa sỹ chủ yếu là những phụ nữ tân thời yếu ớt không quen lao động. Quan niệm của ông lúc đó về cái đẹp của người phụ nữ chỉ là vẻ đẹp đài các, yểu điệu mảnh mai chứ không phải là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong lao động sản xuất "Với ông không cần biết đến chuyện bếp núc chỉ cần đẹp".
Ngắm bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ", như đã nói, Tô Ngọc Vân là một họa sĩ rất thành công trong việc vẽ sơn dầu ở nước ta, một chất liệu mới mẻ lúc bấy giờ ở Việt Nam.
Từ đây ta có thể nói rằng không phải chất liệu làm nên tác phẩm, mà tác giả làm lên giá trị của nó. Với một chủ đề đơn giản, một cô thiếu nữ ngồi ngắm hoa nhưng với sự diễn đạt ở ngòi bút và cảm xúc mà Tô Ngọc Vân đã làm lên tác phẩm nổi tiếng này. Với một bố cục được họa sĩ thể hiện không toàn vẹn toàn phần thân thể nhưng ta cảm thấy bố cục rất hợp lý, chắc chắn. Hoa huệ trắng, màu trắng của sự thanh khiết và cô thiếu nữ cũng được họa sĩ khoác lên trên mình những tấm vải lụa mỏng, làm tôn lên vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ.

Toàn bộ bức tranh vẽ màu sắc trắng, xám và xanh nhẹ không vẽ chi tiết như truyền thần mà ở đây ta chỉ thấy có tiếng nói của ánh sáng, hình chắc gọn đến mức đơn giản hơn nữ để làm ấm lại bức tranh tác giả đã định xuyến vào đó những chấm đỏ lên cánh mũi, môi và gò má tạo cho khuôn mặt cô gái thêm phần thanh tú, sáng ngời. Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gọi bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ... Cách sử dụng ánh sáng này một phần do ông chắt lọc trong nghệ thuật ấn tượng Pháp, ông chỉ dùng mảng màu làm ánh sáng, bóng tối mà không sử dụng đến viền nét.
Trong tranh là một cô thiếu nữ Hà thành với bộ áo dài, mái tóc dài ngồi ngắm hoa huệ đã biểu thị cho nét e ấp kín đáo, trầm tư của người con gái thành thị Việt Nam lúc bất giờ. Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã diễn tả được cái hiện thực xã hội đó. Bởi vì họa sỹ Tô Ngọc Vân không chỉ vẽ giống mà ông còn vẽ giống hơn thực tế.

Một nhà phê bình mỹ thuật đã viết về ông: "Những thiếu nữ trong tranh Tô Ngọc Vân đều có vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết, giàu nữ tính. Họ duyên dáng, kín đáo và tế nhị, lịch sự, quý phái trong từng cử chỉ, dáng điệu khiến người xem có cảm tưởng họ sinh ra từ không khí, ánh sáng và những cánh hoa. Và dường như chung quanh họ được bao bọc bởi một không gian êm đềm, thơ mộng. Vẻ đẹp của họ là vẻ đẹp của phụ nữ Hà Nội, phụ nữ Á Đông: Mong manh mà bền vững, bí ẩn mà quyến rũ, lúc nào cũng như đắm chìm, soi rọi vào thế giới nội tâm chính mình; ngay cả nỗi buồn thành thực, ngây thơ của họ cũng hết sức đáng yêu". Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã đưa ông lên đỉnh cao của nghệ thuật nhưng nó cũng chỉ là một trong số rất nhiều tác phẩm thiếu nữ của ông. Năm 1944, ông lại nối tiếp bức tranh "Thiếu nữ với hoa sen", so sánh với bức "Thiếu nữ bên hoa huệ" thì tác phẩm này có gì đó toàn vẹn hơn về hình thể người thiếu nữ nhưng nó lại có một điểm chung là đối tượng là những cô gái thiếu nữ hà thành và điều đáng nói ở đây là tâm trạng của hai cô thiếu nữ ở hai bức tranh có gì đó rất giống nhau, phải chăng là các cô gái đều gửi tâm trạng đến những bông hoa còn điểm khác có thể là cách thể hiện của tác giả. Bởi vì với việc ông thể hiện bút pháp trong bức tranh "Thiếu nữ với hoa sen" có phần trau chuốt cho nên ta cảm thấy hình tượng cô thiếu nữ rất duyên dáng và mền mại. Tuy không gian là một góc nhỏ ở trong phòng nhưng ông dùng tới khả năng diễn tả đậm nhạt tốt cho nên ta vẫn thấy bức tranh rất thoáng về không gian ta thầy ông sử dụng màu rất tươi tắn với những gam màu đỏ và vàng là chủ yếu. Màu đỏ ở đây được đặt vào cho mặt bàn trên đó là chiếc bình gốm màu trắng. Và để chiếc bình gốm không bị nhàm chán tác giả đã điểm lên đó vài chấm đỏ để tạo các sắc đỏ phong phú hơn.
Tranh của Tô Ngọc vân thường là rất ít nét, ông làm hình bằng việc sử dụng các mảng màu, như ta thấy hình ảnh cô thiếu nữ trên, ông không dùng nét mà chỉ làm khối và sử dụng đậm nhạt bằng mảng màu, có lẽ thế mà tạo được dáng vẻ mềm mại uyển chuyển của người thiếu nữ. Bởi hình đối với ông nó là sự gợi lên cấu tạo chủ yếu của sự vật, nhưng nó mang lại một âm hưởng mới. Đối với ông đó là sự thể hiện được những đường nét cân đối, nhịp nhàng, hình thể tròn đầy, chất óng mượt của lụa và vải mỏng bó sát lên cơ thể của người phụ nữ. Tô Ngọc Vân biết yêu cái đẹp và ông biết thể hiện nó dù là cái đẹp tập trung của một nhận vật hay nhiều nhân vật.
Tô Ngọc Vân đã từng nhận xét: "Không ai vẽ mặt thiếu nữ sắp khóc tài bằng Mai Trung Thứ". Nhưng người đương thời lại nhận xét: "Không ai vẽ thiếu nữ duyên dáng gợi cảm, đa tình bằng Tô Ngọc Vân". Mọi người đều công nhận người họa sỹ duy sắc phải chạy theo ánh sáng của mặt trời Tô Ngọc Vân là chủ nhân của những bức tranh sơn dầu phác họa về người thiếu nữ nổi tiếng của một thời đó. Từ cô bé e ấp bên song cửa đọc bức thư, chị em tâm sự trong buổi trữ tĩnh mịch, cô thiếu nữ áo trắng dưới bóng nắng đến những chị em đi du xuân, ngắm trăng, lả lưới bên huệ, hoa sen buồn tư lự bên án thư, vẻ đẹp đài các, nhẹ nhàng của các cô thiếu nữ trong mỗi tác phẩm của ông đã toát lên vẻ đẹp của thế giới nội tâm sâu sắc. Ông đã đi sâu nghiên cứu nó, nắm bắt nó đến từng chi tiết chuyển động nhỏ một của người phụ nữ. Có thể nói rằng hình tượng người phụ nữ trong tranh ông trước cách mạng đó là vẻ đẹp tâm hồn.
Tác phẩm "Hai thiếu nữ và em bé" (1944), là một trong những tác phẩm đẹp nhất của ông về đề tài người phụ nữ. Tác giả đã chọn một góc độ ấm cúng nhất của ngôi nhà cố để hai chị em có thể ngồi bên nhau tâm sự. Toàn bộ bức tranh là gam nóng, ấm áp với màu vàng chữ đạo, ba nhân vật được quy gọn trong hình tam giác theo lới bố cục cổ điển. Đây là kiểu bố cục mang tính cơ bản chặt chẽ nhất, tập trung nhất. Mảng hình từ em bé đến người phụ nữ trong tà áo dài màu vàng lớn dần, gợi cho ta cảm giác về sự vận động và phát triển từ nhỏ đén lớn, từ thấp đến cao, ánh sáng mạnh dần và hướng người xem thấy được vẻ đẹp tâm hồn, hồn nhiên, ngây thơ của em bé, vẻ đẹp e ấp, kí đáo của cô thiếu nữ trong tà áo trắng tinh khiết và vẻ đẹp đằm thắm của người thiếu phụ toát lên từ cử chỉ hai bàn tay chắp vào nhau, nếp áo dài rũ khá mềm mại. Sự xuất hiện của đứa trẻ đang nghịch đưới sàn nhà cho thấy một thiếu phụ hạnh phúc với cuộc sống viên mãn. Sự sắp xếp các mảng trắng, xanh, vàng theo những đường lượn phong phú đã tạo nhịp điệu cho bức tranh. Sự cân đối giữa các mảng màu vàng, đỏ, cam nóng thêm những mảng xanh cây, xanh lơ nhẹ nhàng mát mẻ kết hợp với những mảng màu trắng trên trang phục ở những bông hoa phù dung tinh khiết đã tạo nên sự hài hòa về màu sắc. Tất cả những yêu tố ngôn ngữ tạo hình vừa phân tích ở trên đã góp phần tạo nên một tác phẩm chuẩn mực về phẩm chất tạo hình, tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong trang phục áo dài dân tộc. Toàn bộ tác phẩm là vẻ đẹp quyến rũ hấp dẫn người xem từ hình dáng đến màu sắc, bố cục. Với hình tượng hai cô gái và em bé bên cây hoa phù dung đang độ đẹp rực rỡ và tinh khiết nhất còn gợi cho ta một sự liện tưởng mơ hồ về vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng ở góc độ nghệ thuật tạo hình thì những điểm nhấn làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng ở góc độ nghệ thuật tạo hình thì những mảng lá cây xanh đậm và những bông hoa phù dung trắng muốt là những điểm nhấn làm tăng thêm vẻ đẹp cho hình tượng những cô gái cũng như toàn tác phầm. Màu đỏ tươi rực rỡ tập trung ở hình tượng em bé dài trên toàn bộ tranh và dừng lại ở trước mành cửa trên góc tranh đã góp phần tạo nên sự chặt chẽ nhưng không đóng kín của bố cục tranh. Ngoài ra tác giả còn rất chú ý đến giữa mảng nhân vật và nền tạo ra bố cục tranh chặt chẽ, chắc chắn song lại rất thoáng, động. Với lối diễn tả ánh sáng nhẹ nhàng tạo sự chan hòa gợi khối đơn giản càng làm tăng thêm vẻ đẹp duyên dáng, đài các nhưng rất kín đáo của hình tượng hai thiếu nữ và hồn nhiên của em bé. Những đường cong mềm mại trong diễn tả các nhân vật tương phản với những nét thẳng, ngang, sắc của khung cửa, tường nhà đã tạo nên sự phong phú cho yếu tố đường nét trong tranh.
Nhưng vẻ đẹp đó như chỉ giới hạn, bó buộc trong không gian hạn hẹp, trong những sinh hoạt gia đình - như đang bó buộc trong lễ giáo phong kiến,... Chính vì vậy mà chúng ta thấy phảng phất trong tác phẩm, hình ảnh nhưng người phụ nữ có đôi chút lặng lẽ, trầm ngâm, buồn tư lự... Với một tâm hồn tưởng chừng sâu thẳm vô định bên trong. Ngoài vẻ đẹp hình thể mà tạo hóa ban cho, người phụ nữ còn có vẻ đẹp đức hạnh, về nhân phẩm, về sự hi sinh cả cả... Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn.

2.1.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
Nghệ thuật kim cổ Đông Tây bao giờ cũng trọng vọng những vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ, xem như mùa xuân vĩnh hằng, là nguồn hứng khởi vô biên và là một đề tài muôn thủa... Song không có vẻ đẹp nào lại trừu tượng, hư vô... mà bao giờ cũng là sản phẩm của tâm linh lý tưởng hoặc thiên hứng của cảm xúc ở mỗi nghệ sĩ, mỗi dân tộc, mỗi thời đại và theo thời gian diễn biến không ngừng.
Hình tượng người phụ nữ trong tranh tranh của Tô Ngọc Vân được diễn tả rất đẹp về hình thể. Một vẻ đẹp tinh khiết đài các, sang trọng với nếp áo dài mềm mỏng ôm sát lấy những đường nét tuyệt đẹp của cơ thể, càng làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Thành, phần ngực ôm sát, phần vạt áo được sẻ cao tới lưng, hông, để lộ đôi bàn chân đầy đặn, với những cử chỉ nhẹ nhàng của cô thiếu nữ nghiêng mình, áp sát khuông mặt xuống đóa hoa. Cô gái như muốn tâm sự với những đóa hoa ấy rằng: "Cô đang rất buồn". Có thể thấy được vẻ đẹp hình thể của người đẹp bình dị, mộc mạc. Ông đã mô tả vẻ đẹp hình thể người phụ nữ Việt Nam đậm bản sắc dân tộc Việt. Ta không thấy những đường cong lượn của cơ thể trong tranh, ta không thấy được làn da trắng nõn nà của cơ thể, không khiêu gợi, không phô trương mà chỉ là những điểm nhấn nhỏ, đôi chỗ là da để hở một cách tự nhiên, người xem cũng như thấy được vẻ "tự nhiên" của người phụ nữ trong tranh ông mà vẫn khắc họa được vẻ kín đáo. Hình tượng nhân vật được đưa cận cảnh làm biểu tượng trung tâm và biểu đạt ý tưởng của bức tranh, không gian trở thành ước lệ dường như tĩnh lặng. Những ý niệm về thời gian trong tranh biểu lộ rất rõ khuôn mặt, mảng hình, trang phục. Tô Ngọc Vân đã đem lại cho người xem một hình ảnh hiện thực về con người mà ông đã thể hiện.

2.2. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng Tám
2.2.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một chân trời mới, một hướng đi mới cho các văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và các họa sĩ Việt Nam nói riêng. Nổi danh là họa sĩ chuyên vẽ phụ nữ đẹp theo quan niệm tiểu tư sản (Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai chị em gái), nhưng hầu như ngay lập tức, xuất hiện trên giá vẽ của Tô Ngọc Vân những hình ảnh, những khuôn mặt phụ nữ Việt Nam dọc đường kháng chiến, với quan niệm về cái đẹp thay đổi theo nhân sinh quan thời đại. Cùng một thế hệ họa sỹ với ông nhưng không phải ai cũng có nhiều trăn trở như ông, ông phải tự vượt qua chính mình để chuyển hẳn sang con đường nghệ thuật cách mạng. Qua Tô Ngọc Vân ta thấy sự hóa thân của một họa sỹ lớn đã đau lòng như thế nào? Khi "Thiếu nữ bên hoa huệ" với những tà áo dài thướt tha ngồi bên những bông hoa huệ được cắm trong chiếc bình trắng với những họa tiết đơn giản nhưng vẫn cổ kính. Đến "Nghỉ chân bên đường" (1948), "Chị cán bộ cốt cán" (1954). Tuyệt nhiên không phải là sự chuyển hóa êm thấm nhất mà là người đó có đầy đủ ý thức về hoạt động sáng tác của mình như Tô Ngọc Vân, ông không thể vẽ bất cứ cái gì khi cái đó chưa thấm đượm vào tâm hồn mình mà tâm hồn của người nghệ sĩ lớn như Tô Ngọc Vân khi đã hình thành vững chắc thì không dễ gì biến đổi, nếu không trải qua những cơn đau lột xác, những cơn đau của sự hóa thân, chính Tô Ngọc Vân đã viết những dòng tâm sự này trong quá trình lột xác và sự hóa thân ấy của mình.
Bức kí họa "chị cán bộ cốt cán" là một trong những bức kí họa ghi chép của ông về chị Tốt ông vẽ chị đeo một chiếc túi thổ cẩm và để một bàn tay lên ngực, với dáng đứng thẳng chị có vẻ đẹp trầm lắng trong suy nghĩ. Ông dùng những nét bút gọn và sắc vuốt thẳng. Chị cán bộ cốt cán đứng lặng giữa cuộc đời không sức gì có thể kiềm chế được. Không phải ngẫu nhiên ông lại vẽ chị chụm chân, mắt nhìn xa đôi môi hơi mím lại nét mặt trầm tĩnh, lắng trong suy nghĩ, tay giơ lên phát biểu ý kiến, chị muốn góp một phần ý kiến nhỏ bé của mình vào sự phát triển của nước nhà, cũng cái đôi bàn tay ấy được Tô Ngọc Vân phác họa rõ nét, đầy dứt khoát. Hình ảnh cương quyết, cương trực đầy lòng tin tưởng ở sức mình.

Nhân vật người phụ nữ trong tranh ông buồn như: "Thiếu nữ bên hoa huệ" nhân vật mới một con người mới "Chị cán bộ cốt cán" đúng thẳng người như măng mọc tràn đầy sức sồng. Hai bức tranh của cùng một tác giả, một chặng đường nhiều tiểu xảo trong nghệ thuật dẫn con người tới những cảm giác chật hẹp trong hình khối, một chặng đường giản dị chân thành dẫn con người tới ước vọng cao đẹp.

2.2.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
Nếu như bắt gặp hình ảnh người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám, ta không khỏi ngỡ ngàng khi thấy sự thay đổi về vẻ đẹp của họ trong tranh sau cách mạng. Từ những cô gái da trắng, má hồng, thân hình mảnh mai, yểu điệu thục nữ với những cử chỉ nhẹ nhàng, mềm mại trong bộ áo dài,... nay thì với những chiếc áo vải, gọn gàng, chiếc quần lụa đen ánh được sắn cao, đến nhưng mái tóc dài buộc gọn. Họ sẵn sàng lao vào cuộc kháng chiến đầy ác liệt để giữ vững nền độc lập, tư do vừa mới giành được.
Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám họa sĩ Tô Ngọc Vân dồn hết năng lực của mình vào sáng tác để diễn tả hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống mới, trong chiến đấu giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Vào những năm tháng đất nước chiến tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: "Văn hóa trong đó có, văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, người văn nghệ sĩ là chiền sĩ trong mặt trận ấy". Lĩnh hội được tư tưởng đó Tô Ngọc Vân đã đến tới cách mạng bằng tinh thần và lòng nhiệt huyết, trong tranh của ông ở thời kỳ này tập chung chủ yếu vào lao động, sản xuất chiến đấu. Vẻ dẹp thiên phú tuyệt vời về hình thể người phụ nữ lại được đề cập lại. Nhưng đem lại cho người xem không phải là vẻ đẹp tươi mát của
da thịt, thân thể mà là nhưng khuôn mặt rạng ngời, tươi tắn, đôi lúc e thẹn làm duyên.
Bức ký họa "Đi học đêm" miêu tả hai thanh niên nam nữ đang tuổi mới lớn lên, khỏe mạnh hiền hậu, ngây thơ cầm bút mực, tay cầm quyển sách soi lên trước đèn, tâm hồn hai người như lắng cả sự suy nghĩ, với nét bút ký họa thỏai mái linh hoạt, trong sáng, giàu tình yêu thương trìu mến, một thế hệ mới, một xã hội đang lên, một nông thôn dạt dào sức sống đang trỗi dậy được sát vai nhau chụm đầu dưới ánh đèn dầu cùng giúp nhau học tập. Hai người cùng chung một lứa tuổi, nhưng họ đã chứa chất trong tâm hồn non trẻ trong cuộc sống lên biểu hiện được sự thay dổi của nông dân mới dậy. Mặc dù bức kí họa này chưa xây dựng thành tranh nhưng đã gợi cho chúng ta thấy ấn tượng khá rõ nét về khuynh hướng nghệ thuật hiện thực xã hội trong họa sỹ Tô Ngọc Vân. Hình ảnh người thiếu nữ đó đã thay đổi không như trước nhưng người ta thầy họa sĩ phát hiện những vẻ đẹp của thiếu nữ cho dù đó là vẻ đẹp của người thiếu nữ nông thôn hay thành thị nhưng ở họ vẫn toát lên một vẻ đẹp cơ thể tuyệt mỹ.
Bây giờ là một hình ảnh phụ nữ hoàn toàn khác với hình ảnh của người thiếu nữ tước cách mạng. Nó không còn là người phụ nữ của gia đình nữa mà nó đã trở thành người phụ nữ đã tham gia vào lao động sản xuất, tham gia hoạt động xã hội.
Bức kí họa "Con trâu quả thực" này, Tô Ngọc Vân xây dựng nhũng con người với một tình cảm thương mến, ông đã xây dựng hình ảnh nhân dân lao động trên trang vẽ vô cùng đẹp đẽ. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ toát lên trên tranh với vẻ đẹp khỏe, với mái tóc búi gọn sau gáy, chiếc quần đen được sắn cao để tham gia lao động sản xuất, vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ toát lên tình yêu thương giai cấp, sức sống và tính chiến đấu cao, sự chuyển biến về tư tưởng tình cảm dẫn đến sự thay đổi về nghệ thuật. Màu sắc của ông không cồn giữ vai trò chính, nó trở lên tươi sáng bình dị. Ông diễn tả bằng nét nhiều hơn bằng màu, đường nét trước kia của ông vuốt ve, đi sau diễn tả những đường cong uốn lượn của người phụ nữ, thì nay giản dị, linh họat khỏe mạnh dứt khoát đủ để diễn tả sức mạnh vùng lên của nhân dân. Chỉ bằng những thủ pháp nghệ thuật tưởng chừng như đơn giản ấy nó đã trở thành những bài học quý giá cho các thế hệ họa sỹ phải học hỏi, và chiêm nghiệm.
Có thể khẳng định rằng vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ mới trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng là vẻ đẹp của người phụ nữ đã làm chủ cuộc đời, nhưng vẫn hiền hòa, duyên dáng, đôn hậu, tự tin, thông minh. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh của ông thể hiện được nét đẹp của người con gái theo thời gian. Mỗi khoảng thời gian qua đi ta nhìn thấy sự thay đổi về hình thể của người phụ nữ được thay đổi theo nét bút của ông. Nhưng dù thế nào là vẻ đẹp đài các, yểu điệu mảnh mai hay là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong lao động sản xuất thì ông đều gợi tả những nét đẹp của người phụ nữ thật tài tình, xuất sắc.

C. KẾT LUẬN



Qua việc nghiên cứu và phân tích một số tác phẩm về hình tượng người phụ nữ của Tô Ngọc Vân, ta thấy được tranh của ông không những có giá trị nghệ thuật cao mà các giá trị đích thực ở đây là sự nhận thức, lý luận ở các vấn đề dân tộc trong nghệ thuật tạo hình. Phải nói rằng nhìn những tác phẩm của ông cho thấy ông là người giàu tình cảm, tâm huyết với nghề, một tâm hồn đầy rung động. Đây có thể nói rằng đó là giá trị nội tâm của ông với nghệ thuật, còn giá trị biểu hiện của ông ở đây có thể thấy được cái chân thực, giản dị, màu sắc trong sáng. Tô Ngọc Vân là một hình ảnh đẹp trong sáng của mọt họa sỹ tự tìm cho mình con đường đi đến nghệ thuật chân chính, mà ông đã vinh dự góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng nền Mỹ thuật hội họa hiện đại mà họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hiến trọn cuộc đời.
Qua phân tích và cảm nhận về một số tác phẩm diễn tả hình tượng người phụ nữ của Tô Ngọc vân đã giúp ta có thêm một cái nhìn xa về cái đẹp trong nghệ thuật hội họa Việt Nam. Không chỉ em mà còn nhiều thế hệ đi sau đã rút ra được những bài học bổ ích cho bẩn thân, để phát huy những giá trị cao đẹp của dân tộc mình, nền Mỹ thuật Việt Nam đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ, giống như nhũng gì họa sĩ Tô Ngọc Vân đã từng nói và mong đợi là: "xây một nền hội họa vừa tân tạo vừa có tính dân tộc có thể đứng ngang với nghệ thuật nước ngoài".
Nhưng đối với em bài học lớn nhất là bản sắc sâu xa của người nghệ sĩ mà điều đó Tô Ngọc Vân đã hình thành từ rất sớm ngay từ khi ông bước vào trường mỹ thuật.


D. TÀI LIỆU THAM KHẢO



Giáo trình Mỹ học, Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thư - Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương.
Tô Ngọc Vân. NXB Văn hóa thông tin 1994.
Tô Ngọc Vân, "Nghệ sỹ của cái đẹp", NXB Văn hóa, 1996.
Tác giả - Tác phẩm mỹ thuật Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, 1998.


MỤC LỤC


A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Cái đẹp trong nghệ thuật
1.1 Khái niệm
1.2. Đặc điểm của cái đẹp trong nghệ thuật
2. Khái quát về họa sĩ Tô Ngọc Vân
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam
2. Hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm của họa sỹ Tô Ngọc Vân
2.1 Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân trước cách mạng tháng Tám
2.1.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
2.1.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
2.2. Cái đẹp của hình tượng người phụ nữ trong tranh Tô Ngọc Vân sau cách mạng tháng Tám
2.2.1. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
2.2.2. Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn: 123DOC -

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

Phiên đấu “20 Century Contemporary Art 2019” tại Hongkong: Thời của tranh lụa với những bức tranh quý hiếm

Phiên đấu “20 Century Contemporary Art 2019” tại Hongkong: Thời của tranh lụa với những bức tranh quý hiếm

Thiên Minh



1 TÔ NGỌC VÂN (1906- 1954)
Người vỡ mộng

Lụa. 92,5 x 57cm
Giá ước đấu: 256,072 – 384,108 USD

Giá bán: 1.162. 525 USD

Thoạt tiên, bức tranh này của Tô Ngọc Vân đã được đấu giá vào ngày 15.12.1999 tại Paris với tựa “Les deux soeurs – Hai chị em” với kích thước được ghi “68x58cm”.

Sau đó, bức tranh được đấu lại tại Sotheby’s Singapore ngày 6.4.2003 với kích thước được ghi là 92,5x57cm và thuộc về Collection Phạm Tuấn Hùng, Mỹ. Nhà sưu tập này có tên thường gọi “Tuấn Parmacy” bởi ông hoạt động trong lĩnh vực dược và là chủ nhân của rất nhiều bức tranh Việt thuộc hàng quý hiếm.

Lúc đầu, nhìn vào thông số kích thước, tưởng là hai bức khác nhau. Nhưng sau khi thu phóng về cùng một kích cỡ thì hai bức trùng khớp về chi tiết. Với một con mắt nhìn thông thường thì thông số 92,5x57cm hợp lý và chuẩn hơn. Có lẽ trong trường hợp đầu tiên, Nhà đấu giá có sự nhầm lẫn về mặt thông số.

Bức tranh này được vẽ năm 1932 khi Tô Ngọc Vân mới ra trường. Khoảng từ năm 1930 – 1939 ông vẽ khá nhiều lụa. Sau đó, ông tập trung chuyên sâu vào chất liệu sơn dầu. So với lụa, ông vẽ sơn dầu có phần ấn tượng, màu sắc rực rỡ hơn. Đặc biệt thành công và ấn tượng với bức tranh đã trở thành một trong những tác phẩm biểu tượng của Mỹ thuật hiện đại Việt Nam; đó chính là “Thiếu nữ bên hoa huệ”.

Hiện nay, đa phần những tác phẩm thuộc thời kỳ này của Tô Ngọc Vân có lẽ hiện đang ở những sưu tập nước ngoài. Cùng khoảng thời gian này ông sáng tác “Bức thư” trên cùng chất liệu lụa. Hiện tranh thuộc sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Với giá ước đấu từ 256,072 – 384,108 USD, giá bán 1.162.525 USD. Lần đầu tiên, một bức tranh của Tô Ngọc Vân được đấu giá công khai lên tới triệu đô. Và đó là một mức giá hoàn toàn xứng đáng với tên tuổi, vị trí của Tô Ngọc Vân trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 19 THÁNG SÁU, 2019

Phiên đấu “20 Century Contemporary Art 2019” tại Hongkong: Thời của tranh lụa với những bức tranh quý hiếm

Thiên Minh



1 TÔ NGỌC VÂN (1906- 1954)
Người vỡ mộng

Lụa. 92,5 x 57cm
Giá ước đấu: 256,072 – 384,108 USD

Giá bán: 1.162. 525 USD

Thoạt tiên, bức tranh này của Tô Ngọc Vân đã được đấu giá vào ngày 15.12.1999 tại Paris với tựa “Les deux soeurs – Hai chị em” với kích thước được ghi “68x58cm”.

Sau đó, bức tranh được đấu lại tại Sotheby’s Singapore ngày 6.4.2003 với kích thước được ghi là 92,5x57cm và thuộc về Collection Phạm Tuấn Hùng, Mỹ. Nhà sưu tập này có tên thường gọi “Tuấn Parmacy” bởi ông hoạt động trong lĩnh vực dược và là chủ nhân của rất nhiều bức tranh Việt thuộc hàng quý hiếm.

Lúc đầu, nhìn vào thông số kích thước, tưởng là hai bức khác nhau. Nhưng sau khi thu phóng về cùng một kích cỡ thì hai bức trùng khớp về chi tiết. Với một con mắt nhìn thông thường thì thông số 92,5x57cm hợp lý và chuẩn hơn. Có lẽ trong trường hợp đầu tiên, Nhà đấu giá có sự nhầm lẫn về mặt thông số.

Bức tranh này được vẽ năm 1932 khi Tô Ngọc Vân mới ra trường. Khoảng từ năm 1930 – 1939 ông vẽ khá nhiều lụa. Sau đó, ông tập trung chuyên sâu vào chất liệu sơn dầu. So với lụa, ông vẽ sơn dầu có phần ấn tượng, màu sắc rực rỡ hơn. Đặc biệt thành công và ấn tượng với bức tranh đã trở thành một trong những tác phẩm biểu tượng của Mỹ thuật hiện đại Việt Nam; đó chính là “Thiếu nữ bên hoa huệ”.

Hiện nay, đa phần những tác phẩm thuộc thời kỳ này của Tô Ngọc Vân có lẽ hiện đang ở những sưu tập nước ngoài. Cùng khoảng thời gian này ông sáng tác “Bức thư” trên cùng chất liệu lụa. Hiện tranh thuộc sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Với giá ước đấu từ 256,072 – 384,108 USD, giá bán 1.162.525 USD. Lần đầu tiên, một bức tranh của Tô Ngọc Vân được đấu giá công khai lên tới triệu đô. Và đó là một mức giá hoàn toàn xứng đáng với tên tuổi, vị trí của Tô Ngọc Vân trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 19 THÁNG SÁU, 2019

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019

65 năm Ngày mất họa sĩ Tô Ngọc Vân: Một nghệ sĩ bậc thầy và uyên bác

65 năm Ngày mất họa sĩ Tô Ngọc Vân: Một nghệ sĩ bậc thầy và uyên bác

TTXVN


(Thethaovanhoa.vn) - 48 năm tuổi đời, 28 năm tuổi nghề với những đóng góp lớn lao không mệt mỏi, đầy nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình và trọng trách, Tô Ngọc Vân thực sự đã bắc được những nhịp cầu nhân ái và trí thức từ nghệ thuật với các thế hệ nối tiếp, vì tương lai văn hóa nước nhà.

Hình ảnh người thiếu nữ bên những đóa hoa huệ trong chiếc áo dài trắng đã ám ảnh nhân gian bởi vẻ đẹp thanh thoát và dịu dàng.

Và vẻ đẹp đó đã được lưu giữ trong một bức tranh để rồi khi nhắc đến bức họa nổi tiếng này, người ta sẽ nghĩ ngay đến một trong những danh họa hàng đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người được vinh danh trong trong tứ đại danh họa của Việt Nam, đó là danh họa Tô Ngọc Vân. Ông mất ngày 17-6-1954, cách đây 65 năm.

Một nghệ sĩ bậc thầy         

Họa sĩ Tô Ngọc Vân sinh ngày 15-12-1906, tại Hà Nội, quê gốc làng Xuân Cầu, huyện Vân Giang, tỉnh Hưng Yên.          

Chú thích ảnh
Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến



20 tuổi, Tô Ngọc Vân thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tại đây, ông được tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới và bị cuốn hút mãnh liệt bởi phương pháp tạo hình trên chất liệu sơn dầu. Ông đã tìm thấy ở chất liệu này khả năng diễn tả trực tiếp, đầy đủ nhất những cảm xúc rạo rực, bừng cháy trước cảnh vật và con người của người nghệ sỹ.         

Ông là một trong những họa sĩ đầu tiên tiếp thu nghệ thuật phương Tây một cách sáng tạo, có kế thừa truyền thống dân tộc để tạo nên những tác phẩm chất lượng cao, tiêu biểu như: "Thuyền trên sông Hương", "Thiếu nữ bên hoa huệ", "Thiếu nữ bên hoa sen"... Riêng bức tranh "Thiếu nữ và hai em bé" của ông được xếp hạng là bảo vật quốc gia (2013).         

Đánh giá về các tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân, nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo cho biết: “Lịch sử mỹ thuật thế giới và Việt Nam đã khẳng định đề tài phụ nữ, nhất là thiếu nữ, những giai nhân của dân tộc và thời đại đã sớm trở thành một trang sử mỹ thuật đẹp. Trong đó, các tác phẩm sơn dầu đầu tiên của họa sĩ Tô Ngọc Vân như: “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Hai thiếu nữ và em bé”, “Buổi trưa”, “Thiếu nữ và hoa sen”… của ông đã đi vào lịch sử mỹ thuật Việt Nam, được sáng tác theo tuyên ngôn về nghệ thuật của ông. Đó là, hội họa là gỡ cái đẹp trong cử chỉ đẹp nhất, tươi nhất, có ý nghĩa nhất làm tươi cuộc đời”. Cũng theo nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ cùng thế hệ sớm định hình một phong cách sơn dầu đậm bản sắc dân tộc và thời đại. Biết tiếp thu tinh hoa khoa học sơn dầu Châu Âu, vẽ theo quan niệm tạo hình truyền thống phương Đông Việt Nam.

Có ảnh hưởng đến phong cách sơn dầu của các thế hệ họa sĩ hậu sinh. Đáng trân trọng hơn, khi đến với cách mạng và khi đi vào kháng chiến, được sống, chiến đấu cùng công-nông-binh, cuộc sống mới, con người mới đã đi vào tranh ông như cuộc đời mình vậy. Những vẻ đẹp hồn nhiên trong cuộc sống sôi động, dưới ngòi bút tài hoa của Tô Ngọc Vân đã trở thành những tác phẩm có giá trị, ghi lại một chặng đường lịch sử hào hùng của cả dân tộc, như: “Giáo viên dân tộc Thái”, “Cho ngựa ăn”, “Hành quân qua suối”… Các tác phẩm trực họa, ký họa theo bước chân các chiến sĩ đi khắp các nẻo đường chiến dịch như: “Nghỉ chân bên đổi”, “Hai chiến sĩ”, “Lão du kích” khẳng định một phong cách nghệ thuật hiện thực cách mạng, khác với phong cách hiện thực mộng mơ, hiện thực giàu chất thơ trước cách mạng.         

Ngoài vẽ tranh sơn dầu, Tô Ngọc Vân còn rất nổi tiếng về ký họa. Ông có cả bộ  ký họa về Điện Biên được giải Nhất triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1954 và rất nhiều ký họa chì của ông nằm trong bảo tàng mỹ thuật và được rất nhiều người sưu tập.

Chú thích ảnh
"Thiếu nữ bên hoa huệ" - bản in lại


Uyên bác về học thuật         

Không chỉ là một danh họa tài ba, Tô Ngọc Vân còn uyên bác về học thuật, một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành lý luận, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam, một nhà giáo mỹ thuật xuất sắc.         

Ông cùng với họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung là những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành Lý luận phê bình mỹ thuật ở Việt Nam. Cùng với sáng tác, ông viết nhiều bài báo về mỹ thuật có giá trị đăng trên báo Ngày Nay, Thanh Nghị, Trung Bắc Chủ nhật nhằm phổ cập, quảng bá, hướng dẫn và phê bình về mỹ thuật. Cùng với đó, họa sĩ Tô Ngọc Vân còn là một nhà giáo mỹ thuật xuất sắc. Ông tham gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, góp phần đào tạo nhiều họa sĩ tài danh thuộc thế hệ đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam. Ông cũng là người hai lần được giao nhiệm vụ làm hiệu trưởng xây dựng Trường Mỹ thuật, đó là trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam ngay sau cách mạng thành công cuối năm 1945 và Trường Mỹ thuật Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp năm 1949.         

Chú thích ảnh
'Hai thiếu nữ và em bé'' (1944, sơn dầu)


Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc. Mẫu tem Apsara của ông là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam.         

Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong một trận ném bom của địch vào ngày 17-6-1954 tại chân đèo Lũng Lô. Bức họa cuối cùng của ông - “Qua đèo Lũng Lô” đã khép lại sự nghiệp hội họa đang đà phát triển, trong sự tiếc nuối của bao người mến mộ tài năng Tô Ngọc Vân.         

Dẫu chỉ gắn bó với cuộc đời 48 năm, trong đó có 28 năm tuổi nghề, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã đóng góp công sức rất lớn cho nền mỹ thuật Việt Nam trên nhiều phương diện. 62 tác phẩm có mặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không phải là con số lớn trong toàn bộ những sáng tác của ông, nhưng phần lớn trong số đó đã được xếp vào hàng kho báu của nghệ thuật hội hoạ nước nhà.

         
Với những đóng góp lớn lao cho nền Mỹ thuật Việt Nam, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; được Bác Hồ gửi thư khen và tặng áo; Huy chương Vì sự nghiệp Văn họa Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam… Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I) cho các tác phẩm “Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ” - sơn dầu; “Hồ Chí Minh làm việc” - khắc gỗ; “Bộ đội nghỉ chân trên đồi” - sơn mài; “Xưởng quân giới” - sơn dầu; “Bộ tranh ký họa về nông dân cải cách ruộng đất”; “Bừa trên đồi” – bột màu; “Bộ tranh ký họa về bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ”. 

TTXVN 

Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 16/06/2019 10:30 GMT+7

65 năm Ngày mất họa sĩ Tô Ngọc Vân: Một nghệ sĩ bậc thầy và uyên bác

TTXVN


(Thethaovanhoa.vn) - 48 năm tuổi đời, 28 năm tuổi nghề với những đóng góp lớn lao không mệt mỏi, đầy nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình và trọng trách, Tô Ngọc Vân thực sự đã bắc được những nhịp cầu nhân ái và trí thức từ nghệ thuật với các thế hệ nối tiếp, vì tương lai văn hóa nước nhà.

Hình ảnh người thiếu nữ bên những đóa hoa huệ trong chiếc áo dài trắng đã ám ảnh nhân gian bởi vẻ đẹp thanh thoát và dịu dàng.

Và vẻ đẹp đó đã được lưu giữ trong một bức tranh để rồi khi nhắc đến bức họa nổi tiếng này, người ta sẽ nghĩ ngay đến một trong những danh họa hàng đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người được vinh danh trong trong tứ đại danh họa của Việt Nam, đó là danh họa Tô Ngọc Vân. Ông mất ngày 17-6-1954, cách đây 65 năm.

Một nghệ sĩ bậc thầy         

Họa sĩ Tô Ngọc Vân sinh ngày 15-12-1906, tại Hà Nội, quê gốc làng Xuân Cầu, huyện Vân Giang, tỉnh Hưng Yên.          

Chú thích ảnh
Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến



20 tuổi, Tô Ngọc Vân thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tại đây, ông được tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới và bị cuốn hút mãnh liệt bởi phương pháp tạo hình trên chất liệu sơn dầu. Ông đã tìm thấy ở chất liệu này khả năng diễn tả trực tiếp, đầy đủ nhất những cảm xúc rạo rực, bừng cháy trước cảnh vật và con người của người nghệ sỹ.         

Ông là một trong những họa sĩ đầu tiên tiếp thu nghệ thuật phương Tây một cách sáng tạo, có kế thừa truyền thống dân tộc để tạo nên những tác phẩm chất lượng cao, tiêu biểu như: "Thuyền trên sông Hương", "Thiếu nữ bên hoa huệ", "Thiếu nữ bên hoa sen"... Riêng bức tranh "Thiếu nữ và hai em bé" của ông được xếp hạng là bảo vật quốc gia (2013).         

Đánh giá về các tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân, nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo cho biết: “Lịch sử mỹ thuật thế giới và Việt Nam đã khẳng định đề tài phụ nữ, nhất là thiếu nữ, những giai nhân của dân tộc và thời đại đã sớm trở thành một trang sử mỹ thuật đẹp. Trong đó, các tác phẩm sơn dầu đầu tiên của họa sĩ Tô Ngọc Vân như: “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Hai thiếu nữ và em bé”, “Buổi trưa”, “Thiếu nữ và hoa sen”… của ông đã đi vào lịch sử mỹ thuật Việt Nam, được sáng tác theo tuyên ngôn về nghệ thuật của ông. Đó là, hội họa là gỡ cái đẹp trong cử chỉ đẹp nhất, tươi nhất, có ý nghĩa nhất làm tươi cuộc đời”. Cũng theo nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ cùng thế hệ sớm định hình một phong cách sơn dầu đậm bản sắc dân tộc và thời đại. Biết tiếp thu tinh hoa khoa học sơn dầu Châu Âu, vẽ theo quan niệm tạo hình truyền thống phương Đông Việt Nam.

Có ảnh hưởng đến phong cách sơn dầu của các thế hệ họa sĩ hậu sinh. Đáng trân trọng hơn, khi đến với cách mạng và khi đi vào kháng chiến, được sống, chiến đấu cùng công-nông-binh, cuộc sống mới, con người mới đã đi vào tranh ông như cuộc đời mình vậy. Những vẻ đẹp hồn nhiên trong cuộc sống sôi động, dưới ngòi bút tài hoa của Tô Ngọc Vân đã trở thành những tác phẩm có giá trị, ghi lại một chặng đường lịch sử hào hùng của cả dân tộc, như: “Giáo viên dân tộc Thái”, “Cho ngựa ăn”, “Hành quân qua suối”… Các tác phẩm trực họa, ký họa theo bước chân các chiến sĩ đi khắp các nẻo đường chiến dịch như: “Nghỉ chân bên đổi”, “Hai chiến sĩ”, “Lão du kích” khẳng định một phong cách nghệ thuật hiện thực cách mạng, khác với phong cách hiện thực mộng mơ, hiện thực giàu chất thơ trước cách mạng.         

Ngoài vẽ tranh sơn dầu, Tô Ngọc Vân còn rất nổi tiếng về ký họa. Ông có cả bộ  ký họa về Điện Biên được giải Nhất triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1954 và rất nhiều ký họa chì của ông nằm trong bảo tàng mỹ thuật và được rất nhiều người sưu tập.

Chú thích ảnh
"Thiếu nữ bên hoa huệ" - bản in lại


Uyên bác về học thuật         

Không chỉ là một danh họa tài ba, Tô Ngọc Vân còn uyên bác về học thuật, một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành lý luận, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam, một nhà giáo mỹ thuật xuất sắc.         

Ông cùng với họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung là những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành Lý luận phê bình mỹ thuật ở Việt Nam. Cùng với sáng tác, ông viết nhiều bài báo về mỹ thuật có giá trị đăng trên báo Ngày Nay, Thanh Nghị, Trung Bắc Chủ nhật nhằm phổ cập, quảng bá, hướng dẫn và phê bình về mỹ thuật. Cùng với đó, họa sĩ Tô Ngọc Vân còn là một nhà giáo mỹ thuật xuất sắc. Ông tham gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, góp phần đào tạo nhiều họa sĩ tài danh thuộc thế hệ đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam. Ông cũng là người hai lần được giao nhiệm vụ làm hiệu trưởng xây dựng Trường Mỹ thuật, đó là trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam ngay sau cách mạng thành công cuối năm 1945 và Trường Mỹ thuật Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp năm 1949.         

Chú thích ảnh
'Hai thiếu nữ và em bé'' (1944, sơn dầu)


Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc. Mẫu tem Apsara của ông là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam.         

Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong một trận ném bom của địch vào ngày 17-6-1954 tại chân đèo Lũng Lô. Bức họa cuối cùng của ông - “Qua đèo Lũng Lô” đã khép lại sự nghiệp hội họa đang đà phát triển, trong sự tiếc nuối của bao người mến mộ tài năng Tô Ngọc Vân.         

Dẫu chỉ gắn bó với cuộc đời 48 năm, trong đó có 28 năm tuổi nghề, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã đóng góp công sức rất lớn cho nền mỹ thuật Việt Nam trên nhiều phương diện. 62 tác phẩm có mặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không phải là con số lớn trong toàn bộ những sáng tác của ông, nhưng phần lớn trong số đó đã được xếp vào hàng kho báu của nghệ thuật hội hoạ nước nhà.

         
Với những đóng góp lớn lao cho nền Mỹ thuật Việt Nam, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; được Bác Hồ gửi thư khen và tặng áo; Huy chương Vì sự nghiệp Văn họa Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam… Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I) cho các tác phẩm “Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ” - sơn dầu; “Hồ Chí Minh làm việc” - khắc gỗ; “Bộ đội nghỉ chân trên đồi” - sơn mài; “Xưởng quân giới” - sơn dầu; “Bộ tranh ký họa về nông dân cải cách ruộng đất”; “Bừa trên đồi” – bột màu; “Bộ tranh ký họa về bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ”. 

TTXVN 

Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 16/06/2019 10:30 GMT+7

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

Vì sao tranh Tô Ngọc Vân bất ngờ vượt ngưỡng 'triệu đô'?

Vì sao tranh Tô Ngọc Vân bất ngờ vượt ngưỡng 'triệu đô'?

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Tại phiên đấu giá của nhà Christie’s Hong Kong (Trung Quốc) ngày 26/5/2019, bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã tăng giá gần 400% so với mức sàn, bán hơn 1,1 triệu USD, (27 tỷ đồng). Đó là một câu chuyện thú vị.


Trên thị trường đấu giá công khai, đây là lần đầu một tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân và của cả bộ tứ đầu tiên “Trí - Lân - Vân - Cẩn” vượt ngưỡng “triệu đô”. Trước đây ít có tác phẩm nào của Tô Ngọc Vân được đấu giá trên 50.000 USD, nên ngay khi Vỡ mộng xuất hiện với giá dự đoán từ 256.103 đến 384.155 USD, nhiều người đã choáng váng.

Cột mốc của Tô Ngọc Vân
Càng choáng váng hơn khi trước 1945, những tác phẩm tiêu biểu của Tô Ngọc Vân như Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Buổi trưa (1936), Bên hoa (1942), Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942)… đều là tranh sơn dầu. Những tác phẩm lụa của Tô Ngọc Vân mới hiển lộ và nổi danh gần đây.


Danh họa Tô Ngọc Vân thời trẻ



Bình luận về cột mốc này, nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi cho biết:
“Tranh lụa là một nghệ thuật rất đặc biệt của dòng tranh Việt Nam, nhất là tranh thời kỳ Đông Dương. Giá trị của tranh lụa Việt Nam đang ngày càng lũy tiến theo thời gian. Riêng với bức Vỡ mộng (1932) thì tôi đã xem tận mắt trong triển lãm Arts du Vietnam: La fleur du pêcher et l’oiseau d’azur (Nghệ thuật Việt Nam: Hoa đào và chim xanh) tại Bảo tàng Hoàng gia Mariemont, Vương quốc Bỉ, từ ngày 20/4 đến 18/8/2002”.
Anh phân tích thêm:
“Màu sắc trong tranh rất dịu dàng và trong trẻo, những sợi tơ lụa như dệt lên gương mặt của người mẫu, làn da mỏng manh mộng tàn. Ngay cả dáng dấp của người mẫu cũng mảnh mai yếu đuối, như mời gọi sự nâng niu... Tuy rằng chủ đề hơi buồn, nhưng nhìn vào tranh người ta thấy thần thái tranh Việt, với kỹ thuật và nét bút đặc thù của nó”.

Theo nhà môi giới nghệ thuật Linh Cao (chủ Gallery 42, Hà Nội) thì:
“Bức Vỡ mộng đẹp tự thân, nhiều chất Đông Đương, nên dễ tạo sức hút với khách quốc tế. Tô Ngọc Vân vẽ rất ít tranh lụa, nên tự nó đã thành quý hiếm, cộng với khổ tranh khá lớn, tình trạng bảo quản tốt, xuất xứ rõ ràng, nên càng đáng giá. Về nghệ thuật, nó có sự đối thoại thầm kín phương Đông giữa hai nhân vật, kiệm lời nhưng nhiều ý. Xét nét thì thấy vẽ chưa thật kỹ lưỡng, nhưng nhìn chung dáng vẻ thần thái đẹp, gam màu ngọt, chuẩn như mong đợi”.

Dù không đánh giá cao về bố cục và tạo hình của Vỡ mộng, nhưng nhà nghiên cứu Phạm Long cũng cho chúng ta biết một số lý do để tác phẩm này đạt giá cao. Anh nói:
“Thứ nhất, Tô Ngọc Vân là người có danh tiếng lớn, nằm trong “bộ tứ” đầu tiên, từng dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từng phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc từ năm 1950.
Thứ hai, tranh lụa của ông hiếm hơn sơn dầu và một hai chất liệu khác, đa số đã được bán trước năm 1945, nếu ai bảo quản tốt, rõ ràng về xuất xứ, thì ngày nay sẽ càng thu hút.
Thứ ba, cơn sốt đầu tư vào tranh Đông Dương đang lên nhanh, các đại gia Việt Nam đang có xu hướng đầu tư vào tranh Đông Dương để nhanh quay vòng vốn, thay vì thị trường bất động sản đang chững lại và nhiều lùm xùm.
Thứ tư, tranh Đông Dương dù có tiếng xấu là nhiều tranh giả, khó xác minh, nhưng hiện nay Việt Nam chưa có khả năng kiểm định tốt, đủ uy tín, nên các nhà buôn tranh không sợ lỗ, vẫn tìm được khách hàng, xác suất bán lại thu lời vẫn cao”.
Bức “Vỡ mộng” của Tô Ngọc Vân vừa bán hơn 27 tỷ đồng. (CHRISTIE'S - LOT 109)


Vài kiệt tác khác
Giá bán kỷ lục của Vỡ mộng là kết quả từ các phiên giao dịch công khai, chứ theo định giá để mua bảo hiểm thì bức sơn dầu Hai thiếu nữ và em bé (1044, bảo vật quốc gia số 65) của Tô Ngọc Vân đã hơn 1 triệu USD từ lâu. Tất nhiên bảo vật quốc gia thì vô giá, thường đứng ngoài mọi phiên giao dịch.
Về mặt danh tiếng, bức sơn dầu Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) được xem là nổi tiếng nhất của Tô Ngọc Vân. Bức này từng thuộc sở hữu của hai nhà sưu tập huyền thoại là Đức Minh và Hà Thúc Cần. Ông Cần mua với giá 15.000 USD thời bấy giờ. Nhưng sau khi ông Cần mất, chưa ai rõ hiện tác phẩm này đi đâu. Bức gốc này mà lên sàn đấu giá, triệu đô là bình thường.
Bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” được xem là nổi tiếng nhất của Tô Ngọc Vân



Bức Les brodeuses (Thợ thêu, lụa, 1932) cũng xứng đáng là kiệt tác lụa của Tô Ngọc Vân, cả về sự quý hiếm, giá trị tạo hình và tình trạng bảo quản. Bức này từng xuất hiện tại một triển lãm vào cuối năm 2012 tại bảo tàng Cernuschi (Paris, Pháp) và được chọn in bìa vựng tập.

Bức “Thợ thêu” hiện thuộc sưu tập tư nhân tại Pháp, xứng đáng là kiệt tác



Tô Ngọc Vân (15/12/1909-17/6/1954) thành danh từ đầu thập niên 1930 tại Hà Nội, sống hoàn toàn bằng việc dạy vẽ và bán tranh. Dù qua đời khá sớm, nhưng di sản ông để lại đa dạng và có nhiều tác phẩm tiêu biểu, trở thành kiệt tác của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Phần hồn của tác phẩm
“Một bức hội họa chân chính là một tác phẩm mang dấu vết tâm trạng của người đã sáng tạo ra nó, là cảnh vật thêm tâm hồn nghệ sĩ. Không là hình dung thản nhiên, lạnh nhạt của tạo vật, để thay tấm ảnh hay ghi chép hiện trạng khoa học. Phần hồn của tác phẩm không phơi trên tranh như hình một trái cây hay bóng dáng một cái nhà. Muốn hội được tất phải là người dễ cảm lại gặp lúc tâm thần thư thái lợi cho mỹ cảm. Những người đó hiếm, những lúc ấy hiếm, nên sự thưởng thức hoàn toàn một họa phẩm vẫn là việc hiếm”.
quan điểm của Tô Ngọc Vân, in trên tạp chí Thanh nghị số 13, tháng 5/1942.

Văn Bảy


Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Thứ Năm, 30/05/2019 06:47

Vì sao tranh Tô Ngọc Vân bất ngờ vượt ngưỡng 'triệu đô'?

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Tại phiên đấu giá của nhà Christie’s Hong Kong (Trung Quốc) ngày 26/5/2019, bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã tăng giá gần 400% so với mức sàn, bán hơn 1,1 triệu USD, (27 tỷ đồng). Đó là một câu chuyện thú vị.


Trên thị trường đấu giá công khai, đây là lần đầu một tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân và của cả bộ tứ đầu tiên “Trí - Lân - Vân - Cẩn” vượt ngưỡng “triệu đô”. Trước đây ít có tác phẩm nào của Tô Ngọc Vân được đấu giá trên 50.000 USD, nên ngay khi Vỡ mộng xuất hiện với giá dự đoán từ 256.103 đến 384.155 USD, nhiều người đã choáng váng.

Cột mốc của Tô Ngọc Vân
Càng choáng váng hơn khi trước 1945, những tác phẩm tiêu biểu của Tô Ngọc Vân như Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Buổi trưa (1936), Bên hoa (1942), Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942)… đều là tranh sơn dầu. Những tác phẩm lụa của Tô Ngọc Vân mới hiển lộ và nổi danh gần đây.


Danh họa Tô Ngọc Vân thời trẻ



Bình luận về cột mốc này, nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi cho biết:
“Tranh lụa là một nghệ thuật rất đặc biệt của dòng tranh Việt Nam, nhất là tranh thời kỳ Đông Dương. Giá trị của tranh lụa Việt Nam đang ngày càng lũy tiến theo thời gian. Riêng với bức Vỡ mộng (1932) thì tôi đã xem tận mắt trong triển lãm Arts du Vietnam: La fleur du pêcher et l’oiseau d’azur (Nghệ thuật Việt Nam: Hoa đào và chim xanh) tại Bảo tàng Hoàng gia Mariemont, Vương quốc Bỉ, từ ngày 20/4 đến 18/8/2002”.
Anh phân tích thêm:
“Màu sắc trong tranh rất dịu dàng và trong trẻo, những sợi tơ lụa như dệt lên gương mặt của người mẫu, làn da mỏng manh mộng tàn. Ngay cả dáng dấp của người mẫu cũng mảnh mai yếu đuối, như mời gọi sự nâng niu... Tuy rằng chủ đề hơi buồn, nhưng nhìn vào tranh người ta thấy thần thái tranh Việt, với kỹ thuật và nét bút đặc thù của nó”.

Theo nhà môi giới nghệ thuật Linh Cao (chủ Gallery 42, Hà Nội) thì:
“Bức Vỡ mộng đẹp tự thân, nhiều chất Đông Đương, nên dễ tạo sức hút với khách quốc tế. Tô Ngọc Vân vẽ rất ít tranh lụa, nên tự nó đã thành quý hiếm, cộng với khổ tranh khá lớn, tình trạng bảo quản tốt, xuất xứ rõ ràng, nên càng đáng giá. Về nghệ thuật, nó có sự đối thoại thầm kín phương Đông giữa hai nhân vật, kiệm lời nhưng nhiều ý. Xét nét thì thấy vẽ chưa thật kỹ lưỡng, nhưng nhìn chung dáng vẻ thần thái đẹp, gam màu ngọt, chuẩn như mong đợi”.

Dù không đánh giá cao về bố cục và tạo hình của Vỡ mộng, nhưng nhà nghiên cứu Phạm Long cũng cho chúng ta biết một số lý do để tác phẩm này đạt giá cao. Anh nói:
“Thứ nhất, Tô Ngọc Vân là người có danh tiếng lớn, nằm trong “bộ tứ” đầu tiên, từng dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từng phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc từ năm 1950.
Thứ hai, tranh lụa của ông hiếm hơn sơn dầu và một hai chất liệu khác, đa số đã được bán trước năm 1945, nếu ai bảo quản tốt, rõ ràng về xuất xứ, thì ngày nay sẽ càng thu hút.
Thứ ba, cơn sốt đầu tư vào tranh Đông Dương đang lên nhanh, các đại gia Việt Nam đang có xu hướng đầu tư vào tranh Đông Dương để nhanh quay vòng vốn, thay vì thị trường bất động sản đang chững lại và nhiều lùm xùm.
Thứ tư, tranh Đông Dương dù có tiếng xấu là nhiều tranh giả, khó xác minh, nhưng hiện nay Việt Nam chưa có khả năng kiểm định tốt, đủ uy tín, nên các nhà buôn tranh không sợ lỗ, vẫn tìm được khách hàng, xác suất bán lại thu lời vẫn cao”.
Bức “Vỡ mộng” của Tô Ngọc Vân vừa bán hơn 27 tỷ đồng. (CHRISTIE'S - LOT 109)


Vài kiệt tác khác
Giá bán kỷ lục của Vỡ mộng là kết quả từ các phiên giao dịch công khai, chứ theo định giá để mua bảo hiểm thì bức sơn dầu Hai thiếu nữ và em bé (1044, bảo vật quốc gia số 65) của Tô Ngọc Vân đã hơn 1 triệu USD từ lâu. Tất nhiên bảo vật quốc gia thì vô giá, thường đứng ngoài mọi phiên giao dịch.
Về mặt danh tiếng, bức sơn dầu Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) được xem là nổi tiếng nhất của Tô Ngọc Vân. Bức này từng thuộc sở hữu của hai nhà sưu tập huyền thoại là Đức Minh và Hà Thúc Cần. Ông Cần mua với giá 15.000 USD thời bấy giờ. Nhưng sau khi ông Cần mất, chưa ai rõ hiện tác phẩm này đi đâu. Bức gốc này mà lên sàn đấu giá, triệu đô là bình thường.
Bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” được xem là nổi tiếng nhất của Tô Ngọc Vân



Bức Les brodeuses (Thợ thêu, lụa, 1932) cũng xứng đáng là kiệt tác lụa của Tô Ngọc Vân, cả về sự quý hiếm, giá trị tạo hình và tình trạng bảo quản. Bức này từng xuất hiện tại một triển lãm vào cuối năm 2012 tại bảo tàng Cernuschi (Paris, Pháp) và được chọn in bìa vựng tập.

Bức “Thợ thêu” hiện thuộc sưu tập tư nhân tại Pháp, xứng đáng là kiệt tác



Tô Ngọc Vân (15/12/1909-17/6/1954) thành danh từ đầu thập niên 1930 tại Hà Nội, sống hoàn toàn bằng việc dạy vẽ và bán tranh. Dù qua đời khá sớm, nhưng di sản ông để lại đa dạng và có nhiều tác phẩm tiêu biểu, trở thành kiệt tác của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Phần hồn của tác phẩm
“Một bức hội họa chân chính là một tác phẩm mang dấu vết tâm trạng của người đã sáng tạo ra nó, là cảnh vật thêm tâm hồn nghệ sĩ. Không là hình dung thản nhiên, lạnh nhạt của tạo vật, để thay tấm ảnh hay ghi chép hiện trạng khoa học. Phần hồn của tác phẩm không phơi trên tranh như hình một trái cây hay bóng dáng một cái nhà. Muốn hội được tất phải là người dễ cảm lại gặp lúc tâm thần thư thái lợi cho mỹ cảm. Những người đó hiếm, những lúc ấy hiếm, nên sự thưởng thức hoàn toàn một họa phẩm vẫn là việc hiếm”.
quan điểm của Tô Ngọc Vân, in trên tạp chí Thanh nghị số 13, tháng 5/1942.

Văn Bảy


Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Thứ Năm, 30/05/2019 06:47

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

1 PHIÊN ĐẤU CÓ 2 TRANH VIỆT BÁN TRÊN 1 TRIỆU USD - CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng - Văn Bảy

CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Phiên đấu Thế kỷ 20 và nghệ thuật đương đại tiếp tục diễn ra tại Christie’s Hong Kong vào sáng nay 26/5/2019, từ lúc 10h (tức 9h Việt Nam). Với 138/232 lô hàng dành cho nghệ thuật Việt, đây là một sự áp đảo về số lượng. CỰC SỐC: Kết quả có 138/138 lô hàng Việt Nam được bán.


Bức tiêu điểm của Lê Phổ là Khỏa thân (sơn dầu, 90,5cm x 180,5cm, 1931) không nằm ngoài dự đoán từ sớm, đã bán 10.925.000 HKD, tương đương gần 1,4 triệu USD, hơn 32,3 tỷ đồng.



Kiệt tác "Khỏa thân" của Lê Phổ - quán quân mới về giá bán công khai của tranh Việt (CHRISTIE'S - LOT 107)


Bức này có dự đoán ban đầu từ 4.000.000 đến 6.000.000 HKD, thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham (California, USA), tăng giá hơn 250% giá sàn.

Một tác phẩm khỏa thân độc đáo khác của Lê Phổ là Le Bain de Mer (Tắm biển, lụa bồi giấy, 88cm x 56,5cm, khoảng 1938) đã bán 3.965.000 HKD, tương đương hơn 11,7 tỷ đồng, trong khi giá dự đoán từ 2.000.000 đến 3.000.000 HKD. Bức này cũng thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham.
Bức "Tắm biển" của Lê Phổ mới lạ, táo bạo về bố cục. (CHRISTIE'S - LOT 106)

Cả hai tác phẩm khỏa thân này đều xứng tầm là kiệt tác, vì có ý nghĩa lớn về mặt nghệ thuật, được vẽ từ rất sớm - trước năm 1940 - nên đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử hội họa Việt Nam. Với bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ, gần như việc vẽ một tranh khỏa thân là điều không thể tưởng tượng và khó chấp nhận được.
Nếu bức Khỏa thân có bố cục và cảm hứng Tây phương, thì bức Tắm biển có cảm hứng từ nàng Tiên Dung táo bạo, sẵn sàng vượt qua ràng buộc, sẵn sàng “tắm tiên” những nơi mình thích.
Cũng nên lưu ý thêm rằng, thời bấy giờ tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội, gần như tất cả mẫu đều là nam giới và đều là tù nhân được đưa ra khỏi nơi giam giữ vài giờ để phục vụ cho việc giáo dục. Vẽ khỏa thân nữ như Lê Phổ không chỉ táo bạo về mặt tư duy hình họa, mà còn là điều khó khăn về nhiều thứ, trong đó có cả chuyện vượt lề thói bảo thủ.

Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã bán hơn 27 tỷ đồng, hơn 1,1 triệu USD, tăng gần 400% so với mức sàn.
Không bất ngờ khi kiệt tác này trở nên cao giá nhất của Tô Ngọc Vân và gần như cao giá nhất của cả bộ tứ Trí - Lân - Vân - Cẩn trên thị trường công khai. Chúng tôi sẽ trở lại với bức này trong một dịp gần đây.

Bức "Gia đình ngư dân" của danh họa Lương Xuân Nhị. (CHRISTIE'S - LOT 110)

Bức Le Pécheur et Sa Famille (Gia đình ngư dân, lụa, 67cm x 110cm, 1940) của Lương Xuân Nhị bán hơn 13,8 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Vị quan" của Vũ Cao Đàm. (CHRISTIE'S - LOT 111)

Bức Le Mandarin (Vị quan, lụa, 145,5cm x 71cm, 1942) của Vũ Cao Đàm bán hơn 5,5 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Say ngủ" của Mai Trung Thứ. (CHRISTIE'S - LOT 112)

Bức Le Sommeil (Say ngủ, lụa, 65cm x 54,5cm, 1938) của Mai Trung Thứ bán 7,4 tỷ đồng. Bức Femmes (Quý cô, sơn mài, 80cm x 60cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí bán hơn 2,7 tỷ đồng. Bức Mère et Enfant (Mẫu tử, lụa, 63cm x 49cm, 1960) của Lê Thị Lựu bán hơn 4,8 tỷ đồng.


Bức "Mẫu tử" của Lê Thị Lựu. (CHRISTIE'S - LOT 104)


Bức "Quý cô" của Nguyễn Gia Trí (CHRISTIE'S - LOT 113)
Bức Múa cổ (sơn mài, 80cm x 95cm, 1974) của Nguyễn Tư Nghiêm bán gần 630 triệu đồng. Bức Vịnh Hạ Long (sơn mài, 40,5cm x 60cm) của Phạm Văn Đôn bán hơn 592 triệu đồng. Bức Mẹ và con (sơn dầu trên toan, 149cm x 149cm, 1999) của Nguyễn Trung bán hơn 592 triệu đồng.


Bức "Múa cổ" của Nguyễn Tư Nghiêm. (CHRISTIE'S - LOT 123)


Bức "Vịnh Hạ Long" của Phạm Văn Đôn. (CHRISTIE'S - LOT 122)


Bức "Mẹ và con" của Nguyễn Trung. (CHRISTIE'S - LOT 124)

Chừng 6-7 năm trước thôi, khi đứng gần các danh họa trong/của khu vực Đông Nam Á như Affandi (1907-1990), Hendra Gunawan (1918-1983), Lee Man Fong (1913-1988), S. Sudjojono (1914-1986), Adrien-Jean Le Mayeur De Merprès (1880-1958), Willem Gerard Hofker (1902-1981), Fernando Cueto Amorsolo (1892-1972), Raden Saleh Sjarif Boestaman (1807-1880), Arie Smit (1916-2016), Chen Wen Hsi (1906-1991)…, giá bán dự đoán của tranh Việt có ít nhiều lép vế.

Bây giờ đã khác, tình thế ngang ngửa nhiều hơn, đôi khi tiêu điểm như phiên này, khi khởi động đã là nghệ thuật Việt Nam, với 5-6 tác phẩm dẫn đầu về thứ tự và giá bán.

Phiên đấu này cũng giới thiệu 17 tác phẩm thuộc sưu tập của Tuấn Phạm (California, Mỹ), trong đó có vài kiệt tác. Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn) tình cờ mua một tranh Lê Phổ tại Nam Florida vào những năm cuối thập niên 1990, tưởng đó là tranh Trung Quốc, do thấy chữ Nho. Nhưng sự tình cờ đó làm nên định mệnh, 20 năm qua ông đã nhanh chóng “càn quét”, để ngày nay trở thành một “gấu bự” tranh Việt.
Nhà sưu tập Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn). Ảnh trích từ phim của Christie’s.

“Tôi bắt đầu Phamatech, một công ty công nghệ sinh học và phòng thí nghiệm, vào năm 1991. Nhiệm vụ của tôi là sử dụng các công nghệ mới và mới nổi để cung cấp nhận thức về sức khỏe tốt hơn, chẩn đoán sớm các điều kiện y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống và lựa chọn điều trị cho bệnh nhân. Sau đó, tôi không chỉ có thể đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình trong việc xây dựng một công ty đáng kính và có ý nghĩa, tôi còn có thể chia sẻ thành công của Phamatech bằng cách trả lại cho cộng đồng. Trong nhiều năm, Phamatech là nhà tài trợ thường xuyên cho nhiều sự kiện cộng đồng. Chúng tôi giúp thành lập một nhóm phi lợi nhuận dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, và trong 10 năm qua, Phamatech đã trao học bổng đại học cho nhiều sinh viên kém đặc quyền để đạt được ước mơ của họ trong đại học” - Tuấn Phạm chia sẻ.

Nhà sưu tập Tuấn Phạm nói thêm: “Tôi đã gắn bó với nhiều bức tranh, nhưng giống như họa sĩ vẽ nó, nó thực sự không phải là tranh của tôi, cho nên nó tiếp tục tìm vị trí của nó trong số các nhà sưu tập thực thụ hơn. Hành trình của tôi đã hoàn tất, đã đến lúc để người khác bắt đầu hành trình cá nhân của riêng họ”.
Văn Bảy



Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 26/05/2019 10:48




CHRISTIE'S
SALE 15616

20th Century & Contemporary Art

(Morning Session)
Hong Kong|26 May 2019

LOT 109 |AN IMPORTANT COLLECTION OF VIETNAMESE PAINTINGS FEATURING THE TUAN PHAM COLLECTION
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)

Price realised
HKD 9,125,000

Estimate
HKD 2,000,000 - HKD 3,000,000

Condition Report
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)
signed and dated 'To ngoc Van 1932'; inscribed in Chinese (upper left)
ink and gouache on silk
92.5 x 57 cm. (36 3/8 x 22 1/2 in.)
Painted in 1932

Provenance
Agence Economique de l'Indochine (AGINDO), Paris
Private Collection, Paris, 1993
Anon. Sale, Sotheby's Singapore, 6 April 2003, lot 110
Acquired at the above sale by the present owner
Collection of Mr Tuan H Pham, California, USA
Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

CỰC SỐC: Hai tranh khỏa thân của Lê Phổ bán hơn 44 tỷ đồng

Văn Bảy

(Thethaovanhoa.vn) - Phiên đấu Thế kỷ 20 và nghệ thuật đương đại tiếp tục diễn ra tại Christie’s Hong Kong vào sáng nay 26/5/2019, từ lúc 10h (tức 9h Việt Nam). Với 138/232 lô hàng dành cho nghệ thuật Việt, đây là một sự áp đảo về số lượng. CỰC SỐC: Kết quả có 138/138 lô hàng Việt Nam được bán.


Bức tiêu điểm của Lê Phổ là Khỏa thân (sơn dầu, 90,5cm x 180,5cm, 1931) không nằm ngoài dự đoán từ sớm, đã bán 10.925.000 HKD, tương đương gần 1,4 triệu USD, hơn 32,3 tỷ đồng.



Kiệt tác "Khỏa thân" của Lê Phổ - quán quân mới về giá bán công khai của tranh Việt (CHRISTIE'S - LOT 107)


Bức này có dự đoán ban đầu từ 4.000.000 đến 6.000.000 HKD, thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham (California, USA), tăng giá hơn 250% giá sàn.

Một tác phẩm khỏa thân độc đáo khác của Lê Phổ là Le Bain de Mer (Tắm biển, lụa bồi giấy, 88cm x 56,5cm, khoảng 1938) đã bán 3.965.000 HKD, tương đương hơn 11,7 tỷ đồng, trong khi giá dự đoán từ 2.000.000 đến 3.000.000 HKD. Bức này cũng thuộc sưu tập của Mr Tuan H. Pham.
Bức "Tắm biển" của Lê Phổ mới lạ, táo bạo về bố cục. (CHRISTIE'S - LOT 106)

Cả hai tác phẩm khỏa thân này đều xứng tầm là kiệt tác, vì có ý nghĩa lớn về mặt nghệ thuật, được vẽ từ rất sớm - trước năm 1940 - nên đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử hội họa Việt Nam. Với bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ, gần như việc vẽ một tranh khỏa thân là điều không thể tưởng tượng và khó chấp nhận được.
Nếu bức Khỏa thân có bố cục và cảm hứng Tây phương, thì bức Tắm biển có cảm hứng từ nàng Tiên Dung táo bạo, sẵn sàng vượt qua ràng buộc, sẵn sàng “tắm tiên” những nơi mình thích.
Cũng nên lưu ý thêm rằng, thời bấy giờ tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội, gần như tất cả mẫu đều là nam giới và đều là tù nhân được đưa ra khỏi nơi giam giữ vài giờ để phục vụ cho việc giáo dục. Vẽ khỏa thân nữ như Lê Phổ không chỉ táo bạo về mặt tư duy hình họa, mà còn là điều khó khăn về nhiều thứ, trong đó có cả chuyện vượt lề thói bảo thủ.

Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Bức Les Désabusées (Vỡ mộng, lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã bán hơn 27 tỷ đồng, hơn 1,1 triệu USD, tăng gần 400% so với mức sàn.
Không bất ngờ khi kiệt tác này trở nên cao giá nhất của Tô Ngọc Vân và gần như cao giá nhất của cả bộ tứ Trí - Lân - Vân - Cẩn trên thị trường công khai. Chúng tôi sẽ trở lại với bức này trong một dịp gần đây.

Bức "Gia đình ngư dân" của danh họa Lương Xuân Nhị. (CHRISTIE'S - LOT 110)

Bức Le Pécheur et Sa Famille (Gia đình ngư dân, lụa, 67cm x 110cm, 1940) của Lương Xuân Nhị bán hơn 13,8 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Vị quan" của Vũ Cao Đàm. (CHRISTIE'S - LOT 111)

Bức Le Mandarin (Vị quan, lụa, 145,5cm x 71cm, 1942) của Vũ Cao Đàm bán hơn 5,5 tỷ đồng. Đây cũng là một trong vài bức có giá bán công khai cao nhất của danh họa này.

Bức "Say ngủ" của Mai Trung Thứ. (CHRISTIE'S - LOT 112)

Bức Le Sommeil (Say ngủ, lụa, 65cm x 54,5cm, 1938) của Mai Trung Thứ bán 7,4 tỷ đồng. Bức Femmes (Quý cô, sơn mài, 80cm x 60cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí bán hơn 2,7 tỷ đồng. Bức Mère et Enfant (Mẫu tử, lụa, 63cm x 49cm, 1960) của Lê Thị Lựu bán hơn 4,8 tỷ đồng.


Bức "Mẫu tử" của Lê Thị Lựu. (CHRISTIE'S - LOT 104)


Bức "Quý cô" của Nguyễn Gia Trí (CHRISTIE'S - LOT 113)
Bức Múa cổ (sơn mài, 80cm x 95cm, 1974) của Nguyễn Tư Nghiêm bán gần 630 triệu đồng. Bức Vịnh Hạ Long (sơn mài, 40,5cm x 60cm) của Phạm Văn Đôn bán hơn 592 triệu đồng. Bức Mẹ và con (sơn dầu trên toan, 149cm x 149cm, 1999) của Nguyễn Trung bán hơn 592 triệu đồng.


Bức "Múa cổ" của Nguyễn Tư Nghiêm. (CHRISTIE'S - LOT 123)


Bức "Vịnh Hạ Long" của Phạm Văn Đôn. (CHRISTIE'S - LOT 122)


Bức "Mẹ và con" của Nguyễn Trung. (CHRISTIE'S - LOT 124)

Chừng 6-7 năm trước thôi, khi đứng gần các danh họa trong/của khu vực Đông Nam Á như Affandi (1907-1990), Hendra Gunawan (1918-1983), Lee Man Fong (1913-1988), S. Sudjojono (1914-1986), Adrien-Jean Le Mayeur De Merprès (1880-1958), Willem Gerard Hofker (1902-1981), Fernando Cueto Amorsolo (1892-1972), Raden Saleh Sjarif Boestaman (1807-1880), Arie Smit (1916-2016), Chen Wen Hsi (1906-1991)…, giá bán dự đoán của tranh Việt có ít nhiều lép vế.

Bây giờ đã khác, tình thế ngang ngửa nhiều hơn, đôi khi tiêu điểm như phiên này, khi khởi động đã là nghệ thuật Việt Nam, với 5-6 tác phẩm dẫn đầu về thứ tự và giá bán.

Phiên đấu này cũng giới thiệu 17 tác phẩm thuộc sưu tập của Tuấn Phạm (California, Mỹ), trong đó có vài kiệt tác. Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn) tình cờ mua một tranh Lê Phổ tại Nam Florida vào những năm cuối thập niên 1990, tưởng đó là tranh Trung Quốc, do thấy chữ Nho. Nhưng sự tình cờ đó làm nên định mệnh, 20 năm qua ông đã nhanh chóng “càn quét”, để ngày nay trở thành một “gấu bự” tranh Việt.
Nhà sưu tập Tuấn Phạm (Phạm H. Tuấn). Ảnh trích từ phim của Christie’s.

“Tôi bắt đầu Phamatech, một công ty công nghệ sinh học và phòng thí nghiệm, vào năm 1991. Nhiệm vụ của tôi là sử dụng các công nghệ mới và mới nổi để cung cấp nhận thức về sức khỏe tốt hơn, chẩn đoán sớm các điều kiện y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống và lựa chọn điều trị cho bệnh nhân. Sau đó, tôi không chỉ có thể đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình trong việc xây dựng một công ty đáng kính và có ý nghĩa, tôi còn có thể chia sẻ thành công của Phamatech bằng cách trả lại cho cộng đồng. Trong nhiều năm, Phamatech là nhà tài trợ thường xuyên cho nhiều sự kiện cộng đồng. Chúng tôi giúp thành lập một nhóm phi lợi nhuận dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, và trong 10 năm qua, Phamatech đã trao học bổng đại học cho nhiều sinh viên kém đặc quyền để đạt được ước mơ của họ trong đại học” - Tuấn Phạm chia sẻ.

Nhà sưu tập Tuấn Phạm nói thêm: “Tôi đã gắn bó với nhiều bức tranh, nhưng giống như họa sĩ vẽ nó, nó thực sự không phải là tranh của tôi, cho nên nó tiếp tục tìm vị trí của nó trong số các nhà sưu tập thực thụ hơn. Hành trình của tôi đã hoàn tất, đã đến lúc để người khác bắt đầu hành trình cá nhân của riêng họ”.
Văn Bảy



Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ THỂ THAO & VĂN HÓA - TTXVN - Chủ Nhật, 26/05/2019 10:48




CHRISTIE'S
SALE 15616

20th Century & Contemporary Art

(Morning Session)
Hong Kong|26 May 2019

LOT 109 |AN IMPORTANT COLLECTION OF VIETNAMESE PAINTINGS FEATURING THE TUAN PHAM COLLECTION
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)

Price realised
HKD 9,125,000

Estimate
HKD 2,000,000 - HKD 3,000,000

Condition Report
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
Les Désabusées (Disillusionment)
signed and dated 'To ngoc Van 1932'; inscribed in Chinese (upper left)
ink and gouache on silk
92.5 x 57 cm. (36 3/8 x 22 1/2 in.)
Painted in 1932

Provenance
Agence Economique de l'Indochine (AGINDO), Paris
Private Collection, Paris, 1993
Anon. Sale, Sotheby's Singapore, 6 April 2003, lot 110
Acquired at the above sale by the present owner
Collection of Mr Tuan H Pham, California, USA
Bức "Vỡ mộng" của Tô Ngọc Vân đây là bước đột phá về giá bán công khai của danh họa này. (CHRISTIE'S - LOT 109)

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Bức tranh "Ông lão du kích" của Tô Ngọc Vân và cuộc “trao trả” mỹ mãn

Bức tranh "Ông lão du kích" của Tô Ngọc Vân và cuộc “trao trả” mỹ mãn

Q.V


Chuyện các họa sĩ chơi, sưu tập, lưu giữ tranh của nhau vốn là chuyện bình thường. Tôi không biết do đâu và từ bao giờ ông Trần Văn Cẩn lại có bức tranh ấy (xem minh họa).
TÔ NGỌC VÂN (1906-1954) – Ông lão du kích. 1949 Thuốc nước. Sưu tập của gia đình tác giả.



Bức tranh vẽ một “ông lão du kích” đứng cầm súng, bằng chì than, thuốc nước, đát 1949, có thể vào thời gian Tô Ngọc Vân đang hoạt động ở Trung đoàn Thủ đô (em nuôi của Hội Văn nghệ Việt Nam), nơi có Chính Hữu tác giả của bài thơ “Đồng chí”.

… Ngày tôi thấy bức tranh lần đầu tiên cũng là ngày tôi đến nhà ông Trần Văn Cẩn để mượn bức tranh cho cuộc triển lãm “Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương” tổ chức tại Gallery 61 Tràng Tiền, khoảng 1990-1991.

Như đã hẹn trước, khi tôi đến thì cô Hồng (Trần Thị Hồng) đã cuộn bức tranh và đặt ở trên mặt bàn. Cô trải tranh ra, bảo: “Đây nhé, nhớ giữ cẩn thận.” Ông Cẩn đang mệt, râu tóc trắng xóa, ngồi nhìn “gườm gườm”, không nói, chỉ gật gù. Hình như ông muốn có một lời giải thích về nguồn gốc của bức tranh, nhưng không còn sức.

Triển lãm xong, tôi vẫn còn giữ bức tranh khá lâu, cho đến khi cô Hồng… đòi! Rất may là tôi đã kịp nhờ anh Đào Việt chụp lại để làm tư liệu.


* * *

Theo lời kể của bố tôi, khi Tô Ngọc Vân vẽ bức tranh ấy, bố tôi có đi cùng ông Vân (bố tôi cũng đã từng phục vụ trong quân đội từ cuối 1947 đến cuối 1950). Nếu bố tôi nhớ không nhầm thì bức tranh có hai bản, một bản (mà sau không biết thế nào ông Trần Văn Cẩn lại giữ), một bản do Tô Ngọc Vân đã chép lại, “cũng qua qua thôi”, để đổi cho ông cụ “người mẫu” lấy một con gà to. “Ông Vân mê món gà rán tỏi lắm – bố tôi nói – nhưng mọi người chung quanh cũng được hưởng theo”.

Bố tôi còn bảo: Ông Cẩn giữ bức tranh của ông Vân là “phạm luật”, sao lâu rồi không đem trả lại cho nhà người ta (nhà ông Vân)?


* * *

Bẵng đi gần 10 năm, thỉnh thoảng gặp cô Hồng, tôi vẫn nhắc bức tranh của Tô Ngọc Vân. Và lần nào cũng như lần nào, cô đều trả lời bằng đúng một câu: “Mày hết chuyện rồi à?”

Một lần, gặp bà Nguyễn Thị Hoàn, vợ ông Vân, khi ấy đã gần 90 tuổi, tôi có hỏi bà về bức tranh, bà bảo: “Nghe nói như thế, nhưng liệu có xin lại được không?” Tôi hỏi lại “Thế bà có muốn xin lại không?” Bà Hoàn cười: “Bà đố anh đấy!”

* * *

Năm 2001, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày sinh của Tô Ngọc Vân. Trước ngày lễ ít hôm, tôi lại đến nhà ông Trần Văn Cẩn (ông Cẩn đã mất năm 1994). Tôi nói ngay với cô Hồng, rằng nhân dịp này, cô nên trao lại bức tranh của Tô Ngọc Vân cho gia đình ông Vân, khi bà Vân vẫn còn sống…

Không ngờ cô Hồng bị tác động thật. Cô ra chiều suy nghĩ, nhưng vẫn im lặng. Rồi cô chuyển sang nói chuyện khác.

Thái độ lừng khừng của cô làm tôi phát cáu, tôi gắt lên: “Trả cho người ta đi chứ giữ làm gì nữa. Có phải của mình đâu.”

Nghe vậy, cô Hồng sưng mặt, quay đi, miệng lẩm bẩm: “Thôi được. Mày đã nói thế thì tao trả, được chưa?”

Thừa cơ, tôi bồi thêm: “Không chỉ trả, mà còn…”

– Cái gì? Ơ hay cái thằng này! Cô Hồng ngạc nhiên.

– Cô còn phải tuyên bố trước mọi người là cháu đòi thì cô mới chịu trả. Tôi nói như ra điều kiện.

Cô Hồng cười “rống” lên, nói như mếu:

– Úi cha mẹ tôi ơi! Kể công hả? Tao sẽ có cách nói của tao. Nhưng hôm ấy mày phải đến đón tao đi thì tao mới đi.

Trước khi tôi ra về, cô còn nói vóng theo:

– Nhớ đến sớm để còn kịp đi ăn bún thang với tao!

* * *

Giờ G đã điểm. Sáng hôm ấy trời se lạnh, có sương mù. Tôi đến đón cô Hồng thì thấy bức tranh của Tô Ngọc Vân đã được cô lồng trong khung kính. Tôi ưng ý lắm.

Cô và tôi đi bộ sang phố Nguyễn Du ăn bún thang, ở quán vỉa hè “ngon lắm mày ạ”. Tiền ăn do cô “đài thọ”… Rồi tôi chở cô cùng bức tranh bằng xe máy.

Buổi lễ kỷ niệm 95 năm ngày sinh của Tô Ngọc Vân được tổ chức rất trọng thể tại 51 Trần Hưng Đạo, có cả Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, cụ Vũ Khiêu và bà Hoàn vợ ông Vân, đến dự. Hội Mỹ thuật cũng đã chuẩn bị một cái giá vẽ để đặt bức tranh. Nghi thức “trao trả” được xếp vào giữa chương trình.

Đúng như “thỏa thuận”, khi trao bức tranh cho gia đình Tô Ngọc Vân, cô Trần Thị Hồng đã giới thiệu tôi là người – “đã gợi ý cho việc này!”

Cô Hồng vừa dứt lời, anh Lê Trọng Lân đập vào vai tôi, bảo khẽ: “Ai mà khiếp thế nhỉ, đến Trần Thị Hồng cũng phải thua!”

Với tôi, một sự kết thúc như vậy cũng là đủ (tôi còn được ăn của cô Hồng một bát bún thang), còn đối với “lẽ tự nhiên” thì phải nói là quá mỹ mãn!

Kể từ hôm ấy, tôi không bao giờ được gặp lại bà Nguyễn Thị Hoàn vợ ông Vân nữa. Bà đã mất sau đó mấy năm.

Thỉnh thoảng gặp anh Tô Ngọc Thành, tôi có hỏi thăm về bức tranh “Ông lão du kích” của Tô Ngọc Vân. Theo anh Thành nói: “Giờ ông lão du kích đang ở nhà ông anh cả tôi, ông Tô Ngọc Thanh”.

Q.V


Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 28 THÁNG MỘT, 2019

Bức tranh "Ông lão du kích" của Tô Ngọc Vân và cuộc “trao trả” mỹ mãn

Q.V


Chuyện các họa sĩ chơi, sưu tập, lưu giữ tranh của nhau vốn là chuyện bình thường. Tôi không biết do đâu và từ bao giờ ông Trần Văn Cẩn lại có bức tranh ấy (xem minh họa).
TÔ NGỌC VÂN (1906-1954) – Ông lão du kích. 1949 Thuốc nước. Sưu tập của gia đình tác giả.



Bức tranh vẽ một “ông lão du kích” đứng cầm súng, bằng chì than, thuốc nước, đát 1949, có thể vào thời gian Tô Ngọc Vân đang hoạt động ở Trung đoàn Thủ đô (em nuôi của Hội Văn nghệ Việt Nam), nơi có Chính Hữu tác giả của bài thơ “Đồng chí”.

… Ngày tôi thấy bức tranh lần đầu tiên cũng là ngày tôi đến nhà ông Trần Văn Cẩn để mượn bức tranh cho cuộc triển lãm “Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương” tổ chức tại Gallery 61 Tràng Tiền, khoảng 1990-1991.

Như đã hẹn trước, khi tôi đến thì cô Hồng (Trần Thị Hồng) đã cuộn bức tranh và đặt ở trên mặt bàn. Cô trải tranh ra, bảo: “Đây nhé, nhớ giữ cẩn thận.” Ông Cẩn đang mệt, râu tóc trắng xóa, ngồi nhìn “gườm gườm”, không nói, chỉ gật gù. Hình như ông muốn có một lời giải thích về nguồn gốc của bức tranh, nhưng không còn sức.

Triển lãm xong, tôi vẫn còn giữ bức tranh khá lâu, cho đến khi cô Hồng… đòi! Rất may là tôi đã kịp nhờ anh Đào Việt chụp lại để làm tư liệu.


* * *

Theo lời kể của bố tôi, khi Tô Ngọc Vân vẽ bức tranh ấy, bố tôi có đi cùng ông Vân (bố tôi cũng đã từng phục vụ trong quân đội từ cuối 1947 đến cuối 1950). Nếu bố tôi nhớ không nhầm thì bức tranh có hai bản, một bản (mà sau không biết thế nào ông Trần Văn Cẩn lại giữ), một bản do Tô Ngọc Vân đã chép lại, “cũng qua qua thôi”, để đổi cho ông cụ “người mẫu” lấy một con gà to. “Ông Vân mê món gà rán tỏi lắm – bố tôi nói – nhưng mọi người chung quanh cũng được hưởng theo”.

Bố tôi còn bảo: Ông Cẩn giữ bức tranh của ông Vân là “phạm luật”, sao lâu rồi không đem trả lại cho nhà người ta (nhà ông Vân)?


* * *

Bẵng đi gần 10 năm, thỉnh thoảng gặp cô Hồng, tôi vẫn nhắc bức tranh của Tô Ngọc Vân. Và lần nào cũng như lần nào, cô đều trả lời bằng đúng một câu: “Mày hết chuyện rồi à?”

Một lần, gặp bà Nguyễn Thị Hoàn, vợ ông Vân, khi ấy đã gần 90 tuổi, tôi có hỏi bà về bức tranh, bà bảo: “Nghe nói như thế, nhưng liệu có xin lại được không?” Tôi hỏi lại “Thế bà có muốn xin lại không?” Bà Hoàn cười: “Bà đố anh đấy!”

* * *

Năm 2001, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày sinh của Tô Ngọc Vân. Trước ngày lễ ít hôm, tôi lại đến nhà ông Trần Văn Cẩn (ông Cẩn đã mất năm 1994). Tôi nói ngay với cô Hồng, rằng nhân dịp này, cô nên trao lại bức tranh của Tô Ngọc Vân cho gia đình ông Vân, khi bà Vân vẫn còn sống…

Không ngờ cô Hồng bị tác động thật. Cô ra chiều suy nghĩ, nhưng vẫn im lặng. Rồi cô chuyển sang nói chuyện khác.

Thái độ lừng khừng của cô làm tôi phát cáu, tôi gắt lên: “Trả cho người ta đi chứ giữ làm gì nữa. Có phải của mình đâu.”

Nghe vậy, cô Hồng sưng mặt, quay đi, miệng lẩm bẩm: “Thôi được. Mày đã nói thế thì tao trả, được chưa?”

Thừa cơ, tôi bồi thêm: “Không chỉ trả, mà còn…”

– Cái gì? Ơ hay cái thằng này! Cô Hồng ngạc nhiên.

– Cô còn phải tuyên bố trước mọi người là cháu đòi thì cô mới chịu trả. Tôi nói như ra điều kiện.

Cô Hồng cười “rống” lên, nói như mếu:

– Úi cha mẹ tôi ơi! Kể công hả? Tao sẽ có cách nói của tao. Nhưng hôm ấy mày phải đến đón tao đi thì tao mới đi.

Trước khi tôi ra về, cô còn nói vóng theo:

– Nhớ đến sớm để còn kịp đi ăn bún thang với tao!

* * *

Giờ G đã điểm. Sáng hôm ấy trời se lạnh, có sương mù. Tôi đến đón cô Hồng thì thấy bức tranh của Tô Ngọc Vân đã được cô lồng trong khung kính. Tôi ưng ý lắm.

Cô và tôi đi bộ sang phố Nguyễn Du ăn bún thang, ở quán vỉa hè “ngon lắm mày ạ”. Tiền ăn do cô “đài thọ”… Rồi tôi chở cô cùng bức tranh bằng xe máy.

Buổi lễ kỷ niệm 95 năm ngày sinh của Tô Ngọc Vân được tổ chức rất trọng thể tại 51 Trần Hưng Đạo, có cả Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, cụ Vũ Khiêu và bà Hoàn vợ ông Vân, đến dự. Hội Mỹ thuật cũng đã chuẩn bị một cái giá vẽ để đặt bức tranh. Nghi thức “trao trả” được xếp vào giữa chương trình.

Đúng như “thỏa thuận”, khi trao bức tranh cho gia đình Tô Ngọc Vân, cô Trần Thị Hồng đã giới thiệu tôi là người – “đã gợi ý cho việc này!”

Cô Hồng vừa dứt lời, anh Lê Trọng Lân đập vào vai tôi, bảo khẽ: “Ai mà khiếp thế nhỉ, đến Trần Thị Hồng cũng phải thua!”

Với tôi, một sự kết thúc như vậy cũng là đủ (tôi còn được ăn của cô Hồng một bát bún thang), còn đối với “lẽ tự nhiên” thì phải nói là quá mỹ mãn!

Kể từ hôm ấy, tôi không bao giờ được gặp lại bà Nguyễn Thị Hoàn vợ ông Vân nữa. Bà đã mất sau đó mấy năm.

Thỉnh thoảng gặp anh Tô Ngọc Thành, tôi có hỏi thăm về bức tranh “Ông lão du kích” của Tô Ngọc Vân. Theo anh Thành nói: “Giờ ông lão du kích đang ở nhà ông anh cả tôi, ông Tô Ngọc Thanh”.

Q.V


Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 28 THÁNG MỘT, 2019

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2019

Tô Ngọc Vân (1906-1954) a.k.a Tô T

Tô Ngọc Vân (1906-1954)
a.k.a Tô T

LE PHO ART GALLERY


The painter, writer and revolutionary To Ngoc Vân was born in Hanoi in 1906. He was one of the first graduates of the École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine (College of Fine Arts of Vietnam) in 1931. His art, which was both delicate and brilliantly colored, reflected the influence of French Post Impressionism, especially the work of Paul Gauguin. During the last decade of his life, as a revolutionary artist Vân dreamt “of building a Vietnamese art of national character.”

Tô Ngọc Vân was born into an impoverished Hanoi family in 1906. His mother was a marketplace seller and the family moved constantly. At the age of six he was left with a grandmother and aunt when his mother returned to the countryside. After years of scraping by as a studious schoolboy, he dropped out of high school (the Protectorate secondary School) in his third year to study art. As his friend Tran Vân Can later recalled: “Vân became acquainted with painting and was entirely attracted by it.”

After passing the necessary exams, Vân entered the École, where his dedication and talent soon made him stand out. A voracious student, he read every book, magazine or newspaper article about art that was available. He was interested in a wide range of art, from ancient Buddhist murals to French modernism. For his studio work, Vân studied silk painting, wood carving and fresco painting. After graduating with Honors, Vân traveled and painted in Cambodia, Thailand and South Vietnam. He also developed into an arts journalist, writing criticism for newspapers including Phong Hoa. He taught art at Phnom Penh High School from 1935 to 1939, and then returned to teach at the École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine until 1945. Vân then joined the resistance war against France.

Tô Ngọc Vân often turned his writing skills towards discussions of the political role of art. In 1947 he wrote:
“Propaganda art is not art because it expresses a political purpose, raises political slogans, delineates a political path for the people to follow.”

In a 1949 essay “Study or Not?” Vân commented:
“Here lies the principal point, the torment of my soul: how to make the self that serves the nation and the masses and the self that serves art, the artist cannot forget this responsibility.”

During the period of resistance, Vân oversaw the establishment of the new state school for the arts in Viet-Minh territory in the hills of Viet Bac, north of Hanoi. Known as the Resistance Class (Khoa Khang Chien) the school offered instruction in philosophy, politics and Marxist-Leninist thought. Tô Ngọc Vân taught drawing and espoused Marxist-Leninist principles. The school and its students produced paintings, posters, stamps and other visual emblems that served Communist ideology and supported the resistance. In its workshops, students designed stamps and currency for the new government. By the time it closed in 1954 (to later reopen in Hanoi) the school produced more than thirty graduates, many of whom became important Vietnamese modern artists.

To Ngoc Vân was a committed modernist—more than most of his peers—who struggled to delineated post-colonial artistic roles and values. He wrote:
“The artistic change is so difficult, we feel it is as heavy as moving a mountain.” His early works had been idyllic, celebrating a lyrical and nostalgic image of Vietnam but after joining the struggle against the French his subjects—often painted in lacquer—included revolutionary soldiers and images of peasants turned resistance fighters. His response to Hồ Chí Minh’s 1948 call for art “to inspire nation-building resistance” was conflicted, as he worried that simplistic propaganda was not in line with the “higher calling” of true art. “My torment of the soul,” he philosophized, “is how to make the self that serves the nation and that masses and the self that serves art—the artist cannot forget this responsibility—not to come into conflict, or even worse, betray one another.”

​Tô Ngọc Vân died in 1954 during a French bombing raid that accompanied the Battle of Dien Bien Phu, after which the French were forced out of Viet Nam. After his death Vân was awarded the title of “Martyr” and buried at Mai Dien Cemetary.
Nguồn: LE PHO ART GALLERY -

Tô Ngọc Vân (1906-1954)
a.k.a Tô T

LE PHO ART GALLERY


The painter, writer and revolutionary To Ngoc Vân was born in Hanoi in 1906. He was one of the first graduates of the École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine (College of Fine Arts of Vietnam) in 1931. His art, which was both delicate and brilliantly colored, reflected the influence of French Post Impressionism, especially the work of Paul Gauguin. During the last decade of his life, as a revolutionary artist Vân dreamt “of building a Vietnamese art of national character.”

Tô Ngọc Vân was born into an impoverished Hanoi family in 1906. His mother was a marketplace seller and the family moved constantly. At the age of six he was left with a grandmother and aunt when his mother returned to the countryside. After years of scraping by as a studious schoolboy, he dropped out of high school (the Protectorate secondary School) in his third year to study art. As his friend Tran Vân Can later recalled: “Vân became acquainted with painting and was entirely attracted by it.”

After passing the necessary exams, Vân entered the École, where his dedication and talent soon made him stand out. A voracious student, he read every book, magazine or newspaper article about art that was available. He was interested in a wide range of art, from ancient Buddhist murals to French modernism. For his studio work, Vân studied silk painting, wood carving and fresco painting. After graduating with Honors, Vân traveled and painted in Cambodia, Thailand and South Vietnam. He also developed into an arts journalist, writing criticism for newspapers including Phong Hoa. He taught art at Phnom Penh High School from 1935 to 1939, and then returned to teach at the École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine until 1945. Vân then joined the resistance war against France.

Tô Ngọc Vân often turned his writing skills towards discussions of the political role of art. In 1947 he wrote:
“Propaganda art is not art because it expresses a political purpose, raises political slogans, delineates a political path for the people to follow.”

In a 1949 essay “Study or Not?” Vân commented:
“Here lies the principal point, the torment of my soul: how to make the self that serves the nation and the masses and the self that serves art, the artist cannot forget this responsibility.”

During the period of resistance, Vân oversaw the establishment of the new state school for the arts in Viet-Minh territory in the hills of Viet Bac, north of Hanoi. Known as the Resistance Class (Khoa Khang Chien) the school offered instruction in philosophy, politics and Marxist-Leninist thought. Tô Ngọc Vân taught drawing and espoused Marxist-Leninist principles. The school and its students produced paintings, posters, stamps and other visual emblems that served Communist ideology and supported the resistance. In its workshops, students designed stamps and currency for the new government. By the time it closed in 1954 (to later reopen in Hanoi) the school produced more than thirty graduates, many of whom became important Vietnamese modern artists.

To Ngoc Vân was a committed modernist—more than most of his peers—who struggled to delineated post-colonial artistic roles and values. He wrote:
“The artistic change is so difficult, we feel it is as heavy as moving a mountain.” His early works had been idyllic, celebrating a lyrical and nostalgic image of Vietnam but after joining the struggle against the French his subjects—often painted in lacquer—included revolutionary soldiers and images of peasants turned resistance fighters. His response to Hồ Chí Minh’s 1948 call for art “to inspire nation-building resistance” was conflicted, as he worried that simplistic propaganda was not in line with the “higher calling” of true art. “My torment of the soul,” he philosophized, “is how to make the self that serves the nation and that masses and the self that serves art—the artist cannot forget this responsibility—not to come into conflict, or even worse, betray one another.”

​Tô Ngọc Vân died in 1954 during a French bombing raid that accompanied the Battle of Dien Bien Phu, after which the French were forced out of Viet Nam. After his death Vân was awarded the title of “Martyr” and buried at Mai Dien Cemetary.
Nguồn: LE PHO ART GALLERY -

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Tem Apsara

Kỷ niệm ngày mất Tô Ngọc Vân (15-12-1908 – 17-06-1954)

vietstamp.net



Tô Ngọc Vân là họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, còn có những bút danh là Tô Tử, Ái Mỹ. Ông sinh ngày 15-12-1908 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội.

Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnom Penh, Băng Cốc, Huế... Ông hợp tác với các báo "Phong hóa" và "Ngày nay" của Nhất Linh, báo "Thanh nghị"... Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó, ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.
Hai tác phẩm nổi tiếng của Tô Ngọc Vân trên tem bưu chính Việt Nam


Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Tranh của ông từng triển lãm ở Sài Gòn, Hà Nội và một số nước như Ba Lan, Liên Xô, Hungary, Rumani... Ông cũng là người có nhiều công sức đào tạo các thế hệ họa sĩ Việt Nam.

Tô Ngọc Vân cũng là một trong số ít họa sĩ Việt Nam tham gia thiết kế tem bưu chính Đông Dương. Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính trên tem là nữ thần Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer.
Tem Apsara - Bộ tem bưu chính Đông Dương do Tô Ngọc Vân thiết kế.


Ngày 17-6-1954, ông hy sinh ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đó, ông mới 48 tuổi. Ghi nhận tài nǎng và đóng góp của ông đối với nền hội họa Việt Nam nói chung và hội họa cách mạng nói riêng, Nhà nước ta đã truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam.
Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem "Hội họa Việt Nam" phát hành năm 1995












Tem Apsara vẽ nét đơn giản, một màu, giữ được bản sắc cổ kính của điêu khắc đá đình chùa miếu mạo Á Đông. Mẫu tem thể hiện nét đặc trưng nghệ thuật Kh'mer với những nét hoa văn mây, lá, đầu rắn... uốn lượn, cách điệu theo lối cổ điển... hình lá đề - mô típ của Phật giáo.

Tem Apsara được in thành một bộ 5 con có 5 giá từ 50c đến 2$ và 5 màu khác nhau: nâu, tím, xanh dương, xanh lá, đỏ; in tại Paris, mang tiêu đề "Postes Indochine" và "RF", phát hành vào những năm 1932 đến năm 1941. Trên mỗi con tem ghi rõ tên tác giả: Tô Ngọc Vân, H.CHEFFER. Tem Apsara được lưu hành rộng trên toàn cõi Đông Dương.

Tem Apsara của danh hoạ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân còn là biểu hiện sự giao lưu văn hoá lâu đời của hai dân tộc Việt và Kh'mer.
The stamp designed by the Vietnamese painter To Ngoc Van and engraved by Henry Cheffer.



Mẫu tem “Bên hoa huệ” in tác phẩm sơn dầu cùng tên của cố họa sĩ Tô Ngọc Vân, trình bày và thiết kế bởi họa sĩ Nguyễn Thị Sâm. Mẫu tem được phát hành ngày 15 tháng 11 năm 1995, in offset nhiều màu tại Xí nghiệp In tem Bưu Điện (TP. Hồ Chí Minh). L'OFFICIEL

Kỷ niệm ngày mất Tô Ngọc Vân (15-12-1908 – 17-06-1954)

vietstamp.net



Tô Ngọc Vân là họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, còn có những bút danh là Tô Tử, Ái Mỹ. Ông sinh ngày 15-12-1908 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội.

Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnom Penh, Băng Cốc, Huế... Ông hợp tác với các báo "Phong hóa" và "Ngày nay" của Nhất Linh, báo "Thanh nghị"... Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó, ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.
Hai tác phẩm nổi tiếng của Tô Ngọc Vân trên tem bưu chính Việt Nam


Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Tranh của ông từng triển lãm ở Sài Gòn, Hà Nội và một số nước như Ba Lan, Liên Xô, Hungary, Rumani... Ông cũng là người có nhiều công sức đào tạo các thế hệ họa sĩ Việt Nam.

Tô Ngọc Vân cũng là một trong số ít họa sĩ Việt Nam tham gia thiết kế tem bưu chính Đông Dương. Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính trên tem là nữ thần Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer.
Tem Apsara - Bộ tem bưu chính Đông Dương do Tô Ngọc Vân thiết kế.


Ngày 17-6-1954, ông hy sinh ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đó, ông mới 48 tuổi. Ghi nhận tài nǎng và đóng góp của ông đối với nền hội họa Việt Nam nói chung và hội họa cách mạng nói riêng, Nhà nước ta đã truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam.
Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem "Hội họa Việt Nam" phát hành năm 1995












Tem Apsara vẽ nét đơn giản, một màu, giữ được bản sắc cổ kính của điêu khắc đá đình chùa miếu mạo Á Đông. Mẫu tem thể hiện nét đặc trưng nghệ thuật Kh'mer với những nét hoa văn mây, lá, đầu rắn... uốn lượn, cách điệu theo lối cổ điển... hình lá đề - mô típ của Phật giáo.

Tem Apsara được in thành một bộ 5 con có 5 giá từ 50c đến 2$ và 5 màu khác nhau: nâu, tím, xanh dương, xanh lá, đỏ; in tại Paris, mang tiêu đề "Postes Indochine" và "RF", phát hành vào những năm 1932 đến năm 1941. Trên mỗi con tem ghi rõ tên tác giả: Tô Ngọc Vân, H.CHEFFER. Tem Apsara được lưu hành rộng trên toàn cõi Đông Dương.

Tem Apsara của danh hoạ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân còn là biểu hiện sự giao lưu văn hoá lâu đời của hai dân tộc Việt và Kh'mer.
The stamp designed by the Vietnamese painter To Ngoc Van and engraved by Henry Cheffer.



Mẫu tem “Bên hoa huệ” in tác phẩm sơn dầu cùng tên của cố họa sĩ Tô Ngọc Vân, trình bày và thiết kế bởi họa sĩ Nguyễn Thị Sâm. Mẫu tem được phát hành ngày 15 tháng 11 năm 1995, in offset nhiều màu tại Xí nghiệp In tem Bưu Điện (TP. Hồ Chí Minh). L'OFFICIEL