Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018

Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

QUANG THI


TTO - Một thông tin bất ngờ: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức tranh The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo (trái) và bức tranh có chữ ký của họa sĩ Tô Ngọc Vân trên sàn đấu giá Chrisite's Hong Kong ngày 28-5 - Ảnh: Artble, Christie’s



Sự kiện một số tranh Việt được bán giá cao tại các sàn đấu giá quốc tế gần đây được người trong giới đánh giá là chưa mừng đã lo.

Bởi nhà nghiên cứu Phạm Long vừa đưa ra phát hiện “động trời”: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức sơn dầu Mơ về một ngày mai (Dream of the following day, giá khởi điểm: 9.026-11.025 USD, giá bán 350.000 USD) được giới thiệu là của Tô Ngọc Vân có thể thấy là bức chép của tác phẩm The Young Beggar (Trẻ ăn mày) của họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17 Bartolome Esteban Murillo.

Thế nhưng, website của nhà đấu giá Christie’s dẫn bài giới thiệu của “chuyên viên mỹ thuật Việt Nam” Jean François Hubert rằng:
"Với xu hướng hiện thực và chủ nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, bức tranh Mơ về một ngày mai khác nào là một bản tóm tắt những suy tư của Tô Ngọc Vân: rồi sẽ có đổi thay và hi vọng.

Nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Pháp Claude Mahoudeau sớm nhận ra phẩm chất của các tác phẩm của Tô Ngọc Vân và đã mua lại bức tranh đầy cảm xúc và rung động này trực tiếp từ họa sĩ”.
Ông Jean François Hubert cũng là người đã bán cho ông Vũ Xuân Chung 17 bức tranh của các danh họa Việt Nam bị phát hiện hầu hết là tranh giả khi triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Nhà nghiên cứu Phạm Long băn khoăn: nếu đó là tranh do Tô Ngọc Vân chép, theo nguyên tắc họa sĩ Tô Ngọc Vân không được ký tên. Nhưng chữ ký đó có thật không?

Sự kiện này làm nhớ lại bức tranh do họa sĩ Thành Chương vẽ, nhưng bị xóa tên Thành Chương để ký đè lên là tranh của... Tạ Tỵ!

Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Long lo lắng:
“Sự kiện tranh Lê Phổ đạt giá 1,1 triệu USD được cảnh báo sẽ báo hiệu cho cao trào mới về chế tác và buôn bán tranh giả của các họa sĩ mỹ thuật Đông Dương, mà trường hợp tranh Tô Ngọc Vân này chỉ là phát pháo mở màn!”.

Câu chuyện tranh giả của các họa sĩ thời mỹ thuật Đông Dương trên các sàn đấu giá quốc tế không mới.

Từng có tranh của các họa sĩ như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái... - những danh họa bậc thầy, những người đặt nền móng cho mỹ thuật Việt Nam - xuất hiện trên các sàn đấu giá quốc tế với giá bán cao bị cho là tranh giả, bị phanh phui và khiếu nại ầm ĩ.

Nhưng đáng tiếc hơn nữa là sau họ, không có nhiều các họa sĩ đương đại Việt Nam được biết tới.

Có thể nói, tranh Việt ở sàn đấu giá quốc tế đạt giá triệu đô không có gì quá mừng. Bởi trong nước có những bức tranh của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng... có giá hơn cả triệu đô.

Những tác phẩm này được chủ sở hữu xem như báu vật, không đem trao đổi mà chỉ truyền trong giới.

Sự đẩy giá tranh Việt ở sàn quốc tế có ý nghĩa tích cực, nhưng bị ảnh hưởng và “mặc cả” cơ hội với những đường dây làm tranh giả hết sức tinh vi, được xem là nguyên nhân làm mất uy tín nền mỹ thuật Việt Nam.

Trong khi công cuộc giới thiệu nền mỹ thuật Việt Nam đương đại ra thế giới không liền mạch, bị đứt gãy.

Từ trước đến nay từng có tranh của Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Xuân Hòa, Đỗ Quang Em... xuất hiện trên sàn đấu giá, nhưng những tên tuổi này chưa đứng được trên sàn quốc tế.

Không ồn ã như sàn đấu giá, gần đây thị trường mỹ thuật có những giao dịch tranh lên đến hàng tỉ đồng.

Điều này cho thấy thị trường tranh Việt đang ấm lên, có những kênh đang đầu tư vào mỹ thuật. Những chuyển động này mới là điều mỹ thuật Việt Nam đang cần.

Bởi kinh nghiệm từ mỹ thuật nước bạn cho thấy một khi trong nước biết quý, đánh giá đúng tài năng và vị thế của họa sĩ thì giá tranh trên trường quốc tế mới tăng theo.

The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo

Họa sĩ Nguyễn Lâm chia sẻ một câu chuyện:

“Gần đây có những người ở sàn đấu giá Singapore, Hong Kong đến đặt hàng tôi và đồng nghiệp vẽ những bức tranh theo môtip thiếu nữ, hoa sen... mềm mại, thướt tha kiểu của các họa sĩ thời kỳ mỹ thuật Đông Dương.

Tôi hỏi họ sao không đặt hàng những bức tranh hiện đại hơn, chúng tôi không thể vẽ mãi theo cách cũ. Nhưng họ cười lắc đầu trả lời: Ông không hiểu. Nước ngoài nhiều người biết về tranh Việt Nam chỉ đến giai đoạn này thôi!”.


QUANG THI
Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 06/06/2017 11:00




CHRISTIE'S


SALE 13268

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Hong Kong|28 May 2017
LOT 428
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
Price realised
HKD 350,000

Estimate
HKD 70,000 - HKD 90,000

TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
signed 'To Ngoc Van' (lower right)
oil on canvas
47.5 x 40 cm. (18 3/4 x 15 3/4 in.)
Painted circa 1940

Provenance

Acquired directly from the artist by Claude Mahoudeau, Hanoi, 1943
Private collection, Paris, France



Gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân phản ứng về vụ mạo danh

VOV TV Online
Xuất bản 10 thg 6, 2017
Vụ việc Họa sĩ Tô Ngọc Vân bị mạo danh trong một bức tranh chép tại phiên đấu giá của sàn Christie’s Hong Kong vừa qua, đã làm cho các nhà chuyên môn, giới yêu nghệ thuật và gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân bức xúc.







Forgery claims throw dark shadow over the global rise of Vietnamese art

By Trang Bui June 13, 2017

A tale of two paintings: Days after a $45,000 piece was sold at Christie's, the celebratory mood ended abruptly.
(L) The Young Beggar by Bartolomé Esteban Murillo.
(R) Le Songe du Lendemain by To Ngoc Van.


It could have been another uncontested victory for Vietnamese art.

The day was May 28, 2017. An auction at Christie’s Hong Kong valued a piece named “Le Songe du Lendemain” (Dream of the Following Day) at over $45,000. It’s billed as a masterwork by the renowned 20th-century artist To Ngoc Van.

The event appeared to herald a new era for modern Vietnamese artworks in the international market. It seemed to be the time for cheers.

But only a week later, art scholars and painters quickly raised their concerns on local media, alleging that the painting in question could be a forgery of “The Young Beggar” by Spanish painter Bartolomé Esteban Murillo.

Many were also angry that the piece had been tied to To Ngoc Van (1906-1954), a Vietnamese master.

Van, an early talent in oil painting, was among the brightest graduates of the Indochina College of Fine Arts in the 1930s. He was a recipient of the Ho Chi Minh Prize, a teacher at fine arts colleges in Hanoi and Phnom Penh.

But most importantly, he’s a pride of Vietnamese art.

Luong Xuan Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, did not hide his displeasure in a phone conversation: “It’s certainly a fake. The painting looks coarse and clumsy; there’s no way it could be To Ngoc Van’s work.”

Other Vietnamese experts believe To Ngoc Van did not paint the art and that the artist wouldn’t have signed his name if he had actually copied Murillo’s.

A descendant of the artist was also cautious. He said he had asked several members in the family and none could confirm whether the painting is Van’s.

Responding to the allegations, Lavina Chan, Senior Vice-President of Christie’s Asia, affirmed the auction house’s due diligence on the painting’s provenance.

“There is no basis on which to call into question its authenticity,” Chan wrote in an email to VnExpress International.

Christie’s sale catalog, written by Jean-François Hubert, senior consultant and expert in Vietnamese art, states that “Le Songe du Lendemain” was first acquired directly from the Vietnamese artist by Claude Mahoudeau, who “recognized early the quality of To Ngoc Van's works.”

The painting has then been passed through two European gentlemen, Chan said.

However, the representative could not look past the resemblance.

“While the artist was indeed influenced by the Spanish artist Murillo, it was not uncommon in that era to follow the footsteps of European old masters,” Chan wrote.

In a follow-up interview, Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, refuted that point.

“It’s unusual.” Doan said. “To Ngoc Van had French and European teachers so he could be influenced in the material and the techniques he used. But the great artist painted with a signature style, so he wouldn’t have forged such amazing works of masters like Murillo.”

“It’s an insult to the artist and heartbreaking news for Vietnamese art,” Doan concluded.

An uphill battle

Tran Khanh Chuong, the president of Vietnam Fine Arts Association, is more reserved. But he too is not optimistic when talking about rampant counterfeits on international markets.

“We can’t confirm forgery until an evaluation center provides clear evidence,” Chuong said. “It also costs a fortune to re-evaluate an artwork, even if the inspectors of the Ministry of Culture, Sports and Tourism could step in.”

In Vietnam, curators and collectors face immense difficulties procuring artwork. The one and only Artwork Evaluation Center, which belongs to the Vietnam Fine Arts Museum, closed a few months after its opening in 2010.

“Not many people cared to bring in their purchases for evaluation,” Chuong said. “They think there’s no point in spotting theirs as fakes, even if they have doubts.”

Meanwhile, the most valuable, sought-after art comes from the elites of Indochina College of Fine Arts, whose works in the 1930s are neither registered nor protected by the Vietnam Copyright Office.

Vietnam has long been known for its legacy of fake arts after two brutal wars. The New York Times ran a piece in 2009 describing the chaos inside the Vietnam Fine Arts Museum, where hundreds of artworks were replaced with copies to protect them from bombings in the 1960s. These days the real ones cannot be found or evaluated easily.

When the economy opened up and Vietnamese art became more popular abroad, copies proliferated even more.

Authenticity questions become more relevant considering the recent impressive climbs that Vietnamese art has made on international markets.

In April, Le Pho’s “Family Life” hit record-high hammer price of over $1 million also at Sotheby's Hong Kong. An earlier painting of Pho’s, “View from the Hilltop,” had fetched nearly $850,000 in 2014.

Le Pho's "View From The Hilltop" hammered at $850,000 in a sale of Christie's Hong Kong in November 2014.


Christie’s Hong Kong in May sold “La Moyenne Région” by Hoang Tich Chu and Nguyen Tien Chung at closely $600,000, the second highest of the day. Sotheby’s New York in June also saw Vu Cao Dam’s “Joueuse de Lune” hammered at $94,000, the fifth highest of the sale.

But just last year, in an exhibition at the Museum of Fine Arts in Ho Chi Minh City that honored seventeen pieces of four Vietnamese legends, at least fifteen were alleged to be forgeries.

Painter Thanh Chuong made headlines after claiming that one of the paintings was his. It was displayed as a work of his contemporary, Ta Ty.

The owner of the collections told VnExpress that he placed his full trust in Jean-François Hubert from Christie’s.

Days later, the HCMC Museum of Fine Arts had to form an evaluation panel, which then decided to close the exhibition and officially apologized to the public.

Tran Khanh Chuong said his association, museums and art experts could make their voices heard in national cases such as this, but it’s an uphill battle overseas.

“The question is, who will have the money to re-evaluate the artwork?” Chuong said, ending an apparent rhetoric question with a chuckle.
VnExpress.net - June 13, 2017


Vietnamese Art Has Never Been More Popular. But the Market Is Full of Fakes - By Richard C. Paddock, Aug. 11, 2017, The New York Times.

Tranh Việt triệu đô: tranh của Tô Ngọc Vân bị tố là... hàng giả!

QUANG THI


TTO - Một thông tin bất ngờ: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức tranh The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo (trái) và bức tranh có chữ ký của họa sĩ Tô Ngọc Vân trên sàn đấu giá Chrisite's Hong Kong ngày 28-5 - Ảnh: Artble, Christie’s



Sự kiện một số tranh Việt được bán giá cao tại các sàn đấu giá quốc tế gần đây được người trong giới đánh giá là chưa mừng đã lo.

Bởi nhà nghiên cứu Phạm Long vừa đưa ra phát hiện “động trời”: trong số tranh của các danh họa Việt được rao bán ở sàn Christie’s Hong Kong ngày 28-5, có ít nhất một bức tranh của Tô Ngọc Vân bị “tố” là... hàng giả!

Bức sơn dầu Mơ về một ngày mai (Dream of the following day, giá khởi điểm: 9.026-11.025 USD, giá bán 350.000 USD) được giới thiệu là của Tô Ngọc Vân có thể thấy là bức chép của tác phẩm The Young Beggar (Trẻ ăn mày) của họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17 Bartolome Esteban Murillo.

Thế nhưng, website của nhà đấu giá Christie’s dẫn bài giới thiệu của “chuyên viên mỹ thuật Việt Nam” Jean François Hubert rằng:
"Với xu hướng hiện thực và chủ nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, bức tranh Mơ về một ngày mai khác nào là một bản tóm tắt những suy tư của Tô Ngọc Vân: rồi sẽ có đổi thay và hi vọng.

Nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Pháp Claude Mahoudeau sớm nhận ra phẩm chất của các tác phẩm của Tô Ngọc Vân và đã mua lại bức tranh đầy cảm xúc và rung động này trực tiếp từ họa sĩ”.
Ông Jean François Hubert cũng là người đã bán cho ông Vũ Xuân Chung 17 bức tranh của các danh họa Việt Nam bị phát hiện hầu hết là tranh giả khi triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Nhà nghiên cứu Phạm Long băn khoăn: nếu đó là tranh do Tô Ngọc Vân chép, theo nguyên tắc họa sĩ Tô Ngọc Vân không được ký tên. Nhưng chữ ký đó có thật không?

Sự kiện này làm nhớ lại bức tranh do họa sĩ Thành Chương vẽ, nhưng bị xóa tên Thành Chương để ký đè lên là tranh của... Tạ Tỵ!

Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Long lo lắng:
“Sự kiện tranh Lê Phổ đạt giá 1,1 triệu USD được cảnh báo sẽ báo hiệu cho cao trào mới về chế tác và buôn bán tranh giả của các họa sĩ mỹ thuật Đông Dương, mà trường hợp tranh Tô Ngọc Vân này chỉ là phát pháo mở màn!”.

Câu chuyện tranh giả của các họa sĩ thời mỹ thuật Đông Dương trên các sàn đấu giá quốc tế không mới.

Từng có tranh của các họa sĩ như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái... - những danh họa bậc thầy, những người đặt nền móng cho mỹ thuật Việt Nam - xuất hiện trên các sàn đấu giá quốc tế với giá bán cao bị cho là tranh giả, bị phanh phui và khiếu nại ầm ĩ.

Nhưng đáng tiếc hơn nữa là sau họ, không có nhiều các họa sĩ đương đại Việt Nam được biết tới.

Có thể nói, tranh Việt ở sàn đấu giá quốc tế đạt giá triệu đô không có gì quá mừng. Bởi trong nước có những bức tranh của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng... có giá hơn cả triệu đô.

Những tác phẩm này được chủ sở hữu xem như báu vật, không đem trao đổi mà chỉ truyền trong giới.

Sự đẩy giá tranh Việt ở sàn quốc tế có ý nghĩa tích cực, nhưng bị ảnh hưởng và “mặc cả” cơ hội với những đường dây làm tranh giả hết sức tinh vi, được xem là nguyên nhân làm mất uy tín nền mỹ thuật Việt Nam.

Trong khi công cuộc giới thiệu nền mỹ thuật Việt Nam đương đại ra thế giới không liền mạch, bị đứt gãy.

Từ trước đến nay từng có tranh của Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Xuân Hòa, Đỗ Quang Em... xuất hiện trên sàn đấu giá, nhưng những tên tuổi này chưa đứng được trên sàn quốc tế.

Không ồn ã như sàn đấu giá, gần đây thị trường mỹ thuật có những giao dịch tranh lên đến hàng tỉ đồng.

Điều này cho thấy thị trường tranh Việt đang ấm lên, có những kênh đang đầu tư vào mỹ thuật. Những chuyển động này mới là điều mỹ thuật Việt Nam đang cần.

Bởi kinh nghiệm từ mỹ thuật nước bạn cho thấy một khi trong nước biết quý, đánh giá đúng tài năng và vị thế của họa sĩ thì giá tranh trên trường quốc tế mới tăng theo.

The Young Beggar của Bartolome Esteban Murillo

Họa sĩ Nguyễn Lâm chia sẻ một câu chuyện:

“Gần đây có những người ở sàn đấu giá Singapore, Hong Kong đến đặt hàng tôi và đồng nghiệp vẽ những bức tranh theo môtip thiếu nữ, hoa sen... mềm mại, thướt tha kiểu của các họa sĩ thời kỳ mỹ thuật Đông Dương.

Tôi hỏi họ sao không đặt hàng những bức tranh hiện đại hơn, chúng tôi không thể vẽ mãi theo cách cũ. Nhưng họ cười lắc đầu trả lời: Ông không hiểu. Nước ngoài nhiều người biết về tranh Việt Nam chỉ đến giai đoạn này thôi!”.


QUANG THI
Nguồn: Tuổi Trẻ Online - 06/06/2017 11:00




CHRISTIE'S


SALE 13268

Asian 20th Century Art (Day Sale)
Hong Kong|28 May 2017
LOT 428
TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
Price realised
HKD 350,000

Estimate
HKD 70,000 - HKD 90,000

TO NGOC VAN (VIETNAM, 1906-1954)
LE SONGE DU LENDEMAIN (DREAM OF THE FOLLOWING DAY)
signed 'To Ngoc Van' (lower right)
oil on canvas
47.5 x 40 cm. (18 3/4 x 15 3/4 in.)
Painted circa 1940

Provenance

Acquired directly from the artist by Claude Mahoudeau, Hanoi, 1943
Private collection, Paris, France



Gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân phản ứng về vụ mạo danh

VOV TV Online
Xuất bản 10 thg 6, 2017
Vụ việc Họa sĩ Tô Ngọc Vân bị mạo danh trong một bức tranh chép tại phiên đấu giá của sàn Christie’s Hong Kong vừa qua, đã làm cho các nhà chuyên môn, giới yêu nghệ thuật và gia đình họa sĩ Tô Ngọc Vân bức xúc.







Forgery claims throw dark shadow over the global rise of Vietnamese art

By Trang Bui June 13, 2017

A tale of two paintings: Days after a $45,000 piece was sold at Christie's, the celebratory mood ended abruptly.
(L) The Young Beggar by Bartolomé Esteban Murillo.
(R) Le Songe du Lendemain by To Ngoc Van.


It could have been another uncontested victory for Vietnamese art.

The day was May 28, 2017. An auction at Christie’s Hong Kong valued a piece named “Le Songe du Lendemain” (Dream of the Following Day) at over $45,000. It’s billed as a masterwork by the renowned 20th-century artist To Ngoc Van.

The event appeared to herald a new era for modern Vietnamese artworks in the international market. It seemed to be the time for cheers.

But only a week later, art scholars and painters quickly raised their concerns on local media, alleging that the painting in question could be a forgery of “The Young Beggar” by Spanish painter Bartolomé Esteban Murillo.

Many were also angry that the piece had been tied to To Ngoc Van (1906-1954), a Vietnamese master.

Van, an early talent in oil painting, was among the brightest graduates of the Indochina College of Fine Arts in the 1930s. He was a recipient of the Ho Chi Minh Prize, a teacher at fine arts colleges in Hanoi and Phnom Penh.

But most importantly, he’s a pride of Vietnamese art.

Luong Xuan Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, did not hide his displeasure in a phone conversation: “It’s certainly a fake. The painting looks coarse and clumsy; there’s no way it could be To Ngoc Van’s work.”

Other Vietnamese experts believe To Ngoc Van did not paint the art and that the artist wouldn’t have signed his name if he had actually copied Murillo’s.

A descendant of the artist was also cautious. He said he had asked several members in the family and none could confirm whether the painting is Van’s.

Responding to the allegations, Lavina Chan, Senior Vice-President of Christie’s Asia, affirmed the auction house’s due diligence on the painting’s provenance.

“There is no basis on which to call into question its authenticity,” Chan wrote in an email to VnExpress International.

Christie’s sale catalog, written by Jean-François Hubert, senior consultant and expert in Vietnamese art, states that “Le Songe du Lendemain” was first acquired directly from the Vietnamese artist by Claude Mahoudeau, who “recognized early the quality of To Ngoc Van's works.”

The painting has then been passed through two European gentlemen, Chan said.

However, the representative could not look past the resemblance.

“While the artist was indeed influenced by the Spanish artist Murillo, it was not uncommon in that era to follow the footsteps of European old masters,” Chan wrote.

In a follow-up interview, Doan, the vice president of the Vietnam Fine Arts Association, refuted that point.

“It’s unusual.” Doan said. “To Ngoc Van had French and European teachers so he could be influenced in the material and the techniques he used. But the great artist painted with a signature style, so he wouldn’t have forged such amazing works of masters like Murillo.”

“It’s an insult to the artist and heartbreaking news for Vietnamese art,” Doan concluded.

An uphill battle

Tran Khanh Chuong, the president of Vietnam Fine Arts Association, is more reserved. But he too is not optimistic when talking about rampant counterfeits on international markets.

“We can’t confirm forgery until an evaluation center provides clear evidence,” Chuong said. “It also costs a fortune to re-evaluate an artwork, even if the inspectors of the Ministry of Culture, Sports and Tourism could step in.”

In Vietnam, curators and collectors face immense difficulties procuring artwork. The one and only Artwork Evaluation Center, which belongs to the Vietnam Fine Arts Museum, closed a few months after its opening in 2010.

“Not many people cared to bring in their purchases for evaluation,” Chuong said. “They think there’s no point in spotting theirs as fakes, even if they have doubts.”

Meanwhile, the most valuable, sought-after art comes from the elites of Indochina College of Fine Arts, whose works in the 1930s are neither registered nor protected by the Vietnam Copyright Office.

Vietnam has long been known for its legacy of fake arts after two brutal wars. The New York Times ran a piece in 2009 describing the chaos inside the Vietnam Fine Arts Museum, where hundreds of artworks were replaced with copies to protect them from bombings in the 1960s. These days the real ones cannot be found or evaluated easily.

When the economy opened up and Vietnamese art became more popular abroad, copies proliferated even more.

Authenticity questions become more relevant considering the recent impressive climbs that Vietnamese art has made on international markets.

In April, Le Pho’s “Family Life” hit record-high hammer price of over $1 million also at Sotheby's Hong Kong. An earlier painting of Pho’s, “View from the Hilltop,” had fetched nearly $850,000 in 2014.

Le Pho's "View From The Hilltop" hammered at $850,000 in a sale of Christie's Hong Kong in November 2014.


Christie’s Hong Kong in May sold “La Moyenne Région” by Hoang Tich Chu and Nguyen Tien Chung at closely $600,000, the second highest of the day. Sotheby’s New York in June also saw Vu Cao Dam’s “Joueuse de Lune” hammered at $94,000, the fifth highest of the sale.

But just last year, in an exhibition at the Museum of Fine Arts in Ho Chi Minh City that honored seventeen pieces of four Vietnamese legends, at least fifteen were alleged to be forgeries.

Painter Thanh Chuong made headlines after claiming that one of the paintings was his. It was displayed as a work of his contemporary, Ta Ty.

The owner of the collections told VnExpress that he placed his full trust in Jean-François Hubert from Christie’s.

Days later, the HCMC Museum of Fine Arts had to form an evaluation panel, which then decided to close the exhibition and officially apologized to the public.

Tran Khanh Chuong said his association, museums and art experts could make their voices heard in national cases such as this, but it’s an uphill battle overseas.

“The question is, who will have the money to re-evaluate the artwork?” Chuong said, ending an apparent rhetoric question with a chuckle.
VnExpress.net - June 13, 2017


Vietnamese Art Has Never Been More Popular. But the Market Is Full of Fakes - By Richard C. Paddock, Aug. 11, 2017, The New York Times.

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Ngọc Điệp (Tổng hợp)


Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được các họa sĩ truyền tải vô cùng duyên dáng với nhiều sắc thái khác nhau.

Thiếu nữ bên Hoa huệ


Thiếu nữ bên Hoa huệ là một tác phẩm tranh sơn dầu do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1908 - 1954), đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam.

Thiếu nữ bên Hoa huệ mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng đầu dịu dàng bên lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân và cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mĩ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Điều đặc biệt trong bức tranh là mặc dù có tên là Thiếu nữ bên Hoa huệ, nhưng bông hoa trong tranh lại là hoa loa kèn. Tuy nhiên ít người biết rằng hoa loa kèn còn có tên là hoa huệ tây, chứ không phải loại hoa huệ nhỏ dân ta hay sử dụng. Loài hoa này đối với các tín đồ Cơ đốc giáo là biểu tượng của sự trinh trắng, đức hạnh.


Bức tranh Thiếu nữ bên Hoa huệ.


Số phận của bức tranh này đã trải qua muôn vàn gian truân. Sau khi quân đội Pháp quay lại chiếm Hà Nội, Thiếu nữ bên Hoa huệ được bán cho nhà sưu tập tranh nổi tiếng Đức Minh. Sau khi ông Đức Minh qua đời, tác phẩm này được các con của ông bán cho một người sưu tầm tên là Hà Thúc Cần với giá 15.000 USD. Theo lời con trai của họa sĩ Tô Ngọc Vân thì sau khi mua được Thiếu nữ bên Hoa huệ, ông Cần đã bán lại tác phẩm nổi tiếng ra nước ngoài, bấp chấp quy định cấm của Việt Nam. Một phiên bản chép lại của bức tranh từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhưng từ sau năm 1990 phiên bản này đã được gỡ bỏ.


Em Thúy


Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Họa sĩ Trần Văn Cẩn là một trong những đại diện hàng đầu của Hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937.

Em Thúy là bức tranh mà họa sĩ Trần Văn Cẩn dành tặng cháu gái ông, bà Minh Thúy sinh năm 1935. Tác phẩm là bức chân dung bé gái 8 tuổi ngồi trên ghế mây, hai tay đặt trên đùi và mặc váy trắng đơn giản. Nét ngây thơ qua đôi mắt to tròn, trong sáng của cháu gái đã được họa sĩ khắc họa thành công. Tính đến nay đã gần một thế kỷ, nhưng Em Thúy vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm lớn nhất của Việt Nam. Năm 2013, Em Thúy chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia Việt Nam.


Bức tranh Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn.


Cũng giống như Thiếu nữ bên Hoa huệ, Em Thúy cũng lưu lạc trong chiến tranh. Sau khi quân Pháp quay lại chiếm Hà Nội, gia đình bà Minh Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi họ quay về thì bức tranh đã bị lấy trộm và gia đình phải bỏ tiền ra chuộc lại từ một người buôn tranh. Ông này trước đó tìm thấy Em Thúy tại nhà một người thợ cạo. Cuối cùng Em Thúy được họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng lại cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Hai thiếu nữ và em bé


Là một trong những bức tranh đẹp nhất của họa sĩ Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé đã chính thức trở thành Bảo vật quốc gia trong đợt công nhận lần 2 vừa qua của Thủ tướng Chính Phủ.

Hai thiếu nữ và em bé là tác phẩm được danh họa sáng tác năm 1944. Bức tranh miêu tả hình dáng hai chị em ngồi tâm sự trong một ngôi nhà ấm cúng. Người chị với gương mặt độ tuổi trung niên mặc áo vàng, đôi tay e ấp đặt trên đùi, dưới chân là một đứa trẻ đang đùa nghịch. Bên cạnh đứa trẻ là người em mặc áo dài trắng, trẻ trung và xinh đẹp của độ tuổi trăng tròn. Cảnh gia đình xưa tạo cho người xem cảm giác ấm áp, gần gũi.




Đặc biệt trong bức tranh, sự sắp xép khéo léo những gam màu sáng của họa sĩ Tô Ngọc Vân đã tạo nên nhịp điệu cho bức tranh. Bức màn với những bông hoa phù dung tinh khiết tạo nên sự hài hòa hiếm có. Tổng thể, bức tranh có một nét quyến rũ kỳ lạ, khiến khán giả phải công nhận không ai vẽ thiếu nữ đẹp như Tô Ngọc Vân.


Vườn xuân Trung Nam Bắc

Nhắc đến nghệ thuật sơn mài Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Gia Trí - người được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc được Nguyễn Gia Trí thực hiện trong vòng 20 năm, từ 1969 đến 1989.




Tác phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, đi dự hội xuân, chùa chiền. Giai đoạn sáng tác bức tranh, đất nước đang chìm tranh khói lửa chiến tranh. Có thể nói, Vườn xuân Trung Nam Bắc là lời nguyện cầu độc lập, hạnh phúc quê hương của Nguyễn Gia Trí. Đồng thời, tác phẩm cũng là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật nhất, có kích thước lớn nhất và là tác phẩm sáng tác cuối cùng của cuộc đời họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1996, bức tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc đã được UBND Tp.HCM mua lại với mức giá 600 triệu đồng, tương đương khoảng 100.000 USD ở thời điểm đó. Ngay sau đó, một người đã ngỏ ý mua lại bức tranh với giá lên tới 1 triệu USD. Hiện giờ, bức tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng mỹ thuật Tp.HCM.


Ngọc Điệp (Tổng hợp)
Nguồn: SAO360 - Thứ năm ngày 7 tháng 3 năm 2018

Những bức họa nổi tiếng về người phụ nữ trong làng mĩ thuật Việt Nam

Ngọc Điệp (Tổng hợp)


Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được các họa sĩ truyền tải vô cùng duyên dáng với nhiều sắc thái khác nhau.

Thiếu nữ bên Hoa huệ


Thiếu nữ bên Hoa huệ là một tác phẩm tranh sơn dầu do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1908 - 1954), đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam.

Thiếu nữ bên Hoa huệ mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng đầu dịu dàng bên lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân và cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mĩ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Điều đặc biệt trong bức tranh là mặc dù có tên là Thiếu nữ bên Hoa huệ, nhưng bông hoa trong tranh lại là hoa loa kèn. Tuy nhiên ít người biết rằng hoa loa kèn còn có tên là hoa huệ tây, chứ không phải loại hoa huệ nhỏ dân ta hay sử dụng. Loài hoa này đối với các tín đồ Cơ đốc giáo là biểu tượng của sự trinh trắng, đức hạnh.


Bức tranh Thiếu nữ bên Hoa huệ.


Số phận của bức tranh này đã trải qua muôn vàn gian truân. Sau khi quân đội Pháp quay lại chiếm Hà Nội, Thiếu nữ bên Hoa huệ được bán cho nhà sưu tập tranh nổi tiếng Đức Minh. Sau khi ông Đức Minh qua đời, tác phẩm này được các con của ông bán cho một người sưu tầm tên là Hà Thúc Cần với giá 15.000 USD. Theo lời con trai của họa sĩ Tô Ngọc Vân thì sau khi mua được Thiếu nữ bên Hoa huệ, ông Cần đã bán lại tác phẩm nổi tiếng ra nước ngoài, bấp chấp quy định cấm của Việt Nam. Một phiên bản chép lại của bức tranh từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhưng từ sau năm 1990 phiên bản này đã được gỡ bỏ.


Em Thúy


Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Họa sĩ Trần Văn Cẩn là một trong những đại diện hàng đầu của Hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937.

Em Thúy là bức tranh mà họa sĩ Trần Văn Cẩn dành tặng cháu gái ông, bà Minh Thúy sinh năm 1935. Tác phẩm là bức chân dung bé gái 8 tuổi ngồi trên ghế mây, hai tay đặt trên đùi và mặc váy trắng đơn giản. Nét ngây thơ qua đôi mắt to tròn, trong sáng của cháu gái đã được họa sĩ khắc họa thành công. Tính đến nay đã gần một thế kỷ, nhưng Em Thúy vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm lớn nhất của Việt Nam. Năm 2013, Em Thúy chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia Việt Nam.


Bức tranh Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn.


Cũng giống như Thiếu nữ bên Hoa huệ, Em Thúy cũng lưu lạc trong chiến tranh. Sau khi quân Pháp quay lại chiếm Hà Nội, gia đình bà Minh Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi họ quay về thì bức tranh đã bị lấy trộm và gia đình phải bỏ tiền ra chuộc lại từ một người buôn tranh. Ông này trước đó tìm thấy Em Thúy tại nhà một người thợ cạo. Cuối cùng Em Thúy được họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng lại cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Hai thiếu nữ và em bé


Là một trong những bức tranh đẹp nhất của họa sĩ Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé đã chính thức trở thành Bảo vật quốc gia trong đợt công nhận lần 2 vừa qua của Thủ tướng Chính Phủ.

Hai thiếu nữ và em bé là tác phẩm được danh họa sáng tác năm 1944. Bức tranh miêu tả hình dáng hai chị em ngồi tâm sự trong một ngôi nhà ấm cúng. Người chị với gương mặt độ tuổi trung niên mặc áo vàng, đôi tay e ấp đặt trên đùi, dưới chân là một đứa trẻ đang đùa nghịch. Bên cạnh đứa trẻ là người em mặc áo dài trắng, trẻ trung và xinh đẹp của độ tuổi trăng tròn. Cảnh gia đình xưa tạo cho người xem cảm giác ấm áp, gần gũi.




Đặc biệt trong bức tranh, sự sắp xép khéo léo những gam màu sáng của họa sĩ Tô Ngọc Vân đã tạo nên nhịp điệu cho bức tranh. Bức màn với những bông hoa phù dung tinh khiết tạo nên sự hài hòa hiếm có. Tổng thể, bức tranh có một nét quyến rũ kỳ lạ, khiến khán giả phải công nhận không ai vẽ thiếu nữ đẹp như Tô Ngọc Vân.


Vườn xuân Trung Nam Bắc

Nhắc đến nghệ thuật sơn mài Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Gia Trí - người được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc được Nguyễn Gia Trí thực hiện trong vòng 20 năm, từ 1969 đến 1989.




Tác phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, đi dự hội xuân, chùa chiền. Giai đoạn sáng tác bức tranh, đất nước đang chìm tranh khói lửa chiến tranh. Có thể nói, Vườn xuân Trung Nam Bắc là lời nguyện cầu độc lập, hạnh phúc quê hương của Nguyễn Gia Trí. Đồng thời, tác phẩm cũng là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật nhất, có kích thước lớn nhất và là tác phẩm sáng tác cuối cùng của cuộc đời họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1996, bức tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc đã được UBND Tp.HCM mua lại với mức giá 600 triệu đồng, tương đương khoảng 100.000 USD ở thời điểm đó. Ngay sau đó, một người đã ngỏ ý mua lại bức tranh với giá lên tới 1 triệu USD. Hiện giờ, bức tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng mỹ thuật Tp.HCM.


Ngọc Điệp (Tổng hợp)
Nguồn: SAO360 - Thứ năm ngày 7 tháng 3 năm 2018

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại - Trịnh Chu

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Trịnh Chu



Xã hội cổ truyền Việt Nam đắm mình trong giáo lý Nho, Phật, Lão nên vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ chưa bao giờ được xem trọng, nếu không muốn nói đó là một cấm kị, đừng đụng vào mà bị coi khinh. Một ngày kia cơn gió mạnh Tây phương ồ ạt thổi đến cuốn phăng bao định kiến đang có nguy cơ phá sản của những não trạng không bình thường. Và lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, tầng lớp tiểu tư sản thành thị xuất hiện, đấy chính là nhân tố mới đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong giai tầng xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi. Lẽ dĩ nhiên những hệ luỵ là điều khó tránh khỏi, như mâu thuẫn giữa các ý thức hệ, cái cũ - cái mới, bản sắc - ngoại lai… Là mẫu nghệ sĩ hoàn hảo cả trong cách nghĩ lẫn cách biểu đạt, Tô Ngọc Vân đã bắt được cái đẹp phát xuất từ ngọn gió phương xa nơi phong thái người thiếu nữ thị thành với những đường cong uốn lượn, những hình thể chói loà sắc màu, sáng tạo nên những bức tranh lộng lẫy, tươi mát, giàu sức biểu hiện nhờ một nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi, bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đã ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân nguồn cội, lại vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân mới.

Nhập học khoá II (1926-1931) - Khoa sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vốn bản tính năng động, truy cầu hiểu biết cùng nỗi hoài vọng lớn lao muốn cách tân nền nghệ thuật nước nhà trên tinh thần dân tộc, bản quán, Tô Ngọc Vân đã vẽ bằng tất cả lòng đam mê, sự nhiệt thành hồ hởi của một tâm hồn khát khao cái hiện đại tân kỳ nơi những hình sắc nồng nàn, mê đắm. Ông nhạy cảm, tế nhị với những khối tròn đầy, những đường cong của người thiếu nữ. Tất nhiên đấy không phải chỉ đơn thuần là một thái độ chuộng lạ mà còn là sự đồng điệu giữa tâm hồn nghệ sĩ với hình tượng đẫm tính tạo hình nơi những vóc dáng hoàng cung. Tô Ngọc Vân đã tiếp thu một cách sáng tạo nền hội họa hàn lâm Pháp – cấu trúc, bố cục, phép viễn cận, màu sắc, đường nét khoa học… - nhưng vẫn không quên tìm về nguồn mạch giống nòi với mảng khối lớn, có nhịp điệu, tả thần là chính, thậm chí còn có phần tâm linh, tỉ lệ theo cảm giác… của mỹ thuật truyền thống Đông phương qua việc học tập, mày mò, nghiên cứu tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, bích hoạ Nhật Bản, thủy mặc Trung Hoa… và đã không ít hồn xưa Á Đông đổ bóng xuống tác phẩm của Tô Ngọc Vân. Do vậy, nếu bảo hội hoạ Tô Ngọc Vân là sự tương hợp kỳ diệu giữa hai phương trời vời vợi Đông - Tây cũng không có gì là thái quá: Cảm xúc và tưởng tượng mạnh mẽ được biểu đạt bằng một kỹ thuật độc đáo, hữu hiệu.

Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạch những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.

Năm 1935, trong cuộc triển lãm do SADEAI (Hội Chấn hưng Mỹ thuật & Kỹ nghệ) tổ chức, Tô Ngọc Vân tham gia một số tác phẩm về phong cảnh cố đô Huế, như: Lăng Tự Đức, Thuyền trên sông Hương, Bức thư…báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935, ca ngợi:
“Bao nhiêu là ánh sáng linh động trong tranh phong cảnh của Tô Ngọc Vân. Bức hoạ Lăng Tự Đức của ông Vân thật là khéo léo, cái lặng lẽ của một ngôi mộ, những bức tường có rêu bao phủ, những bóng cây râm mát, tất cả cái đó đều tỏ ra một cách vừa rõ rệt, vừa kín đáo làm người ta nghĩ đến một cảnh Huế êm đềm. Bức thư – Đó là một cảnh yên lặng trang nhã, êm đềm và mát mẻ lắm, cái nền hoa mai nở làm cho bức họa thêm xuân, xuân vì cái màu trắng non của hoa điểm trong cái màu mờ nhạt của bức họa”.
Cũng năm này, Tô Ngọc Vân được bổ nhiệm đi dạy học ở Trường trung học Sisovath ở thủ đô Phnompenh của Campuchia. Đến năm 1939, ông trở lại Hà Nội nhận chức giáo sư hình hoạ và dạy học luôn ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ở cương vị mới này Tô Ngọc Vân vẫn tỏ ra xuất chúng. Ông hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo. Và một đội ngũ họa sĩ kế cận thực tâm, thực tài đã xuất hiện dưới bàn tay đào luyện của ông như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Diệp Minh Châu, Dương Bích Liên, Huỳnh Văn Gấm… mà tên tuổi của họ sẽ còn vọng dội mãi vào lịch sử nền mỹ thuật Việt Nam với tư cách là những đại diện ưu tú.

Năm 1944, Tô Ngọc Vân làm ngây ngất công chúng thủ đô bằng những bức tranh về thiếu nữ: Thiếu nữ bên hoa huệ, Thiếu nữ bên hoa sen, Hai thiếu nữ và em bé đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu Tô Ngọc Vân: Nghệ thuật vững vàng về hình khối, màu sắc đẹp, hài hoà, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với những họa phẩm ấy, Tô Ngọc Vân đã làm một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ông trở thành một trong những trụ cột vững chãi làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại phát triển. Thiếu nữ bên hoa huệ - sơn dầu, vừa được quan sát tinh tường, khoa học, lại được buông thả xa vời trong tưởng tượng đã ám ảnh nhân gian bằng cái nhung, cái tuyết của người thiếu nữ trong chiếc áo dài trắng thuỷ tinh, đẹp thanh thoát và dịu dàng. Với lối nhìn, khối ánh sáng rất hiện đại, có phần chịu ảnh hưởng trường phái Paris nhưng về chiều sâu vẫn kế thừa đậm nét cốt cách dân tộc, cái yêu kiều, cái phong nhã, một cái gì thuần tuý Việt Nam: Trong trắng, kiều diễm và thông mình. Ta bỗng nhận ra cái chùng chình lơ lửng, cái thư thái mà u uẩn, cái háo hức mà cô đơn, cái giản dị mà cao khiết, cái gần gũi mà xa vời… nơi hình tượng người thiếu nữ trước hoa. Bằng lăng kính photo cup, Tô Ngọc Vân đã giúp ta phát hiện ra cái nhan sắc ẩn diệu, cái chớp sáng phiêu linh mà các thế hệ họa sĩ trước Tô Ngọc Vân không có.

Hai thiếu nữ và em bé lại cho ta cái cảm giác mộng sầu êm ái để từ trong thẳm xa ẩn ức bật ra lời thơ “Người em sầu mộng của muôn đời” mà thi sĩ cõi mộng Lưu Trọng Lư đã viết trong bài Một mùa đông đầy tính nhạc:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vương víu nợ thi nhân?

Với Hai thiếu nữ và em bé, Tô Ngọc Vân đã xoá nhòa ranh giới giữa họa và thơ, là dịp để con tim yêu thương lên tiếng, đồng vọng tỏa lan.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tô Ngọc Vân lãnh trọng trách chèo chống con thuyền mỹ thuật Việt Nam tiến lên phía trước. Trong buổi đầu gây dựng cơ sở với biết bao khó khăn, thách thức nhưng bằng lòng đam mê, sự nhiệt thành năng động của một nhà tổ chức kiến tạo có tài và nhân cách, dám cháy hết mình cho nghệ thuật, cho dân tộc, mọi chuyện đã dần dần đi vào ổn định. Năm 1946, ông cùng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nữ điêu khắc Nguyễn Thị Kim được phép vào Phủ Chủ tịch vẽ Bác Hồ, để rồi năm 1951, bức khắc gỗ Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ ra đời, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường nghệ thuật của Tô Ngọc Vân. Thay vì hình sắc lộng lẫy, óng chuốt ngày nào, giờ hình sắc Tô Ngọc Vân đã đổi mới: Những nét khắc gỗ chắc, khỏe, mộc mạc khiến Bác Hồ hiện lên không chỉ bằng ngoại hình mà cả tính cách của Người.

Ta lại bắt gặp người nghệ sĩ nhanh nhẹn, vui tính Tô Ngọc Vân sát cánh cùng anh em văn nghệ trên những nẻo đường Việt Bắc. Sống gắn bó, trải lòng giữa nhân quần rộng lớn, đem tài năng, kinh nghệm góp phần phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc. Những bài giảng của Tô Ngọc Vân trong khóa Mỹ thuật kháng chiến là những bài học nhập môn có chất lượng rất cao, và mang một ý nghĩa khai mở lớn. Bên cạnh đó là hàng tập ký họa tươi ánh về những con người bình dị, chất phác đã hòa quyện trong xúc cảm của một tâm hồn trong sáng, đôn hậu: Bủ Đường bế con đi học, Hành quân qua suối, Nghỉ giữa rừng, Hành quân qua đèo… Mặc dù mới chỉ là tranh ký họa nhưng rất có giá trị về mặt nghệ thuật: Đường nét linh động, chắc nịch, tiết tấu rộn ràng, thần thái các nhân vật được thâu tóm, diễn đạt theo lối dân gian cách điệu mà vẫn đẫm chất tài hoa, mẫu mực Tô Ngọc Vân. Không những thế, Tô Ngọc Vân còn là người đặt nền móng cho ngành lý luận phê bình mỹ thuật ở nước ta. Hãy nghe ông luận giải về chất liệu mới sơn mài – một chất liệu hoàn toàn do người Việt Nam sáng tạo nên – trong bài thuyết trình trước Hội nghị văn hoá toàn quốc, diễn ra vào ngày 19 tháng 7 năm 1948:
“… Sơn ta có sắc phẩm, có phẩm chất đủ năng lực để làm tan các mâu thuẫn giữa hình, sắc, chất, mâu thuẫn đã có từ non một thế kỷ. Sơn mài, một ngành hội họa mới do tay người Việt Nam dựng lên, sẽ đem lại cho thế giới hội họa hình, sắc, chất đang mong đợi và sự điều hòa những khuynh hướng trái ngược nhau…”.
Tuy cách đánh giá có phần thái quá nhưng không ai không nhận ra đằng sau những lời hồ hởi chân thành ấy một tình yêu bao la đối với tiền đồ nghệ thuật dân tộc mà cả đời ông mong mỏi khôn nguôi, muốn đạt đến địa vị trọng yếu trên mặt bằng chung mỹ thuật thế giới.

Tô Ngọc Vân bám sát hiện thực, có ý thức phục vụ thời cuộc, nhưng không vì thế mà hạ thấp tiêu chí thẩm mỹ, như quan điểm đã bộc lộ trong bài viết: Tranh tuyên truyền và hội hoạ, tranh luận với giáo sư Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân đã nói rất trung thực: Đứng trước đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc, các nghệ sĩ phải dám lăn vào lửa, phải biết làm nghệ thuật cách mạng và làm giỏi, nhưng trong lâu dài, nếu muốn thành một người thực sự sáng tạo thì phải nhìn xa hơn cái sứ mệnh mà mình đã lựa chọn, có thế mới mang lại vẻ vang cho nền nghệ thuật nước nhà.

Có nghệ thuật tuyên truyền nhưng cũng có nghệ thuật theo đuổi cái đẹp. Một họa sĩ chỉ dừng lại ở nghệ thuật tuyên truyền cũng giống như một anh chàng kỵ sĩ an tâm một đời dắt ngựa chứ không chịu nhảy lên ngồi trên lưng ngựa phóng tới phía trước. Từ cách chọn đề tài đến cái tứ gửi gắm ở mỗi bức tranh, cho đến đường nét, màu sắc Tô Ngọc Vân đều hướng tới cái đẹp bền vững, không ăn xổi, nông cạn như một số hoạ sĩ đương thời.

Người nghệ sĩ đầy nhân cách và tài năng hết lòng vì nghệ thuật, vì dân tộc ấy đã ngã xuống trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đấy là một tổn thất lớn của nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng một lẽ khác, cái chết ấy lại là một niềm tự hào của chúng ta: Tô Ngọc Vân chết vì đất nước và cũng chết cho nghệ thuật được sống. Ngày nay tìm đến hội họa Tô Ngọc Vân là tìm đến với vẻ đẹp mới, bình an, tĩnh tại của một tâm thức duy mỹ trong dòng đời sinh hoá mà chính bản thân ông đã sống, trải nghiệm và hiến dâng.



Trịnh Chu
Nguồn: Tạp chí Non nước - Số 165 (Tháng 4/2011)






báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935








Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930





Phác họa của Lê Thị Lựu - 1930

Tô Ngọc Vân: Cánh chim đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Trịnh Chu



Xã hội cổ truyền Việt Nam đắm mình trong giáo lý Nho, Phật, Lão nên vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ chưa bao giờ được xem trọng, nếu không muốn nói đó là một cấm kị, đừng đụng vào mà bị coi khinh. Một ngày kia cơn gió mạnh Tây phương ồ ạt thổi đến cuốn phăng bao định kiến đang có nguy cơ phá sản của những não trạng không bình thường. Và lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, tầng lớp tiểu tư sản thành thị xuất hiện, đấy chính là nhân tố mới đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong giai tầng xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi. Lẽ dĩ nhiên những hệ luỵ là điều khó tránh khỏi, như mâu thuẫn giữa các ý thức hệ, cái cũ - cái mới, bản sắc - ngoại lai… Là mẫu nghệ sĩ hoàn hảo cả trong cách nghĩ lẫn cách biểu đạt, Tô Ngọc Vân đã bắt được cái đẹp phát xuất từ ngọn gió phương xa nơi phong thái người thiếu nữ thị thành với những đường cong uốn lượn, những hình thể chói loà sắc màu, sáng tạo nên những bức tranh lộng lẫy, tươi mát, giàu sức biểu hiện nhờ một nghệ thuật sơn dầu điêu luyện, sành sỏi, bậc thầy. Cấu trúc bác học phương Tây đã ngưng kết trong mạch nguồn văn hóa dân tộc khiến tác phẩm nghệ thuật Tô Ngọc Vân vừa có sự thanh tân nguồn cội, lại vừa có cái nhìn mới mẻ, hiện đại làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân mới.

Nhập học khoá II (1926-1931) - Khoa sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vốn bản tính năng động, truy cầu hiểu biết cùng nỗi hoài vọng lớn lao muốn cách tân nền nghệ thuật nước nhà trên tinh thần dân tộc, bản quán, Tô Ngọc Vân đã vẽ bằng tất cả lòng đam mê, sự nhiệt thành hồ hởi của một tâm hồn khát khao cái hiện đại tân kỳ nơi những hình sắc nồng nàn, mê đắm. Ông nhạy cảm, tế nhị với những khối tròn đầy, những đường cong của người thiếu nữ. Tất nhiên đấy không phải chỉ đơn thuần là một thái độ chuộng lạ mà còn là sự đồng điệu giữa tâm hồn nghệ sĩ với hình tượng đẫm tính tạo hình nơi những vóc dáng hoàng cung. Tô Ngọc Vân đã tiếp thu một cách sáng tạo nền hội họa hàn lâm Pháp – cấu trúc, bố cục, phép viễn cận, màu sắc, đường nét khoa học… - nhưng vẫn không quên tìm về nguồn mạch giống nòi với mảng khối lớn, có nhịp điệu, tả thần là chính, thậm chí còn có phần tâm linh, tỉ lệ theo cảm giác… của mỹ thuật truyền thống Đông phương qua việc học tập, mày mò, nghiên cứu tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, bích hoạ Nhật Bản, thủy mặc Trung Hoa… và đã không ít hồn xưa Á Đông đổ bóng xuống tác phẩm của Tô Ngọc Vân. Do vậy, nếu bảo hội hoạ Tô Ngọc Vân là sự tương hợp kỳ diệu giữa hai phương trời vời vợi Đông - Tây cũng không có gì là thái quá: Cảm xúc và tưởng tượng mạnh mẽ được biểu đạt bằng một kỹ thuật độc đáo, hữu hiệu.

Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạch những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng:
“Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”.

Năm 1935, trong cuộc triển lãm do SADEAI (Hội Chấn hưng Mỹ thuật & Kỹ nghệ) tổ chức, Tô Ngọc Vân tham gia một số tác phẩm về phong cảnh cố đô Huế, như: Lăng Tự Đức, Thuyền trên sông Hương, Bức thư…báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935, ca ngợi:
“Bao nhiêu là ánh sáng linh động trong tranh phong cảnh của Tô Ngọc Vân. Bức hoạ Lăng Tự Đức của ông Vân thật là khéo léo, cái lặng lẽ của một ngôi mộ, những bức tường có rêu bao phủ, những bóng cây râm mát, tất cả cái đó đều tỏ ra một cách vừa rõ rệt, vừa kín đáo làm người ta nghĩ đến một cảnh Huế êm đềm. Bức thư – Đó là một cảnh yên lặng trang nhã, êm đềm và mát mẻ lắm, cái nền hoa mai nở làm cho bức họa thêm xuân, xuân vì cái màu trắng non của hoa điểm trong cái màu mờ nhạt của bức họa”.
Cũng năm này, Tô Ngọc Vân được bổ nhiệm đi dạy học ở Trường trung học Sisovath ở thủ đô Phnompenh của Campuchia. Đến năm 1939, ông trở lại Hà Nội nhận chức giáo sư hình hoạ và dạy học luôn ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ở cương vị mới này Tô Ngọc Vân vẫn tỏ ra xuất chúng. Ông hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo. Và một đội ngũ họa sĩ kế cận thực tâm, thực tài đã xuất hiện dưới bàn tay đào luyện của ông như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Diệp Minh Châu, Dương Bích Liên, Huỳnh Văn Gấm… mà tên tuổi của họ sẽ còn vọng dội mãi vào lịch sử nền mỹ thuật Việt Nam với tư cách là những đại diện ưu tú.

Năm 1944, Tô Ngọc Vân làm ngây ngất công chúng thủ đô bằng những bức tranh về thiếu nữ: Thiếu nữ bên hoa huệ, Thiếu nữ bên hoa sen, Hai thiếu nữ và em bé đánh dấu đỉnh cao nghệ thuật sơn dầu Tô Ngọc Vân: Nghệ thuật vững vàng về hình khối, màu sắc đẹp, hài hoà, sáng tối lung linh, trữ tình, thanh thoát và đằm thắm. Với những họa phẩm ấy, Tô Ngọc Vân đã làm một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ông trở thành một trong những trụ cột vững chãi làm cơ sở cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại phát triển. Thiếu nữ bên hoa huệ - sơn dầu, vừa được quan sát tinh tường, khoa học, lại được buông thả xa vời trong tưởng tượng đã ám ảnh nhân gian bằng cái nhung, cái tuyết của người thiếu nữ trong chiếc áo dài trắng thuỷ tinh, đẹp thanh thoát và dịu dàng. Với lối nhìn, khối ánh sáng rất hiện đại, có phần chịu ảnh hưởng trường phái Paris nhưng về chiều sâu vẫn kế thừa đậm nét cốt cách dân tộc, cái yêu kiều, cái phong nhã, một cái gì thuần tuý Việt Nam: Trong trắng, kiều diễm và thông mình. Ta bỗng nhận ra cái chùng chình lơ lửng, cái thư thái mà u uẩn, cái háo hức mà cô đơn, cái giản dị mà cao khiết, cái gần gũi mà xa vời… nơi hình tượng người thiếu nữ trước hoa. Bằng lăng kính photo cup, Tô Ngọc Vân đã giúp ta phát hiện ra cái nhan sắc ẩn diệu, cái chớp sáng phiêu linh mà các thế hệ họa sĩ trước Tô Ngọc Vân không có.

Hai thiếu nữ và em bé lại cho ta cái cảm giác mộng sầu êm ái để từ trong thẳm xa ẩn ức bật ra lời thơ “Người em sầu mộng của muôn đời” mà thi sĩ cõi mộng Lưu Trọng Lư đã viết trong bài Một mùa đông đầy tính nhạc:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vương víu nợ thi nhân?

Với Hai thiếu nữ và em bé, Tô Ngọc Vân đã xoá nhòa ranh giới giữa họa và thơ, là dịp để con tim yêu thương lên tiếng, đồng vọng tỏa lan.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tô Ngọc Vân lãnh trọng trách chèo chống con thuyền mỹ thuật Việt Nam tiến lên phía trước. Trong buổi đầu gây dựng cơ sở với biết bao khó khăn, thách thức nhưng bằng lòng đam mê, sự nhiệt thành năng động của một nhà tổ chức kiến tạo có tài và nhân cách, dám cháy hết mình cho nghệ thuật, cho dân tộc, mọi chuyện đã dần dần đi vào ổn định. Năm 1946, ông cùng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nữ điêu khắc Nguyễn Thị Kim được phép vào Phủ Chủ tịch vẽ Bác Hồ, để rồi năm 1951, bức khắc gỗ Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ ra đời, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường nghệ thuật của Tô Ngọc Vân. Thay vì hình sắc lộng lẫy, óng chuốt ngày nào, giờ hình sắc Tô Ngọc Vân đã đổi mới: Những nét khắc gỗ chắc, khỏe, mộc mạc khiến Bác Hồ hiện lên không chỉ bằng ngoại hình mà cả tính cách của Người.

Ta lại bắt gặp người nghệ sĩ nhanh nhẹn, vui tính Tô Ngọc Vân sát cánh cùng anh em văn nghệ trên những nẻo đường Việt Bắc. Sống gắn bó, trải lòng giữa nhân quần rộng lớn, đem tài năng, kinh nghệm góp phần phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc. Những bài giảng của Tô Ngọc Vân trong khóa Mỹ thuật kháng chiến là những bài học nhập môn có chất lượng rất cao, và mang một ý nghĩa khai mở lớn. Bên cạnh đó là hàng tập ký họa tươi ánh về những con người bình dị, chất phác đã hòa quyện trong xúc cảm của một tâm hồn trong sáng, đôn hậu: Bủ Đường bế con đi học, Hành quân qua suối, Nghỉ giữa rừng, Hành quân qua đèo… Mặc dù mới chỉ là tranh ký họa nhưng rất có giá trị về mặt nghệ thuật: Đường nét linh động, chắc nịch, tiết tấu rộn ràng, thần thái các nhân vật được thâu tóm, diễn đạt theo lối dân gian cách điệu mà vẫn đẫm chất tài hoa, mẫu mực Tô Ngọc Vân. Không những thế, Tô Ngọc Vân còn là người đặt nền móng cho ngành lý luận phê bình mỹ thuật ở nước ta. Hãy nghe ông luận giải về chất liệu mới sơn mài – một chất liệu hoàn toàn do người Việt Nam sáng tạo nên – trong bài thuyết trình trước Hội nghị văn hoá toàn quốc, diễn ra vào ngày 19 tháng 7 năm 1948:
“… Sơn ta có sắc phẩm, có phẩm chất đủ năng lực để làm tan các mâu thuẫn giữa hình, sắc, chất, mâu thuẫn đã có từ non một thế kỷ. Sơn mài, một ngành hội họa mới do tay người Việt Nam dựng lên, sẽ đem lại cho thế giới hội họa hình, sắc, chất đang mong đợi và sự điều hòa những khuynh hướng trái ngược nhau…”.
Tuy cách đánh giá có phần thái quá nhưng không ai không nhận ra đằng sau những lời hồ hởi chân thành ấy một tình yêu bao la đối với tiền đồ nghệ thuật dân tộc mà cả đời ông mong mỏi khôn nguôi, muốn đạt đến địa vị trọng yếu trên mặt bằng chung mỹ thuật thế giới.

Tô Ngọc Vân bám sát hiện thực, có ý thức phục vụ thời cuộc, nhưng không vì thế mà hạ thấp tiêu chí thẩm mỹ, như quan điểm đã bộc lộ trong bài viết: Tranh tuyên truyền và hội hoạ, tranh luận với giáo sư Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân đã nói rất trung thực: Đứng trước đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc, các nghệ sĩ phải dám lăn vào lửa, phải biết làm nghệ thuật cách mạng và làm giỏi, nhưng trong lâu dài, nếu muốn thành một người thực sự sáng tạo thì phải nhìn xa hơn cái sứ mệnh mà mình đã lựa chọn, có thế mới mang lại vẻ vang cho nền nghệ thuật nước nhà.

Có nghệ thuật tuyên truyền nhưng cũng có nghệ thuật theo đuổi cái đẹp. Một họa sĩ chỉ dừng lại ở nghệ thuật tuyên truyền cũng giống như một anh chàng kỵ sĩ an tâm một đời dắt ngựa chứ không chịu nhảy lên ngồi trên lưng ngựa phóng tới phía trước. Từ cách chọn đề tài đến cái tứ gửi gắm ở mỗi bức tranh, cho đến đường nét, màu sắc Tô Ngọc Vân đều hướng tới cái đẹp bền vững, không ăn xổi, nông cạn như một số hoạ sĩ đương thời.

Người nghệ sĩ đầy nhân cách và tài năng hết lòng vì nghệ thuật, vì dân tộc ấy đã ngã xuống trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đấy là một tổn thất lớn của nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng một lẽ khác, cái chết ấy lại là một niềm tự hào của chúng ta: Tô Ngọc Vân chết vì đất nước và cũng chết cho nghệ thuật được sống. Ngày nay tìm đến hội họa Tô Ngọc Vân là tìm đến với vẻ đẹp mới, bình an, tĩnh tại của một tâm thức duy mỹ trong dòng đời sinh hoá mà chính bản thân ông đã sống, trải nghiệm và hiến dâng.



Trịnh Chu
Nguồn: Tạp chí Non nước - Số 165 (Tháng 4/2011)






báo Ngày nay – số 3, ra ngày 20 tháng 2 năm 1935








Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930





Phác họa của Lê Thị Lựu - 1930

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương (1924-1945)

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương (1924-1945)
L’école des Beaux-Arts de l’Indochine


CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG CỦA VICTOR TARDIEU VÀ VAI TRÒ CỦA NAM-SƠN

Ngô Kim-Khôi


Victor Tardieu



Những người yêu thích nghệ thuật việt-nam nói chung và ngành hội họa nói riêng đều không ít thì nhiều biết đến trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (L’École des Beaux-Arts de l’Indochine). Trường là nơi đào tạo một thế hệ họa sĩ cũng như điêu khắc gia đã đi vào lịch sử nghệ thuật việt-nam như Lê Phổ, Vũ Cao-Đàm, Nguyễn Phan-Chánh, Georges Khánh, Mai Trung-Thứ, Tô Ngọc-Vân, Lê văn Đệ, Nguyễn Gia-Trí, Trần văn Cẩn… Nhưng ít người biết rằng một cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa hai nền văn hóa Đông-Tây, đại diện là Victor Tardieu (1870-1937) và Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ (1890-1973), đã liên kết với nhau để đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương.


I. Victor Tardieu


Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1870 tại Lyon trong một gia đình thương gia chuyên về tơ lụa, từ thuở nhỏ Victor Tardieu đã yêu thích hội họa, ông theo học trường Mỹ-thuật Lyon vào tuổi vị thành niên. Từ 1889 đến 1891, ông lên học trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa của Gustave Moreau (1826-1898), cùng với các bạn học mà tên tuổi lẫy lừng hiện nay như Henri Matisse (1869-1954), Albert Marquet (1875-1947), Georges Rouault (1871-1958)… Năm 1892, ông sang học tại xưởng họa của Léon Bonnat (1833-1922, môn đồ của Ingres).

Victor Tardieu đã làm rạng danh những người thầy của mình qua nhiều giải thưởng có tầm vóc, đặc biệt là hạng Danh dự (Mention Honorable) năm 1896, huy chương hạng ba năm 1899, huy chương hạng hai năm 1907, huy chương Vàng (“Hors Concours“) tại Hội Những Nghệ Sĩ Pháp (Salon des Artistes français)… Đặc sắc hơn là ông đã đoạt được huy chương Đồng tại cuộc Triển-Lãm Hoàn-Cầu (Exposition Universelle) năm 1900.

Là một họa sĩ tài hoa, Victor Tardieu đi vào thế giới hội họa với những tấm tranh có bố cục lớn, ông đã thực hiện những bản vẽ để dùng vào việc ghép những lồng kính màu (vitrail) cho các nhà thờ và công sở. Nổi tiếng nhất trong những kính màu này là tấm “Jean Bart trở về quê hương sau chiến thắng Texel” (Le retour de Jean Bart dans sa ville natal après la victoire du Texel), trưng bày tại sảnh đường Tòa Thị-Chính tỉnh Dunkerque [1]Tấm vitrail này đã bị chiến tranh tiêu hủy vào năm 1940, nhưng những bản mẫu (études) hiện nay vẫn còn lưu giữ tại viện Bảo tàng Dunkerque. (Xem bên dưới).

Năm 1902, với bức sơn dầu “Lao động” (Travail, 4m50 x 4m80) [2]Hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Rennes. (Xem bên dưới), Victor Tardieu đã đoạt giải thưởng Quốc-gia (Prix National), cùng với một học bổng đi du lịch hai năm trong toàn châu Âu. Viễn hành với phu nhân, Caroline Luigini [3]Là con gái nhà soạn nhạc nổi tiếng Alexandre Clément Luigini (sinh tại Lyon năm 1850), bà đã đoạt giải nhất tại Nhạc viện Lyon qua tiếng đàn Hạc-cầm (harpe). Bà còn có người em trai là họa sĩ Ferdinand Luigini. Trong gia đình, bà được gọi một cách thân ái là “Caline” (dịu dàng). (Xem bên dưới), chuyến du lịch ấy đã được Tardieu ghi lại qua nhiều tranh sơn dầu có khuynh hướng nghệ thuật ấn tượng (impressionniste) mô tả hoạt động tại các hải cảng lớn của Âu châu, được lưu ý nhất là “Chân dung bà Rozier” “Kỷ niệm” (Souvenirs), “Hải cảng Liverpool” “Hải cảng Londres” “Hải cảng Gènes” [4]Tất cả những sơn dầu kể trên hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Lyon. (Xem bên dưới)



Victor Tardieu,
tượng đồng của Georges Khánh, 1935, cao 40cm



Năm 1903, tiếng khóc chào đời của người con trai duy nhất trong gia đình Tardieu, Jean, và những năm yên bình tiếp sau đó đã giúp Tardieu hình thành những tấm sơn dầu tỏa ra một niềm vui lồng trong màu sắc lộng lẫy của trường phái ấn tượng. Những nét chấm phá rực rỡ mang đầy hạnh phúc gia đình được vẽ ngoài trời, trong một khu vườn, dưới ánh nắng chan hòa mà ở trong khung cảnh ấy Caroline và Jean, “Mẹ con” đang ngồi “Dưới bóng ô đỏ” (Ombrelle rouge), “Dưới bóng ô trắng” (Ombrelle blanche)… Đó là những tấm tranh đã hình thành vào khoảng năm 1912, lúc ấy Jean được chín hay mười tuổi. Các bức tranh ấy chúng tôi đã hân hạnh được thưởng lãm tại nhà riêng của gia đình Tardieu tại Paris vào những năm 1993, 1994. Sau này, Jean Tardieu (1903-1995) đã trở thành một nhà thơ tiếng tăm vang dội.


Dưới bóng ô đỏ, (Ombrelle rouge) sơn dầu của Victor Tardieu, 1912, 40x50cm
(Tư liệu NgKmKh)



Vào năm 1907, để đáp ứng yêu cầu trang trí trần nhà phòng Lễ Hội (salle des Fêtes) thuộc về Thị-xã Les Lilas, Hội-đồng vùng Seine (Conseil général de la Seine)[5]Vào đầu thế kỷ 20 chưa có l’Ile de France. (Xem bên dưới) mở ra một hội thi dành cho các họa sĩ toàn quốc. Khoảng năm mươi bản vẽ đã được trưng bày tại cung Mỹ-thuật (Palais des Beaux Arts) thành phố Paris vào tháng 12 năm 1907. Cuối cùng chỉ có bốn ứng sinh được vào chung kết. Tháng 5 năm 1908, các bản vẽ này đã được tuyển chọn tại toà Thị Chính Paris, tháng 6 cùng năm, Victor Tardieu được xướng danh [6]Phòng Lễ Hội của Hội-đồng Thị-xã Les Lilas được xây cất vào đầu thế kỷ thứ XIX (1903 1907) dưới bản vẽ của kiến trúc sư Bévière. Năm 1994, phòng Lễ Hội đã được hoàn toàn chỉnh trang và trở thành Kịch viện Garde Chasse, đồng thời cũng là môt phòng chiếu bóng. Khi có dịp, chúng tôi sẽ viết một cách rõ ràng hơn về tấm bích họa này của Victor Tardieu, nhưng quý bạn độc giả nếu có điều kiện đến Lilas (Métro Mairie des Lilas) cũng nên dừng bước ghé thăm. (Xem bên dưới).

Tấm tranh bích họa vĩ đại có tên là “Thời đại của Paul de Kock” (Au temps de Paul de Kock) này có nhiều ảnh hưởng của danh họa người Ý Tiepolo (1696-1770) và trình bày theo kiểu baroque, đã được Victor Tardieu hoàn tất trong ba năm (1909-1911).


Chi tiết "Thời đại của Paul de Kock" (1909-1911, détail), sơn dầu của Victor Tardieu.
(Ảnh NgKmKh)



Chiến tranh thế giới bùng nổ vào mùa thu năm 1914. Dù được hoãn dịch, Victor Tardieu vẫn tình nguyện tòng quân và tham gia những trận chiến tại miền bắc Pháp. Hiện nay, viện Bảo tàng Quân đội Paris (Musée de l’Armée) vẫn còn trân trọng gìn giữ những bức tranh nhỏ của ông, đặc biệt nhất là “Phế tích Verdun” (Ruines de Verdun) được ghi lại một cách não nùng ngay dưới những trận mưa bom.

Sau bốn năm chiến tranh, Victor Tardieu trở về Paris. Năm 1920, trên trần phòng Cố-vấn Thị-xã Montrouge (salle du Conseil Municipal) được nét bút tài hoa của Victor Tardieu điểm trang bằng một bích họa vĩ đại thứ hai lấy tên là “Những niên kỷ cuộc đời” (Les âges de la vie). Cùng năm, cuộc đời của chính ông đã rẽ vào một khúc quanh định mệnh khi ông nhận được Giải thưởng Đông-dương (Prix de l’Indochine) [7]Nghị định lập Giải thưỏng Đông-dương do Toàn quyền Antony Wladislas Klobukowski ký năm 1910, do “Hội Thuộc-địa Nghệ-sĩ Pháp” (Société Coloniale des Artistes français) đề xướng với ý định phát khởi nghệ thuật phương Tây tại Đông-dương. Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinant Olivier (1873-1956) và cuối cùng là Louis Bâte (1898-1948).
(Xem bên dưới)
và một học bổng sang Đông-dương nghiên cứu trong vòng một năm.

Ngày 5 tháng 1 năm 1921, Victor Tardieu xuống tàu ở cảng Marseilles, ông đã lần đầu tiên trong đời cảm nhận được không khí miền nhiệt đới vào ngày 2 tháng 2, đồng thời thưởng thức mùa xuân Hà-nội.


Chi tiết bức tranh Victor Tardieu vẽ cho Trường Đại Học Đông Dương

Hanoi Art ToursVictor Tardieu Life & Career - Victor Tardieu passed away in Hanoi
Victor Tardieu's Artwork
His artwork in the auditorium of Indochina University (it is now Hanoi University of Pharmacy, 19 Le Thanh Tong) was considered as the largest contemporary painting. With a total square size of 77m², Tardieu illustrated Hanoi’s landscape in the early 20th century with 200 characters representing the society at that time including both politicians and civilians. There were 4 Indochina Governors: Paul Doumer, Jean Baptiste Paul Beau, Albert Sarraut, Maurice Long and several leaders, teachers at Indochina University and his son – Jean Tardieu.

In the middle of the artwork, a triple gate like a traditional gate in the countryside in Vietnam lay under the ancient tree. The gate had four words: 升堂入室, it means “Welcome you” as a friendly reception. Being dim in the middle of the gate, Allegorie du Progres (allegory of Progress – the first image of the painter) was a character symbolizing the modern evolutionary synthesis; The image “her hand holding a book” was an emblem of the intellect. Within the large space in front of the gate, the painter painted vivid portraits of contemporary women of many classes including both the French and indigenous people. Each character had a distinct expression.
In 2006, Painter Hoang Hung with his photos of the original painting recreated it in the main auditorium at Indochina University (19 Le Thanh Tong, Hanoi.)




II. Nam-Sơn (Nguyễn văn Thọ)


Sinh trưởng trong một dòng dõi nho gia, Nguyễn văn Thọ chào đời gần hồ Hoàn Kiếm tại Hà-nội vào ngày 15 tháng 2 năm 1890 (Canh Dần), tại số 17 phố Hàng Dầu (rue du Lac). Ông là con trai duy nhất của nho giả Nguyễn văn Khang (1871 1894), thư ký phủ Thống-sứ Bắc-kỳ. Mẹ ông, Nguyễn thị Lân (1870 1951), thuộc một thương gia ở phố Hàng Bạc (rue des Orfèvres).

Tổ tiên của ông, Nguyễn Duy-Thời (1572 1652) và Nguyễn Duy-Hiểu (1602 ?) [8]Nguyễn Duy Thời (Thì) đỗ Hoàng giáp triều Lê Thế Tông, từng đi sứ sang nhà Minh, làm quan đến chức Hộ Bộ Thượng thư kiêm Chưởng lục bộ sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công (grand Duc), khi mất được truy phong Thái tể. Tác phẩm hiện còn trong Toàn Việt thi lục.

Con trai ông, Nguyễn Duy Hiểu, đỗ Hoàng giáp triều Lê Thần Tông, làm quan đến chức Thiêm đô ngự sử, từng đi sứ sang nhà Minh, mất trên đường đi và được truy phong Hình bộ tả Thị lang, tước Hầu (Marquis). (Xem bên dưới)
, đã lừng lẫy dưới triều Lê với mỹ danh “Phụ tử đồng triều”, tên tuổi hiện nay vẫn còn ghi khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, Hà-nội.

Cha mất khi lên bốn tuổi, Nguyễn văn Thọ được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ quyết tâm dành trọn cuộc đời cho con, ban ngày tảo tần buôn bán tơ lụa tại phố Hàng Đào (rue de la Soie), ban đêm chong đèn khâu thuê vá mướn [9]Những công lao khó nhọc và tấm lòng hy sinh vô bờ bến như nước trong nguồn chảy ra ấy của cụ Nguyễn thị Lân sau này thấu đến triều đình, vào năm 1927, cụ được vua Bảo Đại ngự ban một Kim khánh khắc bốn chữ ” 節 行 可 封 ” (Tiết hạnh khả phong). Vào đầu thập niên 40, một bức tượng bán thân của cụ đã được hình thành bởi điêu khắc gia Vũ văn Thu (nhạc phụ của họa sĩ Tạ-Tỵ), bức tượng này hiện để trên bàn thờ gia tiên của gia đình Nam-Sơn tại đường Nguyễn Du, Hà-nội. (Xem bên dưới). Trong cảnh hàn vi, bà đã giao việc đèn sách của đứa con mồ côi cha ấy cho em mình, Nguyễn Sỹ-Đức (tự Cẩm-Thành), và em họ, Phạm Như-Bình, là những nhà nho uyên thâm có tấm lòng yêu nước. Nguyễn văn Thọ vỡ lòng với những chữ hán đầu tiên trong Tam tự kinh rồi Thiên tự kinh …, từ Khổng hiền chi đạo đến hán tự thi thư. Ngoài ra, ông còn được học cách quan sát, thưởng thức nét đẹp thiên nhiên qua các bài thi phú và tranh vẽ. Cuối cùng, ông chập chững đi vào thế giới hội họa với những khái luận ban sơ qua quyển “Giới tử viên họa truyền” [10]芥 子 園 畫 傳, Le jardin aussi gros qu’une graine de moutarde, là một bộ cẩm nang bách khoa về hội họa cổ điển trung hoa, của họa sĩ đồng thời là một văn sĩ danh tiếng đời Khanh-Hy : Lý Ngư (1611 1679). Sở dĩ sách có tên như vậy là vì đã được khởi thảo sau một cuộc luận đàm về hội họa giữa Lý Ngư và Trần Tâm-Hữu trong khu vườn Giới-Tử của Trần Tâm-Hữu ở Nam Kinh. Nhờ có sự cộng tác của Trần Tâm-Hữu và nhất là của Vương An-Tiết (tự Lộc-Sài), cuốn sách này đã ra đời vào năm 1679 và tái bản với nhiều bổ túc vào năm 1701. Sách gồm có những tài liệu di lại của Lý Trường-Hành (1575 1629), tổ tiên của Lý Ngư, một bài tiểu dẫn của Lý Ngư, những mục về cây, về đá, về nhân vật và 130 bản in những cổ họa và mẫu vẽ. (Xem bên dưới). Chính Phạm Như-Bình sau này, qua cái tên Thọ, đã chọn cho ông biệt hiệu Nam-Sơn (Thọ tỉ Nam-Sơn), như một lời chúc trong Kinh Thi:
南 山 至 壽, 不 牽 不 能

“Nam-Sơn chí thọ, bất khiên bất năng” (Thọ vững bền như ngọn núi Nam-Sơn mà không gì lay chuyển nổi).

Năm mười tuổi Nam-Sơn mới bắt đầu học chữ quốc-ngữ tại trường tiểu học Hàng Vôi [11]Trường Amiral Courbet, gọi môn na là trường Hàng Vôi, sau là trường Nguyễn Du. (Xem bên dưới) và vẫn tiếp tục học chữ nho tại nhà.

Tốt nghiệp trường Bưởi (trường Bảo-hộ, lycée du Protectorat) năm hai mươi tuổi, ông vào làm tại sở Tài-chánh Đông-dương (Direction des Finances) cùng với Tú-Mỡ Hồ Trọng-Hiếu (1900-1976) và Nhất-Linh Nguyễn Tường-Tam (1906-1963). Vì có khiếu vẽ và không ngừng tự trau dồi học hỏi qua sách vở, biệt hiệu Nam-Sơn đã xuất hiện thường xuyên qua các tranh bìa, tranh minh họa bằng bút lông, bút sắt, mực nho…, trang trí cho các báo chí thời bấy giờ như Đông-dương tạp-chí (Revue Indochinoise, chủ bút Nguyễn văn Vĩnh), Nam-Phong tạp-chí (Vent du Sud, chủ bút Phạm Quỳnh), Viễn-Á (Extrême-Asie, chủ bút Georges Mignon), Trang Đông-dương (Pages Indochinoises)… Các đề tài của ông qua các tranh bìa và tranh minh họa này thường diễn tả cuộc sống thường nhật và phong cảnh thiên nhiên, ngoài ra ông còn vẽ theo những phù điêu hoặc trầm điêu chạm hoa văn sắc sảo của các miếu đền đông phương.


Nam-Sơn (Nguyễn văn Thọ), Hà-Nội 1919



Chúng tôi xin mở ra một dấu ngoặc để kể rằng thuở ấy, Tú-Mỡ mới bắt đầu bước vào văn đàn, tự xuất bản tập thơ đầu tay tựa là “Câu cười tiếng khóc” dưới bút hiệu Nguyên-Trực, đã nhờ Nam-Sơn vẽ cho tấm trang bìa “Đêm thu”. Nhất-Linh khi xuất bản quyển sách đầu tay “Nho phong” năm 1926 (Nxb Ngọc-Xuyên, Hà-nội), đã trân trọng đặt tấm tranh sơn dầu “Nhà nho xứ Bắc” (40x50cm, 1923) của Nam-Sơn lên trang bìa.

Năm 1923, Trần Trọng-Kim và Đỗ Thận tại bộ Giáo-dục Đông-dương đã mời Nam-Sơn cộng tác, ông chuyển sang nha Học-Chính (Direction Générale de l’Instuction Publique, thành lập năm 1920) để phụ trách phần minh họa cho các sách giáo khoa như Quốc-văn giáo-khoa-thư, Luân-lý giáo-khoa-thư…


Minh họa của Nam-Sơn, trích từ tạp chí Extrême-Asie, số 12, 6/1927, trang 495




III. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương


Vào khoảng 1920 – 1921, Nam-Sơn hăng hái gánh vác việc trang trí cho Hội-quán Sinh-viên An-nam (Foyer des Étudiants annamites) tại số 9 đường Vọng-Đức, được thành lập với muôn vàn khó khăn bởi Paul Monet [12]Đại-úy Lục-binh thuộc địa, tác giả quyển “Les Jauniers, histoire vrais“, xuất bản năm 1930. Thời đó, chính quyền thuộc địa chỉ chấp nhận những sinh hoạt có tính cách chính trị hay tôn giáo, từ chối cấp kinh phí cho những hoạt động văn hóa xã hội nên việc thành lập Hội-quán Sinh-viên An-nam đã gặp rất nhiều cản trở. Cuối cùng Paul Monet đã xin được kinh phí từ Hoa-Kỳ !

Tác giả Nguyên Hương – Nguyễn Cúc, trong bài viết “Họa sư Nguyễn Khoa Toàn“, (Định Hướng số 51, Mùa Xuân 2008, tr. 56, đã ghi nhầm là Jean Mounet. (Xem bên dưới)
. Xúc động trước bầu nhiệt huyết và tài năng của chàng trai đất Việt, Paul Monet đã nhờ vị Chủ-tịch Danh-dự của Hội-quán là Louis Marty [13]Trưởng phòng chính trị tại phủ Toàn quyền Pháp (Directeur des Affaires Politiques au Gouvernement Général), còn là người đồng sáng lập Nam-Phong tạp chí cùng với Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá-Trác. (Xem bên dưới), giám đốc Chính-trị-vụ Phủ Toàn-quyền Đông-dương, giới thiệu Nam-Sơn với Victor Tardieu.

Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Nam-Sơn, Victor Tardieu tỏ vẻ ngần ngại vì ông thường tuyên bố rằng “trong thế giới nghệ thuật có rất nhiều người được triệu đến song rất ít người được chọn[14]Dựa theo một câu trong Thánh-kinh “il y a beaucoup d’appelés et peu d’élus” (Phúc-Âm, Mathieu 22:14). (Xem bên dưới), nhưng sau khi xem những tranh vẽ của Nam-Sơn, ông đã quyết định chấp nhận hướng dẫn chàng trai trẻ đầy đam mê ấy vào con đường nghệ thuật. Cuộc hạnh ngộ bất ngờ và kỳ diệu đó đã đưa hội họa việt-nam, vốn dĩ có nhiều ảnh hưởng trung-hoa, vào một bước ngoặc lịch sử và lập ra một nền móng nghệ thuật việt-nam hoàn toàn mới lạ mà sau này tiếng vang đã ngân lên khắp hoàn cầu.

Những ngày tháng đầu, Victor Tardieu chỉ hướng dẫn Nam-Sơn trong vòng một giờ vào mỗi chiều chủ nhật hàng tuần. Lần đầu tiên trong đời, Nam-Sơn đã ngỡ ngàng tiếp xúc với hội họa tây phương, cách nhìn xa gần với những phối cảnh, ánh sáng, hình khối, vẽ bóng, đo đạc, màu sắc…

Những khái luận mới mẽ này đã mở ra trước mắt Nam-Sơn một chân trời xa lạ nhưng tràn đầy say mê và lý thú, nét đẹp thiên nhiên trước kia bỗng nhiên trở thành một khung cảnh tràn đầy sắc thái vô cùng vô tận.

Từ trước đến nay, Nam-Sơn chỉ nghiên cứu và học hỏi nghệ thuật trung-hoa hay nhật-bản. Người Trung-hoa vẽ tranh theo phương pháp hoàn toàn khác với nghệ thuật tây phương, được mệnh danh là :

“Thấu thị tẩu mã”, 透 視 走 馬, là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên mình ngựa đang chạy, hình ảnh trong tranh được thể hiện theo lối chạy dài, di chuyển theo hàng ngang, cảnh này bên cạnh cảnh kia, trải ra một không gian mênh mông không bờ bến, chứ không phải gần vẽ to, xa vẽ nhỏ như lối nhìn không gian khách quan theo luật viễn cận của nghệ thuật Tây phương. Người Nhật gọi là “Makimono” (rouleau horizontal), người Pháp gọi là “perspective cavalière”.

“Thấu thị phi điểu”, 透 視 飛 鳥, là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên lưng một con vật đang bay nhìn xuống, hình ảnh trong tranh từ gần đến xa đều bằng nhau và như chồng lên nhau theo hàng dọc, cảnh này đặt lên trên cảnh kia, sắp xếp thành tầng tầng lớp lớp, đường chân trời được tượng trưng rất cao để diễn tả một cái nhìn sâu thẳm, bức tranh trở nên hẹp. Tiêu biểu cho lối cấu trúc này là thể loại tranh đứng, miêu tả sự hùng vĩ của thiên nhiên. Người Nhật gọi là “Kakémono” (tableau à suspendre), người Pháp gọi là “perspective atmosphérique” hay “perspective aérienne” (?).

Ngày 6 tháng 6 năm 1921, Toàn-quyền Maurice Long (1912-1923) ký một hợp đồng với Victor Tardieu về việc trang trí trường Đại-học Đông-dương, với một diện tích gần 270m2 trong nhiều gian gồm giảng đường, tiền sảnh, mái vòm, ô tường, phòng hội đồng, phòng đọc sách… [15]Hồ sơ lưu số 372, hộp số 42, Trung-tâm Lưu-trữ Quốc-gia I Hà-nội. Công trình này của Victor Tardieu được hoàn tất vào những năm 1925-1927. Những bích họa nói trên đã hoàn toàn bị bôi xóa vì con người và chiến tranh. Sau này, vào ngày 15/3/2006, một phần của bích họa đã được phục dựng bởi họa sĩ Hoàng Hưng cùng một nhóm họa sĩ. Victor Tardieu dùng 6 năm để hoàn thành bích họa, nhóm họa sĩ Hoàng Hưng chỉ có 3 đến 4 tháng để phục dựng, về chính xác và giá trị nghệ thuật, xin nhường sự đánh giá cho các nhà chuyên môn !!! (Xem bên dưới). Làm sao có thể lý giải một cách chính xác lý do nào đã khiến Victor Tardieu bất chấp muôn vàn khó khăn để thực hiện một tác phẩm lớn nhất trong đời tại một xứ Đông-dương thuộc địa xa xôi ? Trong bức thư gửi con trai Jean Tardieu đề ngày 25 tháng 7 năm 1921, ông đã viết
“...và sau đó càng vẽ ra phác thảo, cha càng ý thức được về khối lượng công việc khổng lồ, không chỉ vì bức tranh vẽ theo yêu cầu mà có lẽ là để làm tốt việc này thì cần phải vẽ ngay tại đây với những người mẫu trước mắt…”.

Ông quyết định thực hiện bích họa tại Hà-nội và hợp đồng này đã kéo dài thời gian của Victor Tardieu ở tại Đông-dương. Để thực hiện công trình của mình, ông bắt đầu tìm người ngồi mẫu và ngay lập tức ông bối rối nhận ra rằng tại một đất nước mà nghệ thuật chỉ sản sinh ra từ sự tưởng tượng, không cần đến người mẫu bao giờ! Trước trở ngại lớn lao ấy, Nam-Sơn đã tình nguyện ngồi làm mẫu cho người mà ông đã xem như thầy của mình. Và Victor Tardieu, từ ngày ấy, cũng mở rộng cánh cửa cho người mà ông đã xem như một môn đồ, hơn thế nữa, như một người con tinh thần. Vào những ngày nghỉ, đơn sơ trong y phục nông dân hoặc trang nghiêm trong những triều phục rực rỡ, Nam-Sơn đã làm mẫu nhiều giờ và khám phá ra những chân dung sơn dầu từ từ hình thành trên vải, như những nhân vật xuất hiện từ một cõi nào thật xa lạ. Qua sự chân thành khát khao học hỏi của Nam-Sơn, Victor Tardieu đã dành riêng một góc trong xưởng họa để chỉ dẫn phương pháp sơn dầu [16]Vào thời ấy, tranh sơn dầu rất xa lạ với người Việt chúng ta vì sơn dầu chỉ chủ yếu dùng trong việc sản xuất đồ sơn như tủ, hộp, tráp, bao gươm, tượng, hoành phi, câu đối, bình phong…
(Xem bên dưới)
, cách pha mầu, cách vẽ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật…, theo trường phái ấn tượng.

Tại Hà-nội vào đầu thế kỷ XX, những cuộc đấu xảo được chính quyền bảo hộ tổ chức là những sự kiện làm nổi bật đời sống văn hóa và nghệ thuật, đáng chú ý nhất là các cuộc đấu xảo năm 1902, 1913, diễn ra tại đại lộ Gambetta (hiện nay là Trần Hưng-Đạo). Nhưng vào năm 1923, từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12, một cuộc đấu xảo không do chính quyền bảo hộ mà do hội Khai-trí Tiến-đức [17]Hội Khai-trí Tiến-đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) được thành lập ngày 2 tháng 5 năm 1919 với chủ tịch là Tổng đốc Hoàng Trọng-Phu, phó chủ tịch Bùi Đình-Tá, tổng thư ký Phạm Quỳnh. (Xem bên dưới) tổ chức tại trụ sở của hội gần hồ Hoàn-Kiếm, đã kêu gọi và quy tụ nhiều tài năng mới.

Lần đầu tiên trong cuộc đời nghệ sĩ, Nam-Sơn tham gia vào một cuộc triển lãm, cùng với những nhà mỹ nghệ thời bấy giờ như họa sĩ Thăng Trần Phềnh, mộc gia Phúc-Mỹ Trần Diễn-Giệm, điêu khắc gia Nguyễn Đức-Thục, họa sĩ Ngô Đặng-Đĩnh… Với những tấm tranh như “Mục đồng” (màu nước), và nhất là những tranh sơn dầu “Nhà nho xứ Bắc” (40x50cm), “Tĩnh vật” (40x50cm) của Nam-Sơn đã làm ông trở thành một trong những người vẽ tranh sơn dầu đầu tiên của nước Việt-nam [18]Trước Nam-Sơn, chúng ta có thể nhận ra rằng những tranh sơn dầu đầu tiên xuất hiện tại Đông-dương là tác phẩm của một họa sĩ người Huế, Lê Huy-Miến (1873 1943), sinh tại Nghệ-an. Ông được triều đình An-nam và chính quyền bảo hộ gửi sang Paris năm 1892 để theo học trường Thuộc-địa. Ông vào trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa Jean-Léon Gérôme, họa sĩ có khuynh hướng đông phương (orientalisme, xuất hiện trong bước đi của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XIX). Đó là những tấm tranh “Chân dung cụ Tú mền” (49x60cm, 1896), “Bình văn” (68x97cm, 1898). (Xem bên dưới).

Qua bài báo “Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai- trí”, đăng trên tạp chí Nam-Phong số 78, tháng 12 năm 1923, (trang 501-502) Thượng-Chi (bút hiệu của Phạm Quỳnh) đã phê bình “Nhà nho xứ Bắc” và “Tĩnh vật” như sau:
Ông Nguyễn văn Thọ, hiệu Nam-Sơn, cũng là tay vẽ sơn dầu giỏi. Nhưng lối vẽ của ông “khí Tây” quá. Bức vẽ ông nhà nho, xem đã có vẻ linh hoạt lắm ; còn bức vẽ cái liễn, con dao và mấy quả tráng miệng thời dẫu tả thực hệt thật nhưng quyết không hợp với con mắt người Nam ta, (…) tưởng dẫu người hí tân hiếu kì nữa cũng cũng ít ai mua bức tranh vẽ bộ thìa dĩa tây và mấy cái quả tráng miệng về treo nhà !
Chúng ta hiện nay với những bước đi hiện đại có vận tốc siêu hình, nếu được dịp thưởng ngoạn tấm tranh “Tĩnh vật” của Nam-Sơn, khó ai có thể tin rằng ông đã đi trước thời gian để hình thành tác phẩm này, nhất là trong thời điểm ấy !

Riêng về tấm “Nhà nho xứ Bắc”, trên nền màu nâu sẫm nổi bật gương mặt quắc thước của một nhà nho yêu nước dã tham gia phong trào Đông-Kinh Nghĩa-thục. Đó là chân dung cụ Sỹ-Đức (vừa là cậu đồng thời là thầy của Nam-Sơn), với cái nhìn rắn rỏi nhưng đượm buồn, trên đầu chít khăn trắng để tang cho nước mất nhà tan.

Tên của Nam-Sơn đã xuất hiện trong danh sách những người đoạt giải “Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai- trí”, là một khích lệ làm tăng thêm niềm say mê cùng nỗi khát khao của ông trên con đường nghệ thuật.

Niềm say mê và nỗi khát khao ấy, như thúc đẩy bởi một bàn tay vô hình, đã hình thành trong Nam-Sơn một ý tưởng “ngông cuồng”, ông muốn mọi người dân trong đất nước ông cùng được chung hưởng và học hỏi điều khám phá mới lạ này. Ý định mở ra một trường Mỹ thuật cứ lớn dần trong tâm tưởng, nhưng trước những khó khăn của một con người sống tại một đất nước nhược tiểu, biết phải làm sao ?! Ông đã lặng nghĩ trong bao tháng ngày. Sau nhiều đắn đo, ông trình bày nguyện vọng sôi nổi cuồng nhiệt ấy với Victor Tardieu, bởi ông biết rằng sau khi hoàn thành công trình của mình, Victor Tardieu sẽ trở về Pháp và có thể vĩnh viễn không bao giờ quay lại nơi đây. Nhưng lý do lớn nhất dằn vặt trong tâm hồn là ông biết mình chỉ là một người dân An-nam tầm thường, thấp cổ bé miệng, chỉ có thể trông cậy vào một người Pháp, vừa đoạt Giải thưởng Đông-dương, lại được phủ Toàn-quyền tin tưởng, và điều đáng lưu tâm nhất là người ấy không phải là người của chính quyền thực đân Pháp, lại có một tấm lòng rộng mở, không nhìn quê hương ông như một đất nước nô lệ bị đô hộ.

Chinh phục bởi nguyện vọng của Nam-Sơn, trong một bản phúc trình dưới cái tên “Nghệ thuật An-nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (L’Art annamite dans le passé, le présent et le futur), Victor Tardieu đã đề cập đến vấn đề mở ra một trường Mỹ-thuật tại Đông-dương.

Bản phúc trình này được chuẩn y bởi Toàn-quyền Martial-Henri Merlin. Ngày 27 tháng 10 năm 1924, xuất hiện trong Công báo (Journal Officiel) nghị định thành lập một ngôi trường dưới tên trường Mỹ-thuật Đông-dương. Ngôi trường này sẽ được dựng lên tại số 102 đường Reinach, gần trường Viễn-đông Bác-cổ, trực hệ Giáo-đoàn Pháp (l’Université de France) tại Hà-nội, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của nha Học-chính, với Victor Tardieu là Hiệu trưởng.

Được bổ nhiệm tham dụ trong “công sự Victor Tardieu”, Nam-Sơn có trách nhiệm giúp đỡ Victor Tardieu trong việc mua dụng cụ cần thiết và tìm giáo sư cho trường Mỹ-thuật Đông-dương. Đầu năm 1925, ông xuống tàu Claude-Chappe tại Hải-phòng để đến Sài-gòn lúc 14 giờ 30 ngày 5 tháng 3. Vào 12 giờ ngày 8 tháng 3, ông có mặt trên tàu Porthos khởi hành đi Marseille. Tại Paris, ông được Victor Tardieu đón về cư ngụ ở tư gia (số 3 đường Chaptal thuộc quận 9).



Nghị định thành lập trường Mỹ-thuật Đông-dương



Với một chương trình học thật nặng nề nhưng không kém phần lý thú, buổi sáng Nam-Sơn theo học tại trường Mỹ-thuật Quốc-gia trong xưởng họa của Jean-Pierre Laurens (1875-1933, môn đồ của Ingres), buổi chiều tại trường Nghệ-thuật Trang-trí Quốc-gia trong xưởng họa của Félix Aubert (1866-1940), buổi tối ông học nắn hình dước sự hướng dẫn của các giáo sư Séguin và Maire. Chỉ còn lại ngày chủ nhật, ông dành thì giờ học hỏi thêm qua các tài liệu trong thư phòng của Victor Tardieu và khám phá Paris qua những cuộc thăm viếng các Bảo tàng viện và danh lam thắng cảnh.

Vào tháng 9, vì bị bệnh nên Victor Tardieu bắt buộc hoãn ngày trở lại Việt-nam, Nam-Sơn phải trở về Hà-nội để kịp buổi khai trường. Cùng đi với ông là một giáo sư tương lai sẽ phụ trách chuyên ngành sơn dầu, Joseph Inguimberty (1896-1971). Ngày 1 tháng 10 năm 1925 đánh dấu buổi khai trường Mỹ thuật Đông-dương. Trong muôn ngàn khó khăn, Nam-Sơn và Inguimberty đã đơn phương chuẩn bị cho kịp buổi tuyển sinh được tổ chức cùng một lúc tại Hà-nội, Huế, Sài-gòn, Phnom Pênh và Vientiane, với sự tham dự của 270 thí sinh.

Khi Victor Tardieu trở lại Đông-dương, tiếng trống trường đã điểm để mở đầu một chương trình học ba năm, với mười thí sinh trúng tuyển và khoảng hai mươi thí sinh dự bị. Trong khi chờ đợi xây cất (hoàn tất năm 1931), trường tạm dựng lên tại số 124 phố Hàng Lọng (route Mandarine).

Vì không có quy chế định biên dành cho người An nam, chức vụ của Nam-Sơn được ghi là Trợ lý (moniteur). Thật ra, vai trò của ông trong buổi đầu tiên này thật là đa hình đa dạng, luôn luôn ông phải hỗ trợ cho Victor Tardieu vì ông này quá bận rộn trong chức vụ Hiệu trưởng, đã lớn tuổi, lại là người Pháp. Cùng một lúc, Nam-Sơn vừa là thư ký, quản lý, giám học…, lại vừa phụ giảng cho Victor Tardieu hay Inguimberty. Chúng ta nên nhớ rằng trong thời thuộc địa, khó ai có thể hình dung ra một người An-nam được giữ chức giáo sư trong một ngôi trường Tây. Trong bài báo dưới tựa đề “L’École des Beaux Arts d’Hanoi”, đăng trên “Illustration tạp chí”, số 4522, ngày 2 tháng 11 năm 1929 (trang 513), đã khẳng định:
Các công việc và phận sự của những giáo sư trường Mỹ-thuật Hà-nội đã trở nên dễ dàng hơn qua sự giúp đỡ trung gian của một trợ lý người An-nam, ông Nguyễn Nam-Sơn. (…) Tấm gương của ông đã chứng minh những gì chúng ta có thể chờ đợi nơi các học sinh của ngôi trường này.
Rất nhiều nhà chuyên môn và nhà phê bình mỹ thuật Âu cũng như Á không biết rằng Nam-Sơn không bao giờ tốt nghiệp trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương, điều dễ hiểu là ông chưa từng bao giờ là học trò của trường, và khi trường mở cửa, ông là người đã dạn dày nhiều công lao. Ngày 24 tháng 10 năm 1927, một nghị định do nha Học Chính ban xuống đề cử Nam-Sơn lên làm giáo sư phụ trách lớp dự bị và chuyên ngành trang trí. Ông là người Việt-nam đầu tiên chính thức có chức vụ giáo sư trong ngôi trường này.


IV. Trường hợp Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ


Trong quá trình thu thập các tài liệu về Nam-Sơn, chúng tôi không tìm ra được bản văn chính thức nào xác nhận vai trò đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương của Nam-Sơn. Thật sự mà nói, cũng KHÔNG có một tài liệu chính thức nào xác nhận Victor Tardieu là “người sáng lập” trường.

Một tài liệu khi được gọi là chính thức, xem như một nghị-định, nghĩa là có ghi ký hiệu, ngày tháng, được chính quyền đóng mộc, ký tên, đăng trên Công-báo và lưu giữ.

Nghị định thành lập trường, do Toàn-quyền Martial-Henri Merlin ký ngày 27 tháng 10 năm 1924 nói ở phần trên chỉ xác nhận Victor Tardieu là “hiệu trưởng” (directeur), chứ hoàn toàn không nói ông là “người sáng lập” (fondateur) !!! Xin lưu ý rằng ngôn ngữ Pháp rất rõ ràng, minh xác và mạch lạc, chính vì vậy, phần lớn các “Hiệp-định quốc tế” đều chọn Pháp ngữ để trình bày nội dung, hòng tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Dĩ nhiên, “hiệu trưởng” chưa hẳn là “người sáng lập”.



Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ qua nét vẽ của Ngô Kim-Khôi, sơn dầu trên lụa, 1998, 50x65cm.



Tuy nhiên, từ trước đến nay, các nhà chuyên môn về hội họa, từ Âu sang Á, khi nói đến Victor Tardieu đều mặc nhiên công nhận ông là người sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương.

Từ lâu, chúng tôi có một bản văn có thể gọi là “bán chính thức”, nói lên vai trò sáng lập (fondateur) của Victor Tardieu và đồng sáng lập (co-fondateur) của Nam-Sơn đối với trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương, đó là quyển “Các trường Mỹ-thuật Đông-dương” (Les écoles d’art de l’Indochine), do Toàn-quyền Đông-Pháp xuất bản vào dịp Triển-lãm Quốc-tế Nghệ-thuật và Kỹ-thuật tại Paris 1937 [19]Exposition Internationale des Arts et Techniques Paris 1937, Section Coloniale, Indochine Français, Gouvernement Général de l’Indochine, “Les Écoles d’Art de l’Indochine“, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1937. (Xem bên dưới).

“Bán chính thức” vì quyển sách nói trên không phải là một nghị định, không đóng mộc, ký tên, nhưng được Toàn-quyền Đông-Dương kiểm tra và xuất bản, có ghi mạch lạc rõ ràng nguyên nhân và năm tháng.

Quyển sách này lưu trong Thư-viện quốc-gia Pháp (Thư viện François Mitterrand) [20]Thư-viện quốc-gia Pháp khởi nguyên thuộc hoàng gia (triều vua Charles V, 1338-1380), đặt tại cung điện Louvre. Sau đó thư-viện dời về Blois thuộc vùng Fontainebleau, đến 1568 lại trở về Paris. Dưới triều Louis XIV, thư-viện được khai triển và mở cửa cho quần chúng. Sau nhiều lần dời chỗ đổi tên theo thăng trầm lịch sử Pháp, vào năm 1720, thư-viện cố định tại đường Richelieu (ngày nay gọi là “site Richelieu“). Năm 1988, Tổng-thống François Mitterrand (1916-1996) ra nghị định xây một thư-viện mới rộng lớn và hiện đại hơn, thuộc quận 13, (ngày nay gọi là “site Tolbiac” hay “site François Mitterrand“). Ngày 20/12/1996, thư-viện quốc-gia Pháp khánh thành và chính thức mở cửa cho dân chúng, trong khi “site Richelieu” chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Thư-viện quốc-gia Pháp là một thư viện quan trọng có tầm vóc quốc tế. (Xem bên dưới) dưới ký hiệu “QUARTO V 11476”, và lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia Hà-Nội dưới ký hiệu “M.10692”.

“Các trường Mỹ-thuật Đông-dương” gồm 41 trang, trình bày lịch sử hình thành và cấu trúc của 5 trường Mỹ-thuật tại Đông-dương (Hà-Nội, Phnom-Penh, Biên-Hòa, Gia-Định, Thủ-Dầu-Một). Riêng về trường Hà-Nội, sách còn đề cập đến vai trò của ban chấp hành cũng như nhiệm vụ của các giáo sư.

Tại trang 10, chúng ta đọc được
“…trường Mỹ-thuật Đông-dương hay trường Mỹ-thuật Hà-Nội được sáng lập bởi họa sĩ Victor Tardieu, trong thời kỳ ông Merlin là Toàn-quyền Đông-dương (nghị định ngày 27 tháng 10 năm 1924), ông Victor Tardieu hiện nay là Hiệu trưởng” (…l’Écoles des Beaux-Arts de l’Indochine ou École de Hanoi a été fondée par le peintre Victor Tardieu, – son directeur actuel, M. Merlin étant Gouverneur général de l’Indochine (arrêté du 27 octobre 1924))

Tại trang 16, chúng ta đọc được
“…Việc giảng dạy môn Đồ-họa và Trang-trí được phụ trách bởi một giáo sư chuyên ngành bậc 2, ông Nam-Sơn, là một trong hai người sáng lập trường Mỹ-thuật Đông-dương. Ông đã đạt được những thành quả lỗi lạc trong việc giáo dục đào tạo và đóng góp một phần rộng lớn trong việc phục hưng nền Mỹ-thuật truyền thống An-nam, cũng là học thuyết và hiến chương của toàn Trường ” (…L’enseignement du Dessin et des Arts Décoratifs est assuré par un professeur technique de 2è classe, M. Nam-Son, qui est un des deux fondateurs de l’École. Il a obtenu des résultats remarquables dans son enseignement et contribué pour une large part à la renaissance de l’Art Annamite traditionnel, qui est la doctrine, la charte de l’École tout entière.)

Ngoài tài liệu gọi là “bán chính thức” nói trên, chúng ta còn có rất nhiều những chứng nhân hay những tư liệu thuộc về “tinh thần”, tuy không chính thức nhưng phần giá trị và tầm mức quan trọng đôi khi còn hơn tài liệu chính thức. Hai gia đình Victor Tardieu và Nam-Sơn còn giữ rất nhiều những tư liệu, thư từ, và hiện nay, mối liên lạc giữa hai gia đình vẫn còn tiếp nối.

Trong một bức thư của Jean Tardieu, con trai Victor Tardieu, gửi cho Nguyễn thị Nguyệt-Minh, con gái của Nam-Sơn, viết ngày 23/04/1992, chúng ta đọc được :

“Biết bao nhiêu kỷ niệm trỗi dậy một cách bàng hoàng trong tâm tưởng khi ký ức của chúng ta hiện ra hình ảnh cha của bà và cha của tôi, đồng hợp tác với nhau, trong thời gian mà hội họa và văn hóa (việt-nam) là mối bận tâm trường kỳ dai dẵng của họ, và cũng là niềm vui của hai gia đình…” (Que de souvenirs bouleversants se lèvent dans notre pensée quand notre mémoire nous montre l’image de votre père et celle de mon père, associés, au temps où la peinture et la culture étaient leur constante préoccupation et pour la joie de leurs familles…)

Vai trò đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương của Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ xem ra đã rõ ràng. Những sự kiện lịch sử, dù muốn hay không, vẫn là những sự kiện không thể chối cãi. Là con dân đất Việt, chúng ta nên tự hào đã có một người Việt góp công lao vào việc xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà. Nên nhớ rằng dưới chế độ thực dân Pháp, việc đóng góp quan trọng của người An-Nam trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới không phải là điều dễ dàng được công nhận một cách chính thức. Họa sĩ Lương Xuân-Nhị đã từng viết thư cho chúng tôi
“…ta hiểu rằng dưới chế độ thuộc địa của thực dân, người Việt-Nam chúng ta chẳng có quyền hành gì !” [21]Thư Lương Xuân-Nhị viết ngày 23/11/1999.
(Xem bên dưới)

Nguyễn Trường Tộ trong “Tế cấp bát điều” (濟 急 八 條 , “Tám điều cứu vớt”), viết năm 1867 [22]Bản dịch của Trần Lê Hữu trong “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỉ XIX“, Đặng Huy Vận & Chương Thâu, nxb Giáo dục 1961. (Xem bên dưới), đã nhấn mạnh:
[…] Nước ta trên cũng có trời che, dưới cũng có đất chở […]. Nước ta cũng có tổ tiên mà sự tích còn lưu truyền lại […], cũng có việc đáng nêu lên, sao không truyền tụng những gương tốt đó cho người ta phấn khởi bắt chước […] ?

V. Kết luận


Qua khuôn khổ và giới hạn của một bài báo, chúng tôi không thể đi sâu hơn vào chi tiết. Chỉ xin được tóm lược rằng cuộc hành trình về phương đông của Victor Tardieu những tưởng chỉ trong vòng một năm theo học bổng của Giải-thưởng Đông-dương, ông đã ở lại đến cuối cuộc đời và sáng lập ra một nền móng nghệ thuật việt-nam hoàn toàn mới lạ. Trong suốt thời gian làm Hiệu trưởng, ông đã không ngừng nâng cao trình độ của sinh viên bằng cách dung hòa hai nền mỹ thuật Đông-Tây. Trường Mỹ-thuật Đông-dương đã bao lần bị áp lực của chính quyền thuộc địa hăm dọa đóng cửa, ông đã nhờ đến sự hỗ trợ và thế lực của nghị trưởng Phạm Huy-Lục [23]Con cháu cụ Phạm Huy-Lục tại Paris vẫn còn gìn giữ hai bức tranh lụa của sinh viên Lưu Đình-Khải, quà biếu của Victor Tardieu về sự can thiệp trên. (Xem bên dưới) để ngôi trường thân yêu ấy còn tồn tại. Sau một cơn bệnh viêm phế quản, Victor Tardieu từ trần tại Hà-nội ngày 12 tháng 6 năm 1937.

Về phần Nam-Sơn, không ngừng nổ lực tìm tòi, học hỏi, những tác phẩm phối hợp hài hòa hai phương pháp Đông-Tây của ông đã vang tiếng trong nhiều cuộc triển lãm vào các thập niên 30, 40 tại Pháp, Ý, Đức, Bỉ, Hoa-kỳ, Nhật-bản… Ông đã biết đến niềm vinh quang qua Huy chương Bạc tại Triển lãm Hội các Nghệ sĩ Pháp (Salon des Artistes Français) năm 1932 với tác phẩm sơn dầu “Chân dung mẹ tôi” (Gia từ cận tượng, 家 慈 近 像, Portrait de ma mère), Giải thưởng Mỹ thuật Rome năm 1932 với tranh khắc gỗ “Cò trắng cá vàng”… Một điều đáng lưu ý là tấm tranh mực nho “Chợ gạo bên hữu ngạn sông Hồng” (Hồng hà hữu ngạn mãi mại mễ xứ, 紅 河 右 岸 買 賣 米 處, Sur la rive droite du Fleuve Rouge où se vend et s’achète le riz) của Nam-Sơn là tấm tranh việt-nam đầu tiên đã được chính phủ Pháp quốc mua vào năm 1930. Ngoài ra, trong vai trò tiên phong, Nam-Sơn là người đã hình thành tấm tranh phấn tiên (pastel) “Chân dung cụ Sùng Ấm-Tường” vào năm 1927, và đi trước Nguyễn Phan-Chánh, tấm tranh lụa “Về chợ” của ông được hoàn thành vào năm 1927-1928. Đó là tấm tranh phấn tiên và tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam [24]Những tấm tranh lụa “Chơi ô ăn quan” và “Lên đồng” của Nguyễn Phan-Chánh, được vẽ vào năm 1931, đến nay vẫn được coi là những tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam. Điểm sai lầm này do ở các nhà chuyên môn không tìm hiểu cặn kẽ và không có đủ tài liệu chính xác ! (Xem bên dưới). Vào ngày 9/3/1945, sau cuộc đảo chánh Nhật, các giáo sư người Pháp của trường Mỹ-thuật đã bị bắt hoặc trở về Pháp. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất, trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương được điều khiển và hướng dẫn bởi một người Việt-nam, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ trở thành Quyền-Hiệu-trưởng. Cuối năm 1945, dưới thời Việt-Minh, khi trường Mỹ-thuật Đông-dương đóng cửa [25]Để sau đó mở cửa tại chiến khu Việt bắc dưới tên “Trường trung học Mỹ-thuật”, do họa sĩ Tô Ngọc-Vân làm hiệu trưởng.
(Xem bên dưới)
, vì đã làm việc với chính quyền Pháp nên tên tuổi của Nam-Sơn bị chìm vào lãng quên. Hiện nay, người ta chỉ nhắc đến Victor Tardieu như người duy nhất sáng lập ra trường Mỹ-thuật Đông-dương, không biết do vô tình hay cố ý, đã quên đi người đồng sáng lập là Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ. Lớp bụi thời gian đã phủ lên cuộc đời ông, dày đặc đến nỗi các nhà chuyên môn sau này hiếm có người được thưởng lãm các danh tác vang bóng một thời của ông. Cuối năm 1972, Bắc-Việt lầm than trong biển lửa ngút ngàn dưới hơn 36.000 tấn bom, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ ngã bệnh, từ trần trong khó khăn và quên lãng tại Hà-nội ngày 26 tháng 1 năm 1973. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, chỉ có một phân ưu, rất khiêm tốn, đăng trên một tờ báo. Thử hỏi khi ông qua đời, có mấy người còn nhớ tới ông?

Trên đây là một câu chuyện về hai cuộc đời. Câu chuyện này thuộc về văn hóa của nước Việt-nam, xin kể ra để mong trả lại lịch sử những gì thuộc về lịch sử, góp một phần tài liệu cho các nhà chuyên môn. Hơn nữa, chúng tôi còn nhận ra rằng đây là một bổn phận, vì nếu không sẽ có tội với đất nước tổ tiên, và kẻo lại một lần nữa bị Hàn-Dũ (韓 愈, Bá tước Xương-Lê, 768-824), chính trị gia đời Đường, vừa là thi nhân và nho gia danh tiếng, từ thế kỷ thứ VIII đã phê bình và khẳng định rằng:

“Việt tục bất hiếu cổ, lưu truyền thất kỳ chân”.
( 鉞 俗 不 好 古, 流 傳 失 其 眞 )

Xin tạm dịch là
Người đất nước Việt không biết ưa chuộng quá khứ nên khó có thể tìm thấy được một lịch sử trung thực.



Ngô Kim-Khôi
(Thành phố hoa Xoan, 2.2000, cập nhật 5.2008)

——–

Thư mục và tài liệu tham khảo:


  1. – Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai trí, Thượng-Chi (Phạm Quỳnh), Nam-Phong tạp chí, số 78, 12/1923, trang 501-502.

  2. – La peinture chinoise. Technique et symbolisme. Manière spéciale des Chinois d’interpréter la Nature, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ, Nam-Phong tạp chí, số 144, 11/1929, phụ trang tiếng Pháp, trang 33-42.

  3. – La peinture chinoise, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ, Đông-kinh ấn quán, nhà xuất bản Lê văn Phúc, Hà-nội 1930.

  4. – L’École des Beaux Arts d’Hanoi, khuyết danh, Illustration tạp chí, số 4522, 2/11/1929, trang 513.

  5. – L’École des Beaux Arts d’Hanoi, Jean Gallotti, Illustration tạp chí, số 4608, 27/06/1931.

  6. – L’Indochine : Un lieu d’Échange Culturel ? Les peintres français et indochinois, Nadine André Pallois, École Français d’Extrême Orient, Paris 1997.

  7. – Les Écoles d’Art de l’Indochine, nha Học-chính, Toàn-quyền Đông-dương, Hà-nội 1937.

  8. – Rénovation de l’art vietnamien, A. N. Beun, Đông-Tây tạp chí (Orient-Occident), số 5, 11/1952, trang 74-88.

  9. – Souverains et Notabilités d’Indochine, Toàn-quyền Đông-dương, I.D.E.O., Hà-nội 1943.

  10. – Tạp chí Extrême Asie, số 12, tháng 6/1927, trang 495.

  11. – Théâtre du Garde Chasse, Tòa Thị chính Thị xã Les Lilas, 1994.

  12. – Tìm hiểu tạp chí Nam-Phong (Introduction au Nam-Phong), Phạm thị Ngoạn, Bulletin de la Société des Études Indochinoises, số 2 3, 2e và 3e tam cá nguyệt, Sài-gòn 1973.

  13. – Trois écoles d’Art de l’Indochine, nha Học-chính, Toàn-quyền Đông-dương, Hà-nội 1931.


  1. [1] Tấm vitrail này đã bị chiến tranh tiêu hủy vào năm 1940, nhưng những bản mẫu (études) hiện nay vẫn còn lưu giữ tại viện Bảo tàng Dunkerque.

  2. [2] Hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Rennes.

  3. [3] Là con gái nhà soạn nhạc nổi tiếng Alexandre Clément Luigini (sinh tại Lyon năm 1850), bà đã đoạt giải nhất tại Nhạc viện Lyon qua tiếng đàn Hạc-cầm (harpe). Bà còn có người em trai là họa sĩ Ferdinand Luigini. Trong gia đình, bà được gọi một cách thân ái là “Caline” (dịu dàng).

  4. [4] Tất cả những sơn dầu kể trên hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Lyon.

  5. [5] Vào đầu thế kỷ 20 chưa có l’Ile de France.

  6. [6] Phòng Lễ Hội của Hội-đồng Thị-xã Les Lilas được xây cất vào đầu thế kỷ thứ XIX (1903 1907) dưới bản vẽ của kiến trúc sư Bévière. Năm 1994, phòng Lễ Hội đã được hoàn toàn chỉnh trang và trở thành Kịch viện Garde Chasse, đồng thời cũng là môt phòng chiếu bóng. Khi có dịp, chúng tôi sẽ viết một cách rõ ràng hơn về tấm bích họa này của Victor Tardieu, nhưng quý bạn độc giả nếu có điều kiện đến Lilas (Métro Mairie des Lilas) cũng nên dừng bước ghé thăm.

  7. [7] Nghị định lập Giải thưỏng Đông-dương do Toàn quyền Antony Wladislas Klobukowski ký năm 1910, do “Hội Thuộc-địa Nghệ-sĩ Pháp” (Société Coloniale des Artistes français) đề xướng với ý định phát khởi nghệ thuật phương Tây tại Đông-dương. Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinant Olivier (1873-1956) và cuối cùng là Louis Bâte (1898-1948).

  8. [8] Nguyễn Duy Thời (Thì) đỗ Hoàng giáp triều Lê Thế Tông, từng đi sứ sang nhà Minh, làm quan đến chức Hộ Bộ Thượng thư kiêm Chưởng lục bộ sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công (grand Duc), khi mất được truy phong Thái tể. Tác phẩm hiện còn trong Toàn Việt thi lục.

    Con trai ông, Nguyễn Duy Hiểu, đỗ Hoàng giáp triều Lê Thần Tông, làm quan đến chức Thiêm đô ngự sử, từng đi sứ sang nhà Minh, mất trên đường đi và được truy phong Hình bộ tả Thị lang, tước Hầu (Marquis).

  9. [9] Những công lao khó nhọc và tấm lòng hy sinh vô bờ bến như nước trong nguồn chảy ra ấy của cụ Nguyễn thị Lân sau này thấu đến triều đình, vào năm 1927, cụ được vua Bảo Đại ngự ban một Kim khánh khắc bốn chữ ” 節 行 可 封 ” (Tiết hạnh khả phong). Vào đầu thập niên 40, một bức tượng bán thân của cụ đã được hình thành bởi điêu khắc gia Vũ văn Thu (nhạc phụ của họa sĩ Tạ-Tỵ), bức tượng này hiện để trên bàn thờ gia tiên của gia đình Nam-Sơn tại đường Nguyễn Du, Hà-nội.

  10. [10] 芥 子 園 畫 傳, Le jardin aussi gros qu’une graine de moutarde, là một bộ cẩm nang bách khoa về hội họa cổ điển trung hoa, của họa sĩ đồng thời là một văn sĩ danh tiếng đời Khanh-Hy : Lý Ngư (1611 1679). Sở dĩ sách có tên như vậy là vì đã được khởi thảo sau một cuộc luận đàm về hội họa giữa Lý Ngư và Trần Tâm-Hữu trong khu vườn Giới-Tử của Trần Tâm-Hữu ở Nam Kinh. Nhờ có sự cộng tác của Trần Tâm-Hữu và nhất là của Vương An-Tiết (tự Lộc-Sài), cuốn sách này đã ra đời vào năm 1679 và tái bản với nhiều bổ túc vào năm 1701. Sách gồm có những tài liệu di lại của Lý Trường-Hành (1575 1629), tổ tiên của Lý Ngư, một bài tiểu dẫn của Lý Ngư, những mục về cây, về đá, về nhân vật và 130 bản in những cổ họa và mẫu vẽ.

  11. [11] Trường Amiral Courbet, gọi môn na là trường Hàng Vôi, sau là trường Nguyễn Du.

  12. [12] Đại-úy Lục-binh thuộc địa, tác giả quyển “Les Jauniers, histoire vrais“, xuất bản năm 1930. Thời đó, chính quyền thuộc địa chỉ chấp nhận những sinh hoạt có tính cách chính trị hay tôn giáo, từ chối cấp kinh phí cho những hoạt động văn hóa xã hội nên việc thành lập Hội-quán Sinh-viên An-nam đã gặp rất nhiều cản trở. Cuối cùng Paul Monet đã xin được kinh phí từ Hoa-Kỳ !

    Tác giả Nguyên Hương – Nguyễn Cúc, trong bài viết “Họa sư Nguyễn Khoa Toàn“, (Định Hướng số 51, Mùa Xuân 2008, tr. 56, đã ghi nhầm là Jean Mounet.

  13. [13] Trưởng phòng chính trị tại phủ Toàn quyền Pháp (Directeur des Affaires Politiques au Gouvernement Général), còn là người đồng sáng lập Nam-Phong tạp chí cùng với Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá-Trác.

  14. [14] Dựa theo một câu trong Thánh-kinh “il y a beaucoup d’appelés et peu d’élus” (Phúc-Âm, Mathieu 22:14).

  15. [15] Hồ sơ lưu số 372, hộp số 42, Trung-tâm Lưu-trữ Quốc-gia I Hà-nội. Công trình này của Victor Tardieu được hoàn tất vào những năm 1925-1927. Những bích họa nói trên đã hoàn toàn bị bôi xóa vì con người và chiến tranh. Sau này, vào ngày 15/3/2006, một phần của bích họa đã được phục dựng bởi họa sĩ Hoàng Hưng cùng một nhóm họa sĩ. Victor Tardieu dùng 6 năm để hoàn thành bích họa, nhóm họa sĩ Hoàng Hưng chỉ có 3 đến 4 tháng để phục dựng, về chính xác và giá trị nghệ thuật, xin nhường sự đánh giá cho các nhà chuyên môn !!!

  16. [16] Vào thời ấy, tranh sơn dầu rất xa lạ với người Việt chúng ta vì sơn dầu chỉ chủ yếu dùng trong việc sản xuất đồ sơn như tủ, hộp, tráp, bao gươm, tượng, hoành phi, câu đối, bình phong…

  17. [17] Hội Khai-trí Tiến-đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) được thành lập ngày 2 tháng 5 năm 1919 với chủ tịch là Tổng đốc Hoàng Trọng-Phu, phó chủ tịch Bùi Đình-Tá, tổng thư ký Phạm Quỳnh.

  18. [18] Trước Nam-Sơn, chúng ta có thể nhận ra rằng những tranh sơn dầu đầu tiên xuất hiện tại Đông-dương là tác phẩm của một họa sĩ người Huế, Lê Huy-Miến (1873 1943), sinh tại Nghệ-an. Ông được triều đình An-nam và chính quyền bảo hộ gửi sang Paris năm 1892 để theo học trường Thuộc-địa. Ông vào trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa Jean-Léon Gérôme, họa sĩ có khuynh hướng đông phương (orientalisme, xuất hiện trong bước đi của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XIX). Đó là những tấm tranh “Chân dung cụ Tú mền” (49x60cm, 1896), “Bình văn” (68x97cm, 1898).

  19. [19] Exposition Internationale des Arts et Techniques Paris 1937, Section Coloniale, Indochine Français, Gouvernement Général de l’Indochine, “Les Écoles d’Art de l’Indochine“, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1937.

  20. [20] Thư-viện quốc-gia Pháp khởi nguyên thuộc hoàng gia (triều vua Charles V, 1338-1380), đặt tại cung điện Louvre. Sau đó thư-viện dời về Blois thuộc vùng Fontainebleau, đến 1568 lại trở về Paris. Dưới triều Louis XIV, thư-viện được khai triển và mở cửa cho quần chúng. Sau nhiều lần dời chỗ đổi tên theo thăng trầm lịch sử Pháp, vào năm 1720, thư-viện cố định tại đường Richelieu (ngày nay gọi là “site Richelieu“). Năm 1988, Tổng-thống François Mitterrand (1916-1996) ra nghị định xây một thư-viện mới rộng lớn và hiện đại hơn, thuộc quận 13, (ngày nay gọi là “site Tolbiac” hay “site François Mitterrand“). Ngày 20/12/1996, thư-viện quốc-gia Pháp khánh thành và chính thức mở cửa cho dân chúng, trong khi “site Richelieu” chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Thư-viện quốc-gia Pháp là một thư viện quan trọng có tầm vóc quốc tế.

  21. [21] Thư Lương Xuân-Nhị viết ngày 23/11/1999.

  22. [22] Bản dịch của Trần Lê Hữu trong “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỉ XIX“, Đặng Huy Vận & Chương Thâu, nxb Giáo dục 1961.

  23. [23] Con cháu cụ Phạm Huy-Lục tại Paris vẫn còn gìn giữ hai bức tranh lụa của sinh viên Lưu Đình-Khải, quà biếu của Victor Tardieu về sự can thiệp trên.

  24. [24] Những tấm tranh lụa “Chơi ô ăn quan” và “Lên đồng” của Nguyễn Phan-Chánh, được vẽ vào năm 1931, đến nay vẫn được coi là những tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam. Điểm sai lầm này do ở các nhà chuyên môn không tìm hiểu cặn kẽ và không có đủ tài liệu chính xác !

  25. [25] Để sau đó mở cửa tại chiến khu Việt bắc dưới tên “Trường trung học Mỹ-thuật”, do họa sĩ Tô Ngọc-Vân làm hiệu trưởng.


Nguồn:
  1. 1. Saigon Antique >> KHẢO CỨU >> CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG CỦA VICTOR TARDIEU VÀ VAI TRÒ CỦA NAM-SƠN -

  2. 2. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (1925-1945) (L’école des Beaux-Arts de l’Indochine) - FB Nguyễn Hưng - 18 Tháng 4, 2012 lúc 14:49
  3. 2. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (1925-1945) (L’école des Beaux-Arts de l’Indochine) - Tạp chí văn chương Da Màu - 23.05.2009




Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương (1924-1945)
L’école des Beaux-Arts de l’Indochine


CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG CỦA VICTOR TARDIEU VÀ VAI TRÒ CỦA NAM-SƠN

Ngô Kim-Khôi


Victor Tardieu



Những người yêu thích nghệ thuật việt-nam nói chung và ngành hội họa nói riêng đều không ít thì nhiều biết đến trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (L’École des Beaux-Arts de l’Indochine). Trường là nơi đào tạo một thế hệ họa sĩ cũng như điêu khắc gia đã đi vào lịch sử nghệ thuật việt-nam như Lê Phổ, Vũ Cao-Đàm, Nguyễn Phan-Chánh, Georges Khánh, Mai Trung-Thứ, Tô Ngọc-Vân, Lê văn Đệ, Nguyễn Gia-Trí, Trần văn Cẩn… Nhưng ít người biết rằng một cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa hai nền văn hóa Đông-Tây, đại diện là Victor Tardieu (1870-1937) và Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ (1890-1973), đã liên kết với nhau để đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương.


I. Victor Tardieu


Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1870 tại Lyon trong một gia đình thương gia chuyên về tơ lụa, từ thuở nhỏ Victor Tardieu đã yêu thích hội họa, ông theo học trường Mỹ-thuật Lyon vào tuổi vị thành niên. Từ 1889 đến 1891, ông lên học trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa của Gustave Moreau (1826-1898), cùng với các bạn học mà tên tuổi lẫy lừng hiện nay như Henri Matisse (1869-1954), Albert Marquet (1875-1947), Georges Rouault (1871-1958)… Năm 1892, ông sang học tại xưởng họa của Léon Bonnat (1833-1922, môn đồ của Ingres).

Victor Tardieu đã làm rạng danh những người thầy của mình qua nhiều giải thưởng có tầm vóc, đặc biệt là hạng Danh dự (Mention Honorable) năm 1896, huy chương hạng ba năm 1899, huy chương hạng hai năm 1907, huy chương Vàng (“Hors Concours“) tại Hội Những Nghệ Sĩ Pháp (Salon des Artistes français)… Đặc sắc hơn là ông đã đoạt được huy chương Đồng tại cuộc Triển-Lãm Hoàn-Cầu (Exposition Universelle) năm 1900.

Là một họa sĩ tài hoa, Victor Tardieu đi vào thế giới hội họa với những tấm tranh có bố cục lớn, ông đã thực hiện những bản vẽ để dùng vào việc ghép những lồng kính màu (vitrail) cho các nhà thờ và công sở. Nổi tiếng nhất trong những kính màu này là tấm “Jean Bart trở về quê hương sau chiến thắng Texel” (Le retour de Jean Bart dans sa ville natal après la victoire du Texel), trưng bày tại sảnh đường Tòa Thị-Chính tỉnh Dunkerque [1]Tấm vitrail này đã bị chiến tranh tiêu hủy vào năm 1940, nhưng những bản mẫu (études) hiện nay vẫn còn lưu giữ tại viện Bảo tàng Dunkerque. (Xem bên dưới).

Năm 1902, với bức sơn dầu “Lao động” (Travail, 4m50 x 4m80) [2]Hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Rennes. (Xem bên dưới), Victor Tardieu đã đoạt giải thưởng Quốc-gia (Prix National), cùng với một học bổng đi du lịch hai năm trong toàn châu Âu. Viễn hành với phu nhân, Caroline Luigini [3]Là con gái nhà soạn nhạc nổi tiếng Alexandre Clément Luigini (sinh tại Lyon năm 1850), bà đã đoạt giải nhất tại Nhạc viện Lyon qua tiếng đàn Hạc-cầm (harpe). Bà còn có người em trai là họa sĩ Ferdinand Luigini. Trong gia đình, bà được gọi một cách thân ái là “Caline” (dịu dàng). (Xem bên dưới), chuyến du lịch ấy đã được Tardieu ghi lại qua nhiều tranh sơn dầu có khuynh hướng nghệ thuật ấn tượng (impressionniste) mô tả hoạt động tại các hải cảng lớn của Âu châu, được lưu ý nhất là “Chân dung bà Rozier” “Kỷ niệm” (Souvenirs), “Hải cảng Liverpool” “Hải cảng Londres” “Hải cảng Gènes” [4]Tất cả những sơn dầu kể trên hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Lyon. (Xem bên dưới)



Victor Tardieu,
tượng đồng của Georges Khánh, 1935, cao 40cm



Năm 1903, tiếng khóc chào đời của người con trai duy nhất trong gia đình Tardieu, Jean, và những năm yên bình tiếp sau đó đã giúp Tardieu hình thành những tấm sơn dầu tỏa ra một niềm vui lồng trong màu sắc lộng lẫy của trường phái ấn tượng. Những nét chấm phá rực rỡ mang đầy hạnh phúc gia đình được vẽ ngoài trời, trong một khu vườn, dưới ánh nắng chan hòa mà ở trong khung cảnh ấy Caroline và Jean, “Mẹ con” đang ngồi “Dưới bóng ô đỏ” (Ombrelle rouge), “Dưới bóng ô trắng” (Ombrelle blanche)… Đó là những tấm tranh đã hình thành vào khoảng năm 1912, lúc ấy Jean được chín hay mười tuổi. Các bức tranh ấy chúng tôi đã hân hạnh được thưởng lãm tại nhà riêng của gia đình Tardieu tại Paris vào những năm 1993, 1994. Sau này, Jean Tardieu (1903-1995) đã trở thành một nhà thơ tiếng tăm vang dội.


Dưới bóng ô đỏ, (Ombrelle rouge) sơn dầu của Victor Tardieu, 1912, 40x50cm
(Tư liệu NgKmKh)



Vào năm 1907, để đáp ứng yêu cầu trang trí trần nhà phòng Lễ Hội (salle des Fêtes) thuộc về Thị-xã Les Lilas, Hội-đồng vùng Seine (Conseil général de la Seine)[5]Vào đầu thế kỷ 20 chưa có l’Ile de France. (Xem bên dưới) mở ra một hội thi dành cho các họa sĩ toàn quốc. Khoảng năm mươi bản vẽ đã được trưng bày tại cung Mỹ-thuật (Palais des Beaux Arts) thành phố Paris vào tháng 12 năm 1907. Cuối cùng chỉ có bốn ứng sinh được vào chung kết. Tháng 5 năm 1908, các bản vẽ này đã được tuyển chọn tại toà Thị Chính Paris, tháng 6 cùng năm, Victor Tardieu được xướng danh [6]Phòng Lễ Hội của Hội-đồng Thị-xã Les Lilas được xây cất vào đầu thế kỷ thứ XIX (1903 1907) dưới bản vẽ của kiến trúc sư Bévière. Năm 1994, phòng Lễ Hội đã được hoàn toàn chỉnh trang và trở thành Kịch viện Garde Chasse, đồng thời cũng là môt phòng chiếu bóng. Khi có dịp, chúng tôi sẽ viết một cách rõ ràng hơn về tấm bích họa này của Victor Tardieu, nhưng quý bạn độc giả nếu có điều kiện đến Lilas (Métro Mairie des Lilas) cũng nên dừng bước ghé thăm. (Xem bên dưới).

Tấm tranh bích họa vĩ đại có tên là “Thời đại của Paul de Kock” (Au temps de Paul de Kock) này có nhiều ảnh hưởng của danh họa người Ý Tiepolo (1696-1770) và trình bày theo kiểu baroque, đã được Victor Tardieu hoàn tất trong ba năm (1909-1911).


Chi tiết "Thời đại của Paul de Kock" (1909-1911, détail), sơn dầu của Victor Tardieu.
(Ảnh NgKmKh)



Chiến tranh thế giới bùng nổ vào mùa thu năm 1914. Dù được hoãn dịch, Victor Tardieu vẫn tình nguyện tòng quân và tham gia những trận chiến tại miền bắc Pháp. Hiện nay, viện Bảo tàng Quân đội Paris (Musée de l’Armée) vẫn còn trân trọng gìn giữ những bức tranh nhỏ của ông, đặc biệt nhất là “Phế tích Verdun” (Ruines de Verdun) được ghi lại một cách não nùng ngay dưới những trận mưa bom.

Sau bốn năm chiến tranh, Victor Tardieu trở về Paris. Năm 1920, trên trần phòng Cố-vấn Thị-xã Montrouge (salle du Conseil Municipal) được nét bút tài hoa của Victor Tardieu điểm trang bằng một bích họa vĩ đại thứ hai lấy tên là “Những niên kỷ cuộc đời” (Les âges de la vie). Cùng năm, cuộc đời của chính ông đã rẽ vào một khúc quanh định mệnh khi ông nhận được Giải thưởng Đông-dương (Prix de l’Indochine) [7]Nghị định lập Giải thưỏng Đông-dương do Toàn quyền Antony Wladislas Klobukowski ký năm 1910, do “Hội Thuộc-địa Nghệ-sĩ Pháp” (Société Coloniale des Artistes français) đề xướng với ý định phát khởi nghệ thuật phương Tây tại Đông-dương. Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinant Olivier (1873-1956) và cuối cùng là Louis Bâte (1898-1948).
(Xem bên dưới)
và một học bổng sang Đông-dương nghiên cứu trong vòng một năm.

Ngày 5 tháng 1 năm 1921, Victor Tardieu xuống tàu ở cảng Marseilles, ông đã lần đầu tiên trong đời cảm nhận được không khí miền nhiệt đới vào ngày 2 tháng 2, đồng thời thưởng thức mùa xuân Hà-nội.


Chi tiết bức tranh Victor Tardieu vẽ cho Trường Đại Học Đông Dương

Hanoi Art ToursVictor Tardieu Life & Career - Victor Tardieu passed away in Hanoi
Victor Tardieu's Artwork
His artwork in the auditorium of Indochina University (it is now Hanoi University of Pharmacy, 19 Le Thanh Tong) was considered as the largest contemporary painting. With a total square size of 77m², Tardieu illustrated Hanoi’s landscape in the early 20th century with 200 characters representing the society at that time including both politicians and civilians. There were 4 Indochina Governors: Paul Doumer, Jean Baptiste Paul Beau, Albert Sarraut, Maurice Long and several leaders, teachers at Indochina University and his son – Jean Tardieu.

In the middle of the artwork, a triple gate like a traditional gate in the countryside in Vietnam lay under the ancient tree. The gate had four words: 升堂入室, it means “Welcome you” as a friendly reception. Being dim in the middle of the gate, Allegorie du Progres (allegory of Progress – the first image of the painter) was a character symbolizing the modern evolutionary synthesis; The image “her hand holding a book” was an emblem of the intellect. Within the large space in front of the gate, the painter painted vivid portraits of contemporary women of many classes including both the French and indigenous people. Each character had a distinct expression.
In 2006, Painter Hoang Hung with his photos of the original painting recreated it in the main auditorium at Indochina University (19 Le Thanh Tong, Hanoi.)




II. Nam-Sơn (Nguyễn văn Thọ)


Sinh trưởng trong một dòng dõi nho gia, Nguyễn văn Thọ chào đời gần hồ Hoàn Kiếm tại Hà-nội vào ngày 15 tháng 2 năm 1890 (Canh Dần), tại số 17 phố Hàng Dầu (rue du Lac). Ông là con trai duy nhất của nho giả Nguyễn văn Khang (1871 1894), thư ký phủ Thống-sứ Bắc-kỳ. Mẹ ông, Nguyễn thị Lân (1870 1951), thuộc một thương gia ở phố Hàng Bạc (rue des Orfèvres).

Tổ tiên của ông, Nguyễn Duy-Thời (1572 1652) và Nguyễn Duy-Hiểu (1602 ?) [8]Nguyễn Duy Thời (Thì) đỗ Hoàng giáp triều Lê Thế Tông, từng đi sứ sang nhà Minh, làm quan đến chức Hộ Bộ Thượng thư kiêm Chưởng lục bộ sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công (grand Duc), khi mất được truy phong Thái tể. Tác phẩm hiện còn trong Toàn Việt thi lục.

Con trai ông, Nguyễn Duy Hiểu, đỗ Hoàng giáp triều Lê Thần Tông, làm quan đến chức Thiêm đô ngự sử, từng đi sứ sang nhà Minh, mất trên đường đi và được truy phong Hình bộ tả Thị lang, tước Hầu (Marquis). (Xem bên dưới)
, đã lừng lẫy dưới triều Lê với mỹ danh “Phụ tử đồng triều”, tên tuổi hiện nay vẫn còn ghi khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, Hà-nội.

Cha mất khi lên bốn tuổi, Nguyễn văn Thọ được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ quyết tâm dành trọn cuộc đời cho con, ban ngày tảo tần buôn bán tơ lụa tại phố Hàng Đào (rue de la Soie), ban đêm chong đèn khâu thuê vá mướn [9]Những công lao khó nhọc và tấm lòng hy sinh vô bờ bến như nước trong nguồn chảy ra ấy của cụ Nguyễn thị Lân sau này thấu đến triều đình, vào năm 1927, cụ được vua Bảo Đại ngự ban một Kim khánh khắc bốn chữ ” 節 行 可 封 ” (Tiết hạnh khả phong). Vào đầu thập niên 40, một bức tượng bán thân của cụ đã được hình thành bởi điêu khắc gia Vũ văn Thu (nhạc phụ của họa sĩ Tạ-Tỵ), bức tượng này hiện để trên bàn thờ gia tiên của gia đình Nam-Sơn tại đường Nguyễn Du, Hà-nội. (Xem bên dưới). Trong cảnh hàn vi, bà đã giao việc đèn sách của đứa con mồ côi cha ấy cho em mình, Nguyễn Sỹ-Đức (tự Cẩm-Thành), và em họ, Phạm Như-Bình, là những nhà nho uyên thâm có tấm lòng yêu nước. Nguyễn văn Thọ vỡ lòng với những chữ hán đầu tiên trong Tam tự kinh rồi Thiên tự kinh …, từ Khổng hiền chi đạo đến hán tự thi thư. Ngoài ra, ông còn được học cách quan sát, thưởng thức nét đẹp thiên nhiên qua các bài thi phú và tranh vẽ. Cuối cùng, ông chập chững đi vào thế giới hội họa với những khái luận ban sơ qua quyển “Giới tử viên họa truyền” [10]芥 子 園 畫 傳, Le jardin aussi gros qu’une graine de moutarde, là một bộ cẩm nang bách khoa về hội họa cổ điển trung hoa, của họa sĩ đồng thời là một văn sĩ danh tiếng đời Khanh-Hy : Lý Ngư (1611 1679). Sở dĩ sách có tên như vậy là vì đã được khởi thảo sau một cuộc luận đàm về hội họa giữa Lý Ngư và Trần Tâm-Hữu trong khu vườn Giới-Tử của Trần Tâm-Hữu ở Nam Kinh. Nhờ có sự cộng tác của Trần Tâm-Hữu và nhất là của Vương An-Tiết (tự Lộc-Sài), cuốn sách này đã ra đời vào năm 1679 và tái bản với nhiều bổ túc vào năm 1701. Sách gồm có những tài liệu di lại của Lý Trường-Hành (1575 1629), tổ tiên của Lý Ngư, một bài tiểu dẫn của Lý Ngư, những mục về cây, về đá, về nhân vật và 130 bản in những cổ họa và mẫu vẽ. (Xem bên dưới). Chính Phạm Như-Bình sau này, qua cái tên Thọ, đã chọn cho ông biệt hiệu Nam-Sơn (Thọ tỉ Nam-Sơn), như một lời chúc trong Kinh Thi:
南 山 至 壽, 不 牽 不 能

“Nam-Sơn chí thọ, bất khiên bất năng” (Thọ vững bền như ngọn núi Nam-Sơn mà không gì lay chuyển nổi).

Năm mười tuổi Nam-Sơn mới bắt đầu học chữ quốc-ngữ tại trường tiểu học Hàng Vôi [11]Trường Amiral Courbet, gọi môn na là trường Hàng Vôi, sau là trường Nguyễn Du. (Xem bên dưới) và vẫn tiếp tục học chữ nho tại nhà.

Tốt nghiệp trường Bưởi (trường Bảo-hộ, lycée du Protectorat) năm hai mươi tuổi, ông vào làm tại sở Tài-chánh Đông-dương (Direction des Finances) cùng với Tú-Mỡ Hồ Trọng-Hiếu (1900-1976) và Nhất-Linh Nguyễn Tường-Tam (1906-1963). Vì có khiếu vẽ và không ngừng tự trau dồi học hỏi qua sách vở, biệt hiệu Nam-Sơn đã xuất hiện thường xuyên qua các tranh bìa, tranh minh họa bằng bút lông, bút sắt, mực nho…, trang trí cho các báo chí thời bấy giờ như Đông-dương tạp-chí (Revue Indochinoise, chủ bút Nguyễn văn Vĩnh), Nam-Phong tạp-chí (Vent du Sud, chủ bút Phạm Quỳnh), Viễn-Á (Extrême-Asie, chủ bút Georges Mignon), Trang Đông-dương (Pages Indochinoises)… Các đề tài của ông qua các tranh bìa và tranh minh họa này thường diễn tả cuộc sống thường nhật và phong cảnh thiên nhiên, ngoài ra ông còn vẽ theo những phù điêu hoặc trầm điêu chạm hoa văn sắc sảo của các miếu đền đông phương.


Nam-Sơn (Nguyễn văn Thọ), Hà-Nội 1919



Chúng tôi xin mở ra một dấu ngoặc để kể rằng thuở ấy, Tú-Mỡ mới bắt đầu bước vào văn đàn, tự xuất bản tập thơ đầu tay tựa là “Câu cười tiếng khóc” dưới bút hiệu Nguyên-Trực, đã nhờ Nam-Sơn vẽ cho tấm trang bìa “Đêm thu”. Nhất-Linh khi xuất bản quyển sách đầu tay “Nho phong” năm 1926 (Nxb Ngọc-Xuyên, Hà-nội), đã trân trọng đặt tấm tranh sơn dầu “Nhà nho xứ Bắc” (40x50cm, 1923) của Nam-Sơn lên trang bìa.

Năm 1923, Trần Trọng-Kim và Đỗ Thận tại bộ Giáo-dục Đông-dương đã mời Nam-Sơn cộng tác, ông chuyển sang nha Học-Chính (Direction Générale de l’Instuction Publique, thành lập năm 1920) để phụ trách phần minh họa cho các sách giáo khoa như Quốc-văn giáo-khoa-thư, Luân-lý giáo-khoa-thư…


Minh họa của Nam-Sơn, trích từ tạp chí Extrême-Asie, số 12, 6/1927, trang 495




III. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương


Vào khoảng 1920 – 1921, Nam-Sơn hăng hái gánh vác việc trang trí cho Hội-quán Sinh-viên An-nam (Foyer des Étudiants annamites) tại số 9 đường Vọng-Đức, được thành lập với muôn vàn khó khăn bởi Paul Monet [12]Đại-úy Lục-binh thuộc địa, tác giả quyển “Les Jauniers, histoire vrais“, xuất bản năm 1930. Thời đó, chính quyền thuộc địa chỉ chấp nhận những sinh hoạt có tính cách chính trị hay tôn giáo, từ chối cấp kinh phí cho những hoạt động văn hóa xã hội nên việc thành lập Hội-quán Sinh-viên An-nam đã gặp rất nhiều cản trở. Cuối cùng Paul Monet đã xin được kinh phí từ Hoa-Kỳ !

Tác giả Nguyên Hương – Nguyễn Cúc, trong bài viết “Họa sư Nguyễn Khoa Toàn“, (Định Hướng số 51, Mùa Xuân 2008, tr. 56, đã ghi nhầm là Jean Mounet. (Xem bên dưới)
. Xúc động trước bầu nhiệt huyết và tài năng của chàng trai đất Việt, Paul Monet đã nhờ vị Chủ-tịch Danh-dự của Hội-quán là Louis Marty [13]Trưởng phòng chính trị tại phủ Toàn quyền Pháp (Directeur des Affaires Politiques au Gouvernement Général), còn là người đồng sáng lập Nam-Phong tạp chí cùng với Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá-Trác. (Xem bên dưới), giám đốc Chính-trị-vụ Phủ Toàn-quyền Đông-dương, giới thiệu Nam-Sơn với Victor Tardieu.

Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Nam-Sơn, Victor Tardieu tỏ vẻ ngần ngại vì ông thường tuyên bố rằng “trong thế giới nghệ thuật có rất nhiều người được triệu đến song rất ít người được chọn[14]Dựa theo một câu trong Thánh-kinh “il y a beaucoup d’appelés et peu d’élus” (Phúc-Âm, Mathieu 22:14). (Xem bên dưới), nhưng sau khi xem những tranh vẽ của Nam-Sơn, ông đã quyết định chấp nhận hướng dẫn chàng trai trẻ đầy đam mê ấy vào con đường nghệ thuật. Cuộc hạnh ngộ bất ngờ và kỳ diệu đó đã đưa hội họa việt-nam, vốn dĩ có nhiều ảnh hưởng trung-hoa, vào một bước ngoặc lịch sử và lập ra một nền móng nghệ thuật việt-nam hoàn toàn mới lạ mà sau này tiếng vang đã ngân lên khắp hoàn cầu.

Những ngày tháng đầu, Victor Tardieu chỉ hướng dẫn Nam-Sơn trong vòng một giờ vào mỗi chiều chủ nhật hàng tuần. Lần đầu tiên trong đời, Nam-Sơn đã ngỡ ngàng tiếp xúc với hội họa tây phương, cách nhìn xa gần với những phối cảnh, ánh sáng, hình khối, vẽ bóng, đo đạc, màu sắc…

Những khái luận mới mẽ này đã mở ra trước mắt Nam-Sơn một chân trời xa lạ nhưng tràn đầy say mê và lý thú, nét đẹp thiên nhiên trước kia bỗng nhiên trở thành một khung cảnh tràn đầy sắc thái vô cùng vô tận.

Từ trước đến nay, Nam-Sơn chỉ nghiên cứu và học hỏi nghệ thuật trung-hoa hay nhật-bản. Người Trung-hoa vẽ tranh theo phương pháp hoàn toàn khác với nghệ thuật tây phương, được mệnh danh là :

“Thấu thị tẩu mã”, 透 視 走 馬, là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên mình ngựa đang chạy, hình ảnh trong tranh được thể hiện theo lối chạy dài, di chuyển theo hàng ngang, cảnh này bên cạnh cảnh kia, trải ra một không gian mênh mông không bờ bến, chứ không phải gần vẽ to, xa vẽ nhỏ như lối nhìn không gian khách quan theo luật viễn cận của nghệ thuật Tây phương. Người Nhật gọi là “Makimono” (rouleau horizontal), người Pháp gọi là “perspective cavalière”.

“Thấu thị phi điểu”, 透 視 飛 鳥, là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên lưng một con vật đang bay nhìn xuống, hình ảnh trong tranh từ gần đến xa đều bằng nhau và như chồng lên nhau theo hàng dọc, cảnh này đặt lên trên cảnh kia, sắp xếp thành tầng tầng lớp lớp, đường chân trời được tượng trưng rất cao để diễn tả một cái nhìn sâu thẳm, bức tranh trở nên hẹp. Tiêu biểu cho lối cấu trúc này là thể loại tranh đứng, miêu tả sự hùng vĩ của thiên nhiên. Người Nhật gọi là “Kakémono” (tableau à suspendre), người Pháp gọi là “perspective atmosphérique” hay “perspective aérienne” (?).

Ngày 6 tháng 6 năm 1921, Toàn-quyền Maurice Long (1912-1923) ký một hợp đồng với Victor Tardieu về việc trang trí trường Đại-học Đông-dương, với một diện tích gần 270m2 trong nhiều gian gồm giảng đường, tiền sảnh, mái vòm, ô tường, phòng hội đồng, phòng đọc sách… [15]Hồ sơ lưu số 372, hộp số 42, Trung-tâm Lưu-trữ Quốc-gia I Hà-nội. Công trình này của Victor Tardieu được hoàn tất vào những năm 1925-1927. Những bích họa nói trên đã hoàn toàn bị bôi xóa vì con người và chiến tranh. Sau này, vào ngày 15/3/2006, một phần của bích họa đã được phục dựng bởi họa sĩ Hoàng Hưng cùng một nhóm họa sĩ. Victor Tardieu dùng 6 năm để hoàn thành bích họa, nhóm họa sĩ Hoàng Hưng chỉ có 3 đến 4 tháng để phục dựng, về chính xác và giá trị nghệ thuật, xin nhường sự đánh giá cho các nhà chuyên môn !!! (Xem bên dưới). Làm sao có thể lý giải một cách chính xác lý do nào đã khiến Victor Tardieu bất chấp muôn vàn khó khăn để thực hiện một tác phẩm lớn nhất trong đời tại một xứ Đông-dương thuộc địa xa xôi ? Trong bức thư gửi con trai Jean Tardieu đề ngày 25 tháng 7 năm 1921, ông đã viết
“...và sau đó càng vẽ ra phác thảo, cha càng ý thức được về khối lượng công việc khổng lồ, không chỉ vì bức tranh vẽ theo yêu cầu mà có lẽ là để làm tốt việc này thì cần phải vẽ ngay tại đây với những người mẫu trước mắt…”.

Ông quyết định thực hiện bích họa tại Hà-nội và hợp đồng này đã kéo dài thời gian của Victor Tardieu ở tại Đông-dương. Để thực hiện công trình của mình, ông bắt đầu tìm người ngồi mẫu và ngay lập tức ông bối rối nhận ra rằng tại một đất nước mà nghệ thuật chỉ sản sinh ra từ sự tưởng tượng, không cần đến người mẫu bao giờ! Trước trở ngại lớn lao ấy, Nam-Sơn đã tình nguyện ngồi làm mẫu cho người mà ông đã xem như thầy của mình. Và Victor Tardieu, từ ngày ấy, cũng mở rộng cánh cửa cho người mà ông đã xem như một môn đồ, hơn thế nữa, như một người con tinh thần. Vào những ngày nghỉ, đơn sơ trong y phục nông dân hoặc trang nghiêm trong những triều phục rực rỡ, Nam-Sơn đã làm mẫu nhiều giờ và khám phá ra những chân dung sơn dầu từ từ hình thành trên vải, như những nhân vật xuất hiện từ một cõi nào thật xa lạ. Qua sự chân thành khát khao học hỏi của Nam-Sơn, Victor Tardieu đã dành riêng một góc trong xưởng họa để chỉ dẫn phương pháp sơn dầu [16]Vào thời ấy, tranh sơn dầu rất xa lạ với người Việt chúng ta vì sơn dầu chỉ chủ yếu dùng trong việc sản xuất đồ sơn như tủ, hộp, tráp, bao gươm, tượng, hoành phi, câu đối, bình phong…
(Xem bên dưới)
, cách pha mầu, cách vẽ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật…, theo trường phái ấn tượng.

Tại Hà-nội vào đầu thế kỷ XX, những cuộc đấu xảo được chính quyền bảo hộ tổ chức là những sự kiện làm nổi bật đời sống văn hóa và nghệ thuật, đáng chú ý nhất là các cuộc đấu xảo năm 1902, 1913, diễn ra tại đại lộ Gambetta (hiện nay là Trần Hưng-Đạo). Nhưng vào năm 1923, từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12, một cuộc đấu xảo không do chính quyền bảo hộ mà do hội Khai-trí Tiến-đức [17]Hội Khai-trí Tiến-đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) được thành lập ngày 2 tháng 5 năm 1919 với chủ tịch là Tổng đốc Hoàng Trọng-Phu, phó chủ tịch Bùi Đình-Tá, tổng thư ký Phạm Quỳnh. (Xem bên dưới) tổ chức tại trụ sở của hội gần hồ Hoàn-Kiếm, đã kêu gọi và quy tụ nhiều tài năng mới.

Lần đầu tiên trong cuộc đời nghệ sĩ, Nam-Sơn tham gia vào một cuộc triển lãm, cùng với những nhà mỹ nghệ thời bấy giờ như họa sĩ Thăng Trần Phềnh, mộc gia Phúc-Mỹ Trần Diễn-Giệm, điêu khắc gia Nguyễn Đức-Thục, họa sĩ Ngô Đặng-Đĩnh… Với những tấm tranh như “Mục đồng” (màu nước), và nhất là những tranh sơn dầu “Nhà nho xứ Bắc” (40x50cm), “Tĩnh vật” (40x50cm) của Nam-Sơn đã làm ông trở thành một trong những người vẽ tranh sơn dầu đầu tiên của nước Việt-nam [18]Trước Nam-Sơn, chúng ta có thể nhận ra rằng những tranh sơn dầu đầu tiên xuất hiện tại Đông-dương là tác phẩm của một họa sĩ người Huế, Lê Huy-Miến (1873 1943), sinh tại Nghệ-an. Ông được triều đình An-nam và chính quyền bảo hộ gửi sang Paris năm 1892 để theo học trường Thuộc-địa. Ông vào trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa Jean-Léon Gérôme, họa sĩ có khuynh hướng đông phương (orientalisme, xuất hiện trong bước đi của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XIX). Đó là những tấm tranh “Chân dung cụ Tú mền” (49x60cm, 1896), “Bình văn” (68x97cm, 1898). (Xem bên dưới).

Qua bài báo “Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai- trí”, đăng trên tạp chí Nam-Phong số 78, tháng 12 năm 1923, (trang 501-502) Thượng-Chi (bút hiệu của Phạm Quỳnh) đã phê bình “Nhà nho xứ Bắc” và “Tĩnh vật” như sau:
Ông Nguyễn văn Thọ, hiệu Nam-Sơn, cũng là tay vẽ sơn dầu giỏi. Nhưng lối vẽ của ông “khí Tây” quá. Bức vẽ ông nhà nho, xem đã có vẻ linh hoạt lắm ; còn bức vẽ cái liễn, con dao và mấy quả tráng miệng thời dẫu tả thực hệt thật nhưng quyết không hợp với con mắt người Nam ta, (…) tưởng dẫu người hí tân hiếu kì nữa cũng cũng ít ai mua bức tranh vẽ bộ thìa dĩa tây và mấy cái quả tráng miệng về treo nhà !
Chúng ta hiện nay với những bước đi hiện đại có vận tốc siêu hình, nếu được dịp thưởng ngoạn tấm tranh “Tĩnh vật” của Nam-Sơn, khó ai có thể tin rằng ông đã đi trước thời gian để hình thành tác phẩm này, nhất là trong thời điểm ấy !

Riêng về tấm “Nhà nho xứ Bắc”, trên nền màu nâu sẫm nổi bật gương mặt quắc thước của một nhà nho yêu nước dã tham gia phong trào Đông-Kinh Nghĩa-thục. Đó là chân dung cụ Sỹ-Đức (vừa là cậu đồng thời là thầy của Nam-Sơn), với cái nhìn rắn rỏi nhưng đượm buồn, trên đầu chít khăn trắng để tang cho nước mất nhà tan.

Tên của Nam-Sơn đã xuất hiện trong danh sách những người đoạt giải “Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai- trí”, là một khích lệ làm tăng thêm niềm say mê cùng nỗi khát khao của ông trên con đường nghệ thuật.

Niềm say mê và nỗi khát khao ấy, như thúc đẩy bởi một bàn tay vô hình, đã hình thành trong Nam-Sơn một ý tưởng “ngông cuồng”, ông muốn mọi người dân trong đất nước ông cùng được chung hưởng và học hỏi điều khám phá mới lạ này. Ý định mở ra một trường Mỹ thuật cứ lớn dần trong tâm tưởng, nhưng trước những khó khăn của một con người sống tại một đất nước nhược tiểu, biết phải làm sao ?! Ông đã lặng nghĩ trong bao tháng ngày. Sau nhiều đắn đo, ông trình bày nguyện vọng sôi nổi cuồng nhiệt ấy với Victor Tardieu, bởi ông biết rằng sau khi hoàn thành công trình của mình, Victor Tardieu sẽ trở về Pháp và có thể vĩnh viễn không bao giờ quay lại nơi đây. Nhưng lý do lớn nhất dằn vặt trong tâm hồn là ông biết mình chỉ là một người dân An-nam tầm thường, thấp cổ bé miệng, chỉ có thể trông cậy vào một người Pháp, vừa đoạt Giải thưởng Đông-dương, lại được phủ Toàn-quyền tin tưởng, và điều đáng lưu tâm nhất là người ấy không phải là người của chính quyền thực đân Pháp, lại có một tấm lòng rộng mở, không nhìn quê hương ông như một đất nước nô lệ bị đô hộ.

Chinh phục bởi nguyện vọng của Nam-Sơn, trong một bản phúc trình dưới cái tên “Nghệ thuật An-nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (L’Art annamite dans le passé, le présent et le futur), Victor Tardieu đã đề cập đến vấn đề mở ra một trường Mỹ-thuật tại Đông-dương.

Bản phúc trình này được chuẩn y bởi Toàn-quyền Martial-Henri Merlin. Ngày 27 tháng 10 năm 1924, xuất hiện trong Công báo (Journal Officiel) nghị định thành lập một ngôi trường dưới tên trường Mỹ-thuật Đông-dương. Ngôi trường này sẽ được dựng lên tại số 102 đường Reinach, gần trường Viễn-đông Bác-cổ, trực hệ Giáo-đoàn Pháp (l’Université de France) tại Hà-nội, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của nha Học-chính, với Victor Tardieu là Hiệu trưởng.

Được bổ nhiệm tham dụ trong “công sự Victor Tardieu”, Nam-Sơn có trách nhiệm giúp đỡ Victor Tardieu trong việc mua dụng cụ cần thiết và tìm giáo sư cho trường Mỹ-thuật Đông-dương. Đầu năm 1925, ông xuống tàu Claude-Chappe tại Hải-phòng để đến Sài-gòn lúc 14 giờ 30 ngày 5 tháng 3. Vào 12 giờ ngày 8 tháng 3, ông có mặt trên tàu Porthos khởi hành đi Marseille. Tại Paris, ông được Victor Tardieu đón về cư ngụ ở tư gia (số 3 đường Chaptal thuộc quận 9).



Nghị định thành lập trường Mỹ-thuật Đông-dương



Với một chương trình học thật nặng nề nhưng không kém phần lý thú, buổi sáng Nam-Sơn theo học tại trường Mỹ-thuật Quốc-gia trong xưởng họa của Jean-Pierre Laurens (1875-1933, môn đồ của Ingres), buổi chiều tại trường Nghệ-thuật Trang-trí Quốc-gia trong xưởng họa của Félix Aubert (1866-1940), buổi tối ông học nắn hình dước sự hướng dẫn của các giáo sư Séguin và Maire. Chỉ còn lại ngày chủ nhật, ông dành thì giờ học hỏi thêm qua các tài liệu trong thư phòng của Victor Tardieu và khám phá Paris qua những cuộc thăm viếng các Bảo tàng viện và danh lam thắng cảnh.

Vào tháng 9, vì bị bệnh nên Victor Tardieu bắt buộc hoãn ngày trở lại Việt-nam, Nam-Sơn phải trở về Hà-nội để kịp buổi khai trường. Cùng đi với ông là một giáo sư tương lai sẽ phụ trách chuyên ngành sơn dầu, Joseph Inguimberty (1896-1971). Ngày 1 tháng 10 năm 1925 đánh dấu buổi khai trường Mỹ thuật Đông-dương. Trong muôn ngàn khó khăn, Nam-Sơn và Inguimberty đã đơn phương chuẩn bị cho kịp buổi tuyển sinh được tổ chức cùng một lúc tại Hà-nội, Huế, Sài-gòn, Phnom Pênh và Vientiane, với sự tham dự của 270 thí sinh.

Khi Victor Tardieu trở lại Đông-dương, tiếng trống trường đã điểm để mở đầu một chương trình học ba năm, với mười thí sinh trúng tuyển và khoảng hai mươi thí sinh dự bị. Trong khi chờ đợi xây cất (hoàn tất năm 1931), trường tạm dựng lên tại số 124 phố Hàng Lọng (route Mandarine).

Vì không có quy chế định biên dành cho người An nam, chức vụ của Nam-Sơn được ghi là Trợ lý (moniteur). Thật ra, vai trò của ông trong buổi đầu tiên này thật là đa hình đa dạng, luôn luôn ông phải hỗ trợ cho Victor Tardieu vì ông này quá bận rộn trong chức vụ Hiệu trưởng, đã lớn tuổi, lại là người Pháp. Cùng một lúc, Nam-Sơn vừa là thư ký, quản lý, giám học…, lại vừa phụ giảng cho Victor Tardieu hay Inguimberty. Chúng ta nên nhớ rằng trong thời thuộc địa, khó ai có thể hình dung ra một người An-nam được giữ chức giáo sư trong một ngôi trường Tây. Trong bài báo dưới tựa đề “L’École des Beaux Arts d’Hanoi”, đăng trên “Illustration tạp chí”, số 4522, ngày 2 tháng 11 năm 1929 (trang 513), đã khẳng định:
Các công việc và phận sự của những giáo sư trường Mỹ-thuật Hà-nội đã trở nên dễ dàng hơn qua sự giúp đỡ trung gian của một trợ lý người An-nam, ông Nguyễn Nam-Sơn. (…) Tấm gương của ông đã chứng minh những gì chúng ta có thể chờ đợi nơi các học sinh của ngôi trường này.
Rất nhiều nhà chuyên môn và nhà phê bình mỹ thuật Âu cũng như Á không biết rằng Nam-Sơn không bao giờ tốt nghiệp trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương, điều dễ hiểu là ông chưa từng bao giờ là học trò của trường, và khi trường mở cửa, ông là người đã dạn dày nhiều công lao. Ngày 24 tháng 10 năm 1927, một nghị định do nha Học Chính ban xuống đề cử Nam-Sơn lên làm giáo sư phụ trách lớp dự bị và chuyên ngành trang trí. Ông là người Việt-nam đầu tiên chính thức có chức vụ giáo sư trong ngôi trường này.


IV. Trường hợp Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ


Trong quá trình thu thập các tài liệu về Nam-Sơn, chúng tôi không tìm ra được bản văn chính thức nào xác nhận vai trò đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương của Nam-Sơn. Thật sự mà nói, cũng KHÔNG có một tài liệu chính thức nào xác nhận Victor Tardieu là “người sáng lập” trường.

Một tài liệu khi được gọi là chính thức, xem như một nghị-định, nghĩa là có ghi ký hiệu, ngày tháng, được chính quyền đóng mộc, ký tên, đăng trên Công-báo và lưu giữ.

Nghị định thành lập trường, do Toàn-quyền Martial-Henri Merlin ký ngày 27 tháng 10 năm 1924 nói ở phần trên chỉ xác nhận Victor Tardieu là “hiệu trưởng” (directeur), chứ hoàn toàn không nói ông là “người sáng lập” (fondateur) !!! Xin lưu ý rằng ngôn ngữ Pháp rất rõ ràng, minh xác và mạch lạc, chính vì vậy, phần lớn các “Hiệp-định quốc tế” đều chọn Pháp ngữ để trình bày nội dung, hòng tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Dĩ nhiên, “hiệu trưởng” chưa hẳn là “người sáng lập”.



Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ qua nét vẽ của Ngô Kim-Khôi, sơn dầu trên lụa, 1998, 50x65cm.



Tuy nhiên, từ trước đến nay, các nhà chuyên môn về hội họa, từ Âu sang Á, khi nói đến Victor Tardieu đều mặc nhiên công nhận ông là người sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương.

Từ lâu, chúng tôi có một bản văn có thể gọi là “bán chính thức”, nói lên vai trò sáng lập (fondateur) của Victor Tardieu và đồng sáng lập (co-fondateur) của Nam-Sơn đối với trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương, đó là quyển “Các trường Mỹ-thuật Đông-dương” (Les écoles d’art de l’Indochine), do Toàn-quyền Đông-Pháp xuất bản vào dịp Triển-lãm Quốc-tế Nghệ-thuật và Kỹ-thuật tại Paris 1937 [19]Exposition Internationale des Arts et Techniques Paris 1937, Section Coloniale, Indochine Français, Gouvernement Général de l’Indochine, “Les Écoles d’Art de l’Indochine“, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1937. (Xem bên dưới).

“Bán chính thức” vì quyển sách nói trên không phải là một nghị định, không đóng mộc, ký tên, nhưng được Toàn-quyền Đông-Dương kiểm tra và xuất bản, có ghi mạch lạc rõ ràng nguyên nhân và năm tháng.

Quyển sách này lưu trong Thư-viện quốc-gia Pháp (Thư viện François Mitterrand) [20]Thư-viện quốc-gia Pháp khởi nguyên thuộc hoàng gia (triều vua Charles V, 1338-1380), đặt tại cung điện Louvre. Sau đó thư-viện dời về Blois thuộc vùng Fontainebleau, đến 1568 lại trở về Paris. Dưới triều Louis XIV, thư-viện được khai triển và mở cửa cho quần chúng. Sau nhiều lần dời chỗ đổi tên theo thăng trầm lịch sử Pháp, vào năm 1720, thư-viện cố định tại đường Richelieu (ngày nay gọi là “site Richelieu“). Năm 1988, Tổng-thống François Mitterrand (1916-1996) ra nghị định xây một thư-viện mới rộng lớn và hiện đại hơn, thuộc quận 13, (ngày nay gọi là “site Tolbiac” hay “site François Mitterrand“). Ngày 20/12/1996, thư-viện quốc-gia Pháp khánh thành và chính thức mở cửa cho dân chúng, trong khi “site Richelieu” chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Thư-viện quốc-gia Pháp là một thư viện quan trọng có tầm vóc quốc tế. (Xem bên dưới) dưới ký hiệu “QUARTO V 11476”, và lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia Hà-Nội dưới ký hiệu “M.10692”.

“Các trường Mỹ-thuật Đông-dương” gồm 41 trang, trình bày lịch sử hình thành và cấu trúc của 5 trường Mỹ-thuật tại Đông-dương (Hà-Nội, Phnom-Penh, Biên-Hòa, Gia-Định, Thủ-Dầu-Một). Riêng về trường Hà-Nội, sách còn đề cập đến vai trò của ban chấp hành cũng như nhiệm vụ của các giáo sư.

Tại trang 10, chúng ta đọc được
“…trường Mỹ-thuật Đông-dương hay trường Mỹ-thuật Hà-Nội được sáng lập bởi họa sĩ Victor Tardieu, trong thời kỳ ông Merlin là Toàn-quyền Đông-dương (nghị định ngày 27 tháng 10 năm 1924), ông Victor Tardieu hiện nay là Hiệu trưởng” (…l’Écoles des Beaux-Arts de l’Indochine ou École de Hanoi a été fondée par le peintre Victor Tardieu, – son directeur actuel, M. Merlin étant Gouverneur général de l’Indochine (arrêté du 27 octobre 1924))

Tại trang 16, chúng ta đọc được
“…Việc giảng dạy môn Đồ-họa và Trang-trí được phụ trách bởi một giáo sư chuyên ngành bậc 2, ông Nam-Sơn, là một trong hai người sáng lập trường Mỹ-thuật Đông-dương. Ông đã đạt được những thành quả lỗi lạc trong việc giáo dục đào tạo và đóng góp một phần rộng lớn trong việc phục hưng nền Mỹ-thuật truyền thống An-nam, cũng là học thuyết và hiến chương của toàn Trường ” (…L’enseignement du Dessin et des Arts Décoratifs est assuré par un professeur technique de 2è classe, M. Nam-Son, qui est un des deux fondateurs de l’École. Il a obtenu des résultats remarquables dans son enseignement et contribué pour une large part à la renaissance de l’Art Annamite traditionnel, qui est la doctrine, la charte de l’École tout entière.)

Ngoài tài liệu gọi là “bán chính thức” nói trên, chúng ta còn có rất nhiều những chứng nhân hay những tư liệu thuộc về “tinh thần”, tuy không chính thức nhưng phần giá trị và tầm mức quan trọng đôi khi còn hơn tài liệu chính thức. Hai gia đình Victor Tardieu và Nam-Sơn còn giữ rất nhiều những tư liệu, thư từ, và hiện nay, mối liên lạc giữa hai gia đình vẫn còn tiếp nối.

Trong một bức thư của Jean Tardieu, con trai Victor Tardieu, gửi cho Nguyễn thị Nguyệt-Minh, con gái của Nam-Sơn, viết ngày 23/04/1992, chúng ta đọc được :

“Biết bao nhiêu kỷ niệm trỗi dậy một cách bàng hoàng trong tâm tưởng khi ký ức của chúng ta hiện ra hình ảnh cha của bà và cha của tôi, đồng hợp tác với nhau, trong thời gian mà hội họa và văn hóa (việt-nam) là mối bận tâm trường kỳ dai dẵng của họ, và cũng là niềm vui của hai gia đình…” (Que de souvenirs bouleversants se lèvent dans notre pensée quand notre mémoire nous montre l’image de votre père et celle de mon père, associés, au temps où la peinture et la culture étaient leur constante préoccupation et pour la joie de leurs familles…)

Vai trò đồng sáng lập trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương của Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ xem ra đã rõ ràng. Những sự kiện lịch sử, dù muốn hay không, vẫn là những sự kiện không thể chối cãi. Là con dân đất Việt, chúng ta nên tự hào đã có một người Việt góp công lao vào việc xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà. Nên nhớ rằng dưới chế độ thực dân Pháp, việc đóng góp quan trọng của người An-Nam trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới không phải là điều dễ dàng được công nhận một cách chính thức. Họa sĩ Lương Xuân-Nhị đã từng viết thư cho chúng tôi
“…ta hiểu rằng dưới chế độ thuộc địa của thực dân, người Việt-Nam chúng ta chẳng có quyền hành gì !” [21]Thư Lương Xuân-Nhị viết ngày 23/11/1999.
(Xem bên dưới)

Nguyễn Trường Tộ trong “Tế cấp bát điều” (濟 急 八 條 , “Tám điều cứu vớt”), viết năm 1867 [22]Bản dịch của Trần Lê Hữu trong “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỉ XIX“, Đặng Huy Vận & Chương Thâu, nxb Giáo dục 1961. (Xem bên dưới), đã nhấn mạnh:
[…] Nước ta trên cũng có trời che, dưới cũng có đất chở […]. Nước ta cũng có tổ tiên mà sự tích còn lưu truyền lại […], cũng có việc đáng nêu lên, sao không truyền tụng những gương tốt đó cho người ta phấn khởi bắt chước […] ?

V. Kết luận


Qua khuôn khổ và giới hạn của một bài báo, chúng tôi không thể đi sâu hơn vào chi tiết. Chỉ xin được tóm lược rằng cuộc hành trình về phương đông của Victor Tardieu những tưởng chỉ trong vòng một năm theo học bổng của Giải-thưởng Đông-dương, ông đã ở lại đến cuối cuộc đời và sáng lập ra một nền móng nghệ thuật việt-nam hoàn toàn mới lạ. Trong suốt thời gian làm Hiệu trưởng, ông đã không ngừng nâng cao trình độ của sinh viên bằng cách dung hòa hai nền mỹ thuật Đông-Tây. Trường Mỹ-thuật Đông-dương đã bao lần bị áp lực của chính quyền thuộc địa hăm dọa đóng cửa, ông đã nhờ đến sự hỗ trợ và thế lực của nghị trưởng Phạm Huy-Lục [23]Con cháu cụ Phạm Huy-Lục tại Paris vẫn còn gìn giữ hai bức tranh lụa của sinh viên Lưu Đình-Khải, quà biếu của Victor Tardieu về sự can thiệp trên. (Xem bên dưới) để ngôi trường thân yêu ấy còn tồn tại. Sau một cơn bệnh viêm phế quản, Victor Tardieu từ trần tại Hà-nội ngày 12 tháng 6 năm 1937.

Về phần Nam-Sơn, không ngừng nổ lực tìm tòi, học hỏi, những tác phẩm phối hợp hài hòa hai phương pháp Đông-Tây của ông đã vang tiếng trong nhiều cuộc triển lãm vào các thập niên 30, 40 tại Pháp, Ý, Đức, Bỉ, Hoa-kỳ, Nhật-bản… Ông đã biết đến niềm vinh quang qua Huy chương Bạc tại Triển lãm Hội các Nghệ sĩ Pháp (Salon des Artistes Français) năm 1932 với tác phẩm sơn dầu “Chân dung mẹ tôi” (Gia từ cận tượng, 家 慈 近 像, Portrait de ma mère), Giải thưởng Mỹ thuật Rome năm 1932 với tranh khắc gỗ “Cò trắng cá vàng”… Một điều đáng lưu ý là tấm tranh mực nho “Chợ gạo bên hữu ngạn sông Hồng” (Hồng hà hữu ngạn mãi mại mễ xứ, 紅 河 右 岸 買 賣 米 處, Sur la rive droite du Fleuve Rouge où se vend et s’achète le riz) của Nam-Sơn là tấm tranh việt-nam đầu tiên đã được chính phủ Pháp quốc mua vào năm 1930. Ngoài ra, trong vai trò tiên phong, Nam-Sơn là người đã hình thành tấm tranh phấn tiên (pastel) “Chân dung cụ Sùng Ấm-Tường” vào năm 1927, và đi trước Nguyễn Phan-Chánh, tấm tranh lụa “Về chợ” của ông được hoàn thành vào năm 1927-1928. Đó là tấm tranh phấn tiên và tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam [24]Những tấm tranh lụa “Chơi ô ăn quan” và “Lên đồng” của Nguyễn Phan-Chánh, được vẽ vào năm 1931, đến nay vẫn được coi là những tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam. Điểm sai lầm này do ở các nhà chuyên môn không tìm hiểu cặn kẽ và không có đủ tài liệu chính xác ! (Xem bên dưới). Vào ngày 9/3/1945, sau cuộc đảo chánh Nhật, các giáo sư người Pháp của trường Mỹ-thuật đã bị bắt hoặc trở về Pháp. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất, trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương được điều khiển và hướng dẫn bởi một người Việt-nam, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ trở thành Quyền-Hiệu-trưởng. Cuối năm 1945, dưới thời Việt-Minh, khi trường Mỹ-thuật Đông-dương đóng cửa [25]Để sau đó mở cửa tại chiến khu Việt bắc dưới tên “Trường trung học Mỹ-thuật”, do họa sĩ Tô Ngọc-Vân làm hiệu trưởng.
(Xem bên dưới)
, vì đã làm việc với chính quyền Pháp nên tên tuổi của Nam-Sơn bị chìm vào lãng quên. Hiện nay, người ta chỉ nhắc đến Victor Tardieu như người duy nhất sáng lập ra trường Mỹ-thuật Đông-dương, không biết do vô tình hay cố ý, đã quên đi người đồng sáng lập là Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ. Lớp bụi thời gian đã phủ lên cuộc đời ông, dày đặc đến nỗi các nhà chuyên môn sau này hiếm có người được thưởng lãm các danh tác vang bóng một thời của ông. Cuối năm 1972, Bắc-Việt lầm than trong biển lửa ngút ngàn dưới hơn 36.000 tấn bom, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ ngã bệnh, từ trần trong khó khăn và quên lãng tại Hà-nội ngày 26 tháng 1 năm 1973. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, chỉ có một phân ưu, rất khiêm tốn, đăng trên một tờ báo. Thử hỏi khi ông qua đời, có mấy người còn nhớ tới ông?

Trên đây là một câu chuyện về hai cuộc đời. Câu chuyện này thuộc về văn hóa của nước Việt-nam, xin kể ra để mong trả lại lịch sử những gì thuộc về lịch sử, góp một phần tài liệu cho các nhà chuyên môn. Hơn nữa, chúng tôi còn nhận ra rằng đây là một bổn phận, vì nếu không sẽ có tội với đất nước tổ tiên, và kẻo lại một lần nữa bị Hàn-Dũ (韓 愈, Bá tước Xương-Lê, 768-824), chính trị gia đời Đường, vừa là thi nhân và nho gia danh tiếng, từ thế kỷ thứ VIII đã phê bình và khẳng định rằng:

“Việt tục bất hiếu cổ, lưu truyền thất kỳ chân”.
( 鉞 俗 不 好 古, 流 傳 失 其 眞 )

Xin tạm dịch là
Người đất nước Việt không biết ưa chuộng quá khứ nên khó có thể tìm thấy được một lịch sử trung thực.



Ngô Kim-Khôi
(Thành phố hoa Xoan, 2.2000, cập nhật 5.2008)

——–

Thư mục và tài liệu tham khảo:


  1. – Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai trí, Thượng-Chi (Phạm Quỳnh), Nam-Phong tạp chí, số 78, 12/1923, trang 501-502.

  2. – La peinture chinoise. Technique et symbolisme. Manière spéciale des Chinois d’interpréter la Nature, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ, Nam-Phong tạp chí, số 144, 11/1929, phụ trang tiếng Pháp, trang 33-42.

  3. – La peinture chinoise, Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ, Đông-kinh ấn quán, nhà xuất bản Lê văn Phúc, Hà-nội 1930.

  4. – L’École des Beaux Arts d’Hanoi, khuyết danh, Illustration tạp chí, số 4522, 2/11/1929, trang 513.

  5. – L’École des Beaux Arts d’Hanoi, Jean Gallotti, Illustration tạp chí, số 4608, 27/06/1931.

  6. – L’Indochine : Un lieu d’Échange Culturel ? Les peintres français et indochinois, Nadine André Pallois, École Français d’Extrême Orient, Paris 1997.

  7. – Les Écoles d’Art de l’Indochine, nha Học-chính, Toàn-quyền Đông-dương, Hà-nội 1937.

  8. – Rénovation de l’art vietnamien, A. N. Beun, Đông-Tây tạp chí (Orient-Occident), số 5, 11/1952, trang 74-88.

  9. – Souverains et Notabilités d’Indochine, Toàn-quyền Đông-dương, I.D.E.O., Hà-nội 1943.

  10. – Tạp chí Extrême Asie, số 12, tháng 6/1927, trang 495.

  11. – Théâtre du Garde Chasse, Tòa Thị chính Thị xã Les Lilas, 1994.

  12. – Tìm hiểu tạp chí Nam-Phong (Introduction au Nam-Phong), Phạm thị Ngoạn, Bulletin de la Société des Études Indochinoises, số 2 3, 2e và 3e tam cá nguyệt, Sài-gòn 1973.

  13. – Trois écoles d’Art de l’Indochine, nha Học-chính, Toàn-quyền Đông-dương, Hà-nội 1931.


  1. [1] Tấm vitrail này đã bị chiến tranh tiêu hủy vào năm 1940, nhưng những bản mẫu (études) hiện nay vẫn còn lưu giữ tại viện Bảo tàng Dunkerque.

  2. [2] Hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Rennes.

  3. [3] Là con gái nhà soạn nhạc nổi tiếng Alexandre Clément Luigini (sinh tại Lyon năm 1850), bà đã đoạt giải nhất tại Nhạc viện Lyon qua tiếng đàn Hạc-cầm (harpe). Bà còn có người em trai là họa sĩ Ferdinand Luigini. Trong gia đình, bà được gọi một cách thân ái là “Caline” (dịu dàng).

  4. [4] Tất cả những sơn dầu kể trên hiện đang trưng bày tại viện Bảo tàng Lyon.

  5. [5] Vào đầu thế kỷ 20 chưa có l’Ile de France.

  6. [6] Phòng Lễ Hội của Hội-đồng Thị-xã Les Lilas được xây cất vào đầu thế kỷ thứ XIX (1903 1907) dưới bản vẽ của kiến trúc sư Bévière. Năm 1994, phòng Lễ Hội đã được hoàn toàn chỉnh trang và trở thành Kịch viện Garde Chasse, đồng thời cũng là môt phòng chiếu bóng. Khi có dịp, chúng tôi sẽ viết một cách rõ ràng hơn về tấm bích họa này của Victor Tardieu, nhưng quý bạn độc giả nếu có điều kiện đến Lilas (Métro Mairie des Lilas) cũng nên dừng bước ghé thăm.

  7. [7] Nghị định lập Giải thưỏng Đông-dương do Toàn quyền Antony Wladislas Klobukowski ký năm 1910, do “Hội Thuộc-địa Nghệ-sĩ Pháp” (Société Coloniale des Artistes français) đề xướng với ý định phát khởi nghệ thuật phương Tây tại Đông-dương. Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinant Olivier (1873-1956) và cuối cùng là Louis Bâte (1898-1948).

  8. [8] Nguyễn Duy Thời (Thì) đỗ Hoàng giáp triều Lê Thế Tông, từng đi sứ sang nhà Minh, làm quan đến chức Hộ Bộ Thượng thư kiêm Chưởng lục bộ sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công (grand Duc), khi mất được truy phong Thái tể. Tác phẩm hiện còn trong Toàn Việt thi lục.

    Con trai ông, Nguyễn Duy Hiểu, đỗ Hoàng giáp triều Lê Thần Tông, làm quan đến chức Thiêm đô ngự sử, từng đi sứ sang nhà Minh, mất trên đường đi và được truy phong Hình bộ tả Thị lang, tước Hầu (Marquis).

  9. [9] Những công lao khó nhọc và tấm lòng hy sinh vô bờ bến như nước trong nguồn chảy ra ấy của cụ Nguyễn thị Lân sau này thấu đến triều đình, vào năm 1927, cụ được vua Bảo Đại ngự ban một Kim khánh khắc bốn chữ ” 節 行 可 封 ” (Tiết hạnh khả phong). Vào đầu thập niên 40, một bức tượng bán thân của cụ đã được hình thành bởi điêu khắc gia Vũ văn Thu (nhạc phụ của họa sĩ Tạ-Tỵ), bức tượng này hiện để trên bàn thờ gia tiên của gia đình Nam-Sơn tại đường Nguyễn Du, Hà-nội.

  10. [10] 芥 子 園 畫 傳, Le jardin aussi gros qu’une graine de moutarde, là một bộ cẩm nang bách khoa về hội họa cổ điển trung hoa, của họa sĩ đồng thời là một văn sĩ danh tiếng đời Khanh-Hy : Lý Ngư (1611 1679). Sở dĩ sách có tên như vậy là vì đã được khởi thảo sau một cuộc luận đàm về hội họa giữa Lý Ngư và Trần Tâm-Hữu trong khu vườn Giới-Tử của Trần Tâm-Hữu ở Nam Kinh. Nhờ có sự cộng tác của Trần Tâm-Hữu và nhất là của Vương An-Tiết (tự Lộc-Sài), cuốn sách này đã ra đời vào năm 1679 và tái bản với nhiều bổ túc vào năm 1701. Sách gồm có những tài liệu di lại của Lý Trường-Hành (1575 1629), tổ tiên của Lý Ngư, một bài tiểu dẫn của Lý Ngư, những mục về cây, về đá, về nhân vật và 130 bản in những cổ họa và mẫu vẽ.

  11. [11] Trường Amiral Courbet, gọi môn na là trường Hàng Vôi, sau là trường Nguyễn Du.

  12. [12] Đại-úy Lục-binh thuộc địa, tác giả quyển “Les Jauniers, histoire vrais“, xuất bản năm 1930. Thời đó, chính quyền thuộc địa chỉ chấp nhận những sinh hoạt có tính cách chính trị hay tôn giáo, từ chối cấp kinh phí cho những hoạt động văn hóa xã hội nên việc thành lập Hội-quán Sinh-viên An-nam đã gặp rất nhiều cản trở. Cuối cùng Paul Monet đã xin được kinh phí từ Hoa-Kỳ !

    Tác giả Nguyên Hương – Nguyễn Cúc, trong bài viết “Họa sư Nguyễn Khoa Toàn“, (Định Hướng số 51, Mùa Xuân 2008, tr. 56, đã ghi nhầm là Jean Mounet.

  13. [13] Trưởng phòng chính trị tại phủ Toàn quyền Pháp (Directeur des Affaires Politiques au Gouvernement Général), còn là người đồng sáng lập Nam-Phong tạp chí cùng với Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá-Trác.

  14. [14] Dựa theo một câu trong Thánh-kinh “il y a beaucoup d’appelés et peu d’élus” (Phúc-Âm, Mathieu 22:14).

  15. [15] Hồ sơ lưu số 372, hộp số 42, Trung-tâm Lưu-trữ Quốc-gia I Hà-nội. Công trình này của Victor Tardieu được hoàn tất vào những năm 1925-1927. Những bích họa nói trên đã hoàn toàn bị bôi xóa vì con người và chiến tranh. Sau này, vào ngày 15/3/2006, một phần của bích họa đã được phục dựng bởi họa sĩ Hoàng Hưng cùng một nhóm họa sĩ. Victor Tardieu dùng 6 năm để hoàn thành bích họa, nhóm họa sĩ Hoàng Hưng chỉ có 3 đến 4 tháng để phục dựng, về chính xác và giá trị nghệ thuật, xin nhường sự đánh giá cho các nhà chuyên môn !!!

  16. [16] Vào thời ấy, tranh sơn dầu rất xa lạ với người Việt chúng ta vì sơn dầu chỉ chủ yếu dùng trong việc sản xuất đồ sơn như tủ, hộp, tráp, bao gươm, tượng, hoành phi, câu đối, bình phong…

  17. [17] Hội Khai-trí Tiến-đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) được thành lập ngày 2 tháng 5 năm 1919 với chủ tịch là Tổng đốc Hoàng Trọng-Phu, phó chủ tịch Bùi Đình-Tá, tổng thư ký Phạm Quỳnh.

  18. [18] Trước Nam-Sơn, chúng ta có thể nhận ra rằng những tranh sơn dầu đầu tiên xuất hiện tại Đông-dương là tác phẩm của một họa sĩ người Huế, Lê Huy-Miến (1873 1943), sinh tại Nghệ-an. Ông được triều đình An-nam và chính quyền bảo hộ gửi sang Paris năm 1892 để theo học trường Thuộc-địa. Ông vào trường Mỹ-thuật Paris trong xưởng họa Jean-Léon Gérôme, họa sĩ có khuynh hướng đông phương (orientalisme, xuất hiện trong bước đi của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XIX). Đó là những tấm tranh “Chân dung cụ Tú mền” (49x60cm, 1896), “Bình văn” (68x97cm, 1898).

  19. [19] Exposition Internationale des Arts et Techniques Paris 1937, Section Coloniale, Indochine Français, Gouvernement Général de l’Indochine, “Les Écoles d’Art de l’Indochine“, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1937.

  20. [20] Thư-viện quốc-gia Pháp khởi nguyên thuộc hoàng gia (triều vua Charles V, 1338-1380), đặt tại cung điện Louvre. Sau đó thư-viện dời về Blois thuộc vùng Fontainebleau, đến 1568 lại trở về Paris. Dưới triều Louis XIV, thư-viện được khai triển và mở cửa cho quần chúng. Sau nhiều lần dời chỗ đổi tên theo thăng trầm lịch sử Pháp, vào năm 1720, thư-viện cố định tại đường Richelieu (ngày nay gọi là “site Richelieu“). Năm 1988, Tổng-thống François Mitterrand (1916-1996) ra nghị định xây một thư-viện mới rộng lớn và hiện đại hơn, thuộc quận 13, (ngày nay gọi là “site Tolbiac” hay “site François Mitterrand“). Ngày 20/12/1996, thư-viện quốc-gia Pháp khánh thành và chính thức mở cửa cho dân chúng, trong khi “site Richelieu” chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Thư-viện quốc-gia Pháp là một thư viện quan trọng có tầm vóc quốc tế.

  21. [21] Thư Lương Xuân-Nhị viết ngày 23/11/1999.

  22. [22] Bản dịch của Trần Lê Hữu trong “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỉ XIX“, Đặng Huy Vận & Chương Thâu, nxb Giáo dục 1961.

  23. [23] Con cháu cụ Phạm Huy-Lục tại Paris vẫn còn gìn giữ hai bức tranh lụa của sinh viên Lưu Đình-Khải, quà biếu của Victor Tardieu về sự can thiệp trên.

  24. [24] Những tấm tranh lụa “Chơi ô ăn quan” và “Lên đồng” của Nguyễn Phan-Chánh, được vẽ vào năm 1931, đến nay vẫn được coi là những tranh lụa đầu tiên của nước Việt-nam. Điểm sai lầm này do ở các nhà chuyên môn không tìm hiểu cặn kẽ và không có đủ tài liệu chính xác !

  25. [25] Để sau đó mở cửa tại chiến khu Việt bắc dưới tên “Trường trung học Mỹ-thuật”, do họa sĩ Tô Ngọc-Vân làm hiệu trưởng.


Nguồn:
  1. 1. Saigon Antique >> KHẢO CỨU >> CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG CỦA VICTOR TARDIEU VÀ VAI TRÒ CỦA NAM-SƠN -

  2. 2. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (1925-1945) (L’école des Beaux-Arts de l’Indochine) - FB Nguyễn Hưng - 18 Tháng 4, 2012 lúc 14:49
  3. 2. Trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-dương (1925-1945) (L’école des Beaux-Arts de l’Indochine) - Tạp chí văn chương Da Màu - 23.05.2009




Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

Một bức tranh nghi là của danh họa Tô Ngọc Vân

Một bức tranh nghi là của danh họa Tô Ngọc Vân

Theo CAND

Một bức tranh cũ, tên tác giả đã bị mất do cắt xén phần mép tranh bị sờn rách mà các chủ sở hữu (hiện sống tại thành ) cho rằng của Tô Ngọc Vân. Nghe nói bức tranh ấy được một người nước ngoài đến ra giá 100.000 USD nếu là tranh của Tô Ngọc Vân.




Chiều 4/6, tôi đến thăm họa sĩ Tô Ngọc Thành để kiếm tìm tư liệu về danh họa Tô Ngọc Vân đặng kịp viết bài nhân kỷ niệm 55 năm Ngày nhà danh họa hy sinh trên đèo Lũng Lô mùa hè năm 1954. Trong câu chuyện, họa sĩ Tô Ngọc Thành, người con thứ đồng thời là người duy nhất theo nghiệp cha cho biết vừa có một người ở Nam Định tên là Trần Trung Kỳ viết thư gửi chuyển phát nhanh đến nhờ tôi thẩm định hộ bạn anh ấy là Lưu Khải Hưng bức tranh hiện đang là vật sở hữu vô giá của gia đình.

Nói rồi anh Thành cho tôi xem bức ảnh chụp tác phẩm bằng chất liệu sơn dầu. Bức họa đã cũ, hoen ố nhiều chỗ mô tả một ngôi chùa Khmer, giữa bức ảnh chỉ có một nhà sư, đứng trước ngôi chùa cổ, sau chùa có tháp mộ. Vì đã tồn tại trên 70 năm nên bức vẽ đã bị hư hỏng một phần. Đặc biệt phần tên tác giả hiện đã bị cắt xén do tranh bị sờn mép, mối mọt xâm thực. Kèm theo ảnh bức họa là lá thư.

Bức thư viết:
NĐ ngày 3-6-2009.

Anh Tô Ngọc Thành thân mến

Anh Lưu Khải Hưng ở 180C Hoàng Văn Thụ, TP Nam Định đang sở hữu một bức tranh phong cảnh chất liệu sơn dầu, khuôn khổ hiện tại 40x37cm đã bị tháo khỏi khung vải và xén bớt mỗi chiều vài phân do mép tranh sờn rách.

Đây là bức sơn dầu vẽ cảnh một ngôi chùa ở Campuchia. Theo lời anh Hưng, đây là bức họa do bố anh Hưng để lại. Bố anh Hưng tên là Lưu Thanh Ngẫu, một nhà tư sản Hoa kiều sống ở Hà Nội và mua bức tranh này năm 1938 ở nhà đấu xảo Hà Nội.

Anh Hưng nói là chữ ký trên tranh là của Tô Ngọc Vân, nay chữ ký không còn nữa, vì thế anh Hưng muốn nhờ anh thẩm định đây có phải là bức tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân hay không.

Theo tôi nhận định đây là bức tranh của một trong hai họa sĩ Trường CĐMT Đông Dương Tô Ngọc Vân hoặc Trần Bình Lộc, vì: Một là, khuynh hướng trở về với thực tại nên thơ khá rõ. Hai là, lối vẽ tinh giản chú trọng giải quyết toàn bộ hơn là chi tiết. Ba là, màu sắc nhẹ nhàng tinh tế. Bốn là, chỉ có ông Vân và ông Lộc đi Campuchia sáng tác.

Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng đây có thể là sáng tác của Tô Ngọc Vân thời kỳ ông ở Nông Pênh do bút pháp và màu sắc có thể nhận ra gần gũi với các tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân còn lại mà tôi đã được xem. Đáp án cuối cùng và có trọng lượng là ý kiến của anh. Những điều tôi nói ra ở trên cũng chỉ để bày tỏ ý kiến riêng.

Nếu quả thật đây là "đứa con tinh thần" lưu lạc của cụ Vân nay tìm lại được thì sẽ là điều rất thú vị, biết đâu chẳng là cuộc hạnh ngộ lớn. Còn nếu không phải, anh và gia đình hãy thể tất cho sự mạo muội của tôi. Tôi gửi kèm theo bức thư này là bức ảnh chụp lại bức tranh đã mô tả ở trên. Chờ hồi âm của anh thì anh Hưng, người chủ sở hữu bức tranh sẽ mang bản chính lên Hà Nội cho anh xem. Nhờ anh xác minh tác giả họa phẩm này là ai…

Theo họa sĩ Tô Ngọc Thành, đúng là có thời gian khoảng năm 1935 họa sĩ Tô Ngọc Vân từng sang Campuchia. Cụ sang đấy để đi thực tế sáng tác, từng gặp cựu hoàng Bảo Đại hay gặp Xihanúc, rồi từng tham gia dạy vẽ ở Trường Mỹ thuật Xihanúc… Bức vẽ đúng là tả cảnh chùa Khmer, nhưng không biết là chùa nào, có phải là chùa ở Campuchia như lá thư nhắc đến. Tên tác giả đã không còn. Phong cách hội họa hay bút pháp tả chân.

Bây giờ để giám định bức vẽ có phải là tác phẩm của Tô Ngọc Vân hay không, vẽ vào năm nào và tham gia đấu xảo ở Hà Nội năm nào thật không dễ. Không thể khẳng định đây là bức vẽ của ai, khi bút pháp mỗi người có thay đổi theo thời gian. Lại còn nhân chứng. Cuộc đấu xảo năm 1938 ấy Tô Ngọc Vân đem triển lãm mấy bức, gồm những bức nào… Đó là một câu hỏi cần giải đáp để làm cơ sở tìm lại lai lịch bức tranh trên.

Nghe nói bức tranh ấy được một người nước ngoài đến ra giá 100.000 USD nhưng với một điều kiện kèm theo là phải xác minh đúng Tô Ngọc Vân là tác giả và cung cấp xuất xứ bức vẽ.

Quả thực là nếu bức vẽ kia đúng là của tác giả Tô Ngọc Vân thì đây lại là một kiệt tác nữa mới tìm thấy của ông. Điều đáng tiếc là bức họa nay đã bị hoen ố nhiều chỗ. Tên tác giả cũng đã bị mất do cắt xén phần mép tranh bị sờn rách, thành thử giá trị tác phẩm thật khó lòng định đoạt.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành cho biết, để khẳng định tác giả bức tranh thì rất khó. Bức vẽ đã hư hỏng nặng, đặc biệt phần tên tác giả đã bị mất, nên khó có thể đưa ra bất kỳ kết luận nào, dù có thể phong cách tác phẩm gần gũi với cách vẽ, màu sắc hay cả cách vẽ màu, cách tổ chức vải vẽ v.v…

Theo CAND


Một bức tranh nghi là của danh họa Tô Ngọc Vân

Theo CAND

Một bức tranh cũ, tên tác giả đã bị mất do cắt xén phần mép tranh bị sờn rách mà các chủ sở hữu (hiện sống tại thành ) cho rằng của Tô Ngọc Vân. Nghe nói bức tranh ấy được một người nước ngoài đến ra giá 100.000 USD nếu là tranh của Tô Ngọc Vân.




Chiều 4/6, tôi đến thăm họa sĩ Tô Ngọc Thành để kiếm tìm tư liệu về danh họa Tô Ngọc Vân đặng kịp viết bài nhân kỷ niệm 55 năm Ngày nhà danh họa hy sinh trên đèo Lũng Lô mùa hè năm 1954. Trong câu chuyện, họa sĩ Tô Ngọc Thành, người con thứ đồng thời là người duy nhất theo nghiệp cha cho biết vừa có một người ở Nam Định tên là Trần Trung Kỳ viết thư gửi chuyển phát nhanh đến nhờ tôi thẩm định hộ bạn anh ấy là Lưu Khải Hưng bức tranh hiện đang là vật sở hữu vô giá của gia đình.

Nói rồi anh Thành cho tôi xem bức ảnh chụp tác phẩm bằng chất liệu sơn dầu. Bức họa đã cũ, hoen ố nhiều chỗ mô tả một ngôi chùa Khmer, giữa bức ảnh chỉ có một nhà sư, đứng trước ngôi chùa cổ, sau chùa có tháp mộ. Vì đã tồn tại trên 70 năm nên bức vẽ đã bị hư hỏng một phần. Đặc biệt phần tên tác giả hiện đã bị cắt xén do tranh bị sờn mép, mối mọt xâm thực. Kèm theo ảnh bức họa là lá thư.

Bức thư viết:
NĐ ngày 3-6-2009.

Anh Tô Ngọc Thành thân mến

Anh Lưu Khải Hưng ở 180C Hoàng Văn Thụ, TP Nam Định đang sở hữu một bức tranh phong cảnh chất liệu sơn dầu, khuôn khổ hiện tại 40x37cm đã bị tháo khỏi khung vải và xén bớt mỗi chiều vài phân do mép tranh sờn rách.

Đây là bức sơn dầu vẽ cảnh một ngôi chùa ở Campuchia. Theo lời anh Hưng, đây là bức họa do bố anh Hưng để lại. Bố anh Hưng tên là Lưu Thanh Ngẫu, một nhà tư sản Hoa kiều sống ở Hà Nội và mua bức tranh này năm 1938 ở nhà đấu xảo Hà Nội.

Anh Hưng nói là chữ ký trên tranh là của Tô Ngọc Vân, nay chữ ký không còn nữa, vì thế anh Hưng muốn nhờ anh thẩm định đây có phải là bức tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân hay không.

Theo tôi nhận định đây là bức tranh của một trong hai họa sĩ Trường CĐMT Đông Dương Tô Ngọc Vân hoặc Trần Bình Lộc, vì: Một là, khuynh hướng trở về với thực tại nên thơ khá rõ. Hai là, lối vẽ tinh giản chú trọng giải quyết toàn bộ hơn là chi tiết. Ba là, màu sắc nhẹ nhàng tinh tế. Bốn là, chỉ có ông Vân và ông Lộc đi Campuchia sáng tác.

Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng đây có thể là sáng tác của Tô Ngọc Vân thời kỳ ông ở Nông Pênh do bút pháp và màu sắc có thể nhận ra gần gũi với các tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân còn lại mà tôi đã được xem. Đáp án cuối cùng và có trọng lượng là ý kiến của anh. Những điều tôi nói ra ở trên cũng chỉ để bày tỏ ý kiến riêng.

Nếu quả thật đây là "đứa con tinh thần" lưu lạc của cụ Vân nay tìm lại được thì sẽ là điều rất thú vị, biết đâu chẳng là cuộc hạnh ngộ lớn. Còn nếu không phải, anh và gia đình hãy thể tất cho sự mạo muội của tôi. Tôi gửi kèm theo bức thư này là bức ảnh chụp lại bức tranh đã mô tả ở trên. Chờ hồi âm của anh thì anh Hưng, người chủ sở hữu bức tranh sẽ mang bản chính lên Hà Nội cho anh xem. Nhờ anh xác minh tác giả họa phẩm này là ai…

Theo họa sĩ Tô Ngọc Thành, đúng là có thời gian khoảng năm 1935 họa sĩ Tô Ngọc Vân từng sang Campuchia. Cụ sang đấy để đi thực tế sáng tác, từng gặp cựu hoàng Bảo Đại hay gặp Xihanúc, rồi từng tham gia dạy vẽ ở Trường Mỹ thuật Xihanúc… Bức vẽ đúng là tả cảnh chùa Khmer, nhưng không biết là chùa nào, có phải là chùa ở Campuchia như lá thư nhắc đến. Tên tác giả đã không còn. Phong cách hội họa hay bút pháp tả chân.

Bây giờ để giám định bức vẽ có phải là tác phẩm của Tô Ngọc Vân hay không, vẽ vào năm nào và tham gia đấu xảo ở Hà Nội năm nào thật không dễ. Không thể khẳng định đây là bức vẽ của ai, khi bút pháp mỗi người có thay đổi theo thời gian. Lại còn nhân chứng. Cuộc đấu xảo năm 1938 ấy Tô Ngọc Vân đem triển lãm mấy bức, gồm những bức nào… Đó là một câu hỏi cần giải đáp để làm cơ sở tìm lại lai lịch bức tranh trên.

Nghe nói bức tranh ấy được một người nước ngoài đến ra giá 100.000 USD nhưng với một điều kiện kèm theo là phải xác minh đúng Tô Ngọc Vân là tác giả và cung cấp xuất xứ bức vẽ.

Quả thực là nếu bức vẽ kia đúng là của tác giả Tô Ngọc Vân thì đây lại là một kiệt tác nữa mới tìm thấy của ông. Điều đáng tiếc là bức họa nay đã bị hoen ố nhiều chỗ. Tên tác giả cũng đã bị mất do cắt xén phần mép tranh bị sờn rách, thành thử giá trị tác phẩm thật khó lòng định đoạt.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành cho biết, để khẳng định tác giả bức tranh thì rất khó. Bức vẽ đã hư hỏng nặng, đặc biệt phần tên tác giả đã bị mất, nên khó có thể đưa ra bất kỳ kết luận nào, dù có thể phong cách tác phẩm gần gũi với cách vẽ, màu sắc hay cả cách vẽ màu, cách tổ chức vải vẽ v.v…

Theo CAND