Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

Trường Mỹ thuật Kháng chiến qua một số trang nhật ký của Linh Chi

Trường Mỹ thuật Kháng chiến qua một số trang nhật ký của Linh Chi

Tư liệu của Ngô Mạnh Lân

25/10/1951:
Anh Vân (Tô Ngọc Vân-TCMT) đang vẽ bức tranh lụa “Bộ đội hành quân qua suối” và tranh cổ động tố cáo tội ác của giặc Pháp “Giặc giết”… bằng chì than. Anh để hết tâm trí làm bức tranh lụa này. Một bản hòa tấu màu xanh đang được phác lên: bộ đội hành quân qua suối trong rừng nứa. Tài liệu đầy đủ, cảm hứng súc tích, anh Vân vẽ tranh một cách ung dung, vừa vẽ vừa ngâm thơ se sẽ… (Kiều hay Chinh phụ ngâm?)…
1/11/1951:
Sương rơi nặng trong vườn chuối. Trời mù mịt lạnh cho tới 9 giờ sáng. Buổi trưa nắng to, tôi đi vẽ ký họa người gánh lúa trong cánh đồng rực vàng mùi cơm nếp mới. Những cô thợ gặt, lẳn người trong màu áo nâu cũ, giơ tay dọa: Không được vẽ em vào tranh đấy!
3/11/1951:
Vẫn tìm phác thảo. Anh Cẩn (Trần Văn Cẩn- TCMT) sang buồng vẽ lấy phấn màu của tôi phác lên những người gánh lúa, rất lực lưỡng, rất Việt Nam. Phấn màu trên giấy dó thôi mà đã hứa hẹn thành một tranh mộc bản tuyệt vời…
19/11/1951:
Mấy hôm nay nắng đã phai màu, trời không xanh nữa, mây giăng màu bạc xám của những ngày cuối thu trong lặng. Vừa vẽ vừa nhìn ra sân phơi thóc, nhìn dãy tường hoa rêu phủ, có bóng những cây cam đầy quả chín, ánh sáng long lanh trên vòm lá xanh đậm. Vẽ bà chủ nhà ngồi dệt chiếu sẹ. Mùi sẹ thơm như mùi gừng muối ô mai. […] Sĩ Tốt làm đạn, bắn được một con chim gáy, một cò hương bày ra vẽ tĩnh vật, chiều mới làm thịt. Buổi trưa tôi vẽ gò vầu, Sĩ Tốt lại bắn thêm một gõ kiến, một chim gâu nữa. Tối nay sẽ có món ăn tươi.

Linh Chi qua nét bút của Bùi Xuân Phái, Hà Nội, 1960.


Tháng 3/1952:
Đã về đến Thái Nguyên, trước khi xuống xã, anh em văn nghệ được nghe báo cáo qua về phong trào trong tỉnh, họp với cán bộ tuyên huấn tỉnh, các cụ đại biểu Liên Việt, đại biểu thanh niên, phụ nữ…
17/3/1952:
Buổi sáng nghĩ mẫu Huân chương Hồ Chí Minh. Anh Vân đi họp với các đồng chí Trung ương. Anh có vẽ Bác Hồ. Một số chân dung bằng chì than. Một bức có màu: Bác mặc áo blouson cổ lông, đang nói trên diễn đàn, tay chống trên mặt bàn phủ vải đỏ. Chúng tôi theo tài liệu ấy phác mẫu huân chương. […] Anh Vân vẽ bức tranh “Cày đồi” bằng thuốc nước và chì than. Tranh nhỏ nhưng anh vẽ rất cẩn thận để lúc nào có điều kiện sẽ thể hiện bằng sơn dầu lớn hơn. Anh cũng vẽ ký họa những cô nông dân cấy lúa bằng chì than. Vẽ xong về nhà, anh chọn những hình ưng ý nhất, găng to lên, lấy kéo cắt riêng ra ba cô thợ cấy. Anh xếp đặt mấy hình vẽ đó trên một tờ giấy, tìm bố cục cho bức tranh theo hình thức tranh lụa kakemomo Nhật Bản. Tôi đứng xem anh làm việc, học tập cái thận trọng, nghiêm túc trong sáng tác.
20/3/1952:
Máy bay Doongke của Pháp lượn quanh vùng, khu trục bắn ở xa. Khi 6 máy bay B26 lên thả bom thị xã, anh Vân ra hầm cá nhân ở sau nhà chúng tôi. Bỏ bom hai lượt rồi cả lũ B26 chúi bắn vào đám khói đen mù ở thị xã. Buổi chiều, trong xóm chúng tôi ở, cách thị xã chừng 50 mét có tin 2 người chết: bà Ký Yến 45 tuổi, cô Chính 17 tuổi, đi mua sắm về đến cầu Gia Bảy thì bị bom. Nhà bà Ký ở kế bên nhà tôi và anh Tỵ (Nguyễn Văn Tỵ- TCMT) ở. Tiếng cô Khang khóc mẹ làm chúng tôi tê tái trong lòng…
26/3/1952:
Đi công tác dưới xóm, chúng tôi ở nhà cụ Sỹ. Anh Vân đại diện anh em, vẽ biếu cụ chủ nhà một bức chân dung bằng chì than và sanguine. Buổi tối, uống nước hút thuốc, anh Vân nói về sáng tác… Lúc ấy đã hơn 10 giờ đêm. Anh Vân nói: Những buổi uống nước nói chuyện như thế này về là không ngủ được. Nếu có atelier như ngày xưa là về bật đèn lên vẽ. Trí (Nguyễn Gia Trí) nó thích làm như thế lắm. Đi chơi với anh em xong, hắn về làm việc đến 4,5 giờ sáng mới ngủ…
Tôi hỏi anh một câu định hỏi từ lâu: Bây giờ anh thấy phụ nữ trong kháng chiến, anh còn thích vẽ không?
- Có! Như cô giáo hôm nọ là có thể vẽ được. Cả mấy cô ở Yên Bình nữa…

Tôi lại hỏi: Trong các tranh sơn dầu anh đã vẽ, anh ưng ý bức nào nhất?
Anh Vân không lưỡng lự: Bức nu assis có cerné trait (bức khỏa thân ngồi có viền nét).
Vẽ phụ nữ thì có nhiều họa sĩ vẽ, riêng tranh của anh Vân có một sức hấp dẫn khác hẳn các họa sĩ khác. Tranh của anh đằm thắm một cách trí tuệ, hấp dẫn vì tranh đẹp chứ không phải vì người đẹp trong tranh. Anh Vân lại nói: Nếu sau này tôi có vẽ phụ nữ Hà Nội, tôi sẽ vẽ khác, không vẽ như xưa nữa…
Anh nhắc đến tranh của Derain, Vlaminck, Van Dongen… Nói đến tranh lụa Á Đông, anh Vân nhắc đến tranh cổ Trung Quốc, của mặc hội Nhật Bản. Tranh Á Đông thanh tao, tranh Âu châu vật chất. Nhắc đến tranh lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, có một lần tôi nghe anh Cẩn nói bức nào của Phan Chánh cũng là một bố cục hoàn chỉnh, một bức hội họa, một peinture sur soie, chứ không phải một aquarelle sur soie. Anh Vân cũng thích tranh lụa của Phan Chánh…
Đi vẽ cảnh ở Lăng Quán, Tuyên Quang (Ngô Mạnh Lân và Thục Phi), 1952. Ký họa của Lê Lam.


14/4/1952:
Máy bay địch luôn luôn bay quanh thị xã. B26 bỏ bom xuống phía Phúc Thuận, Phúc Trìu. Đứng bên hầm cá nhân phía bờ tre, đang ôm cặp vẽ tôi ném xuống đất để vỗ tay: một máy bay Hen-cát của địch trúng đạn!
Buổi tối, đi chợ với anh Vân tìm mua mực bút máy Parker đen ở từng hàng xén trong thị xã Thái Nguyên. Của hiếm, rất cần để vẽ ký họa. Tìm được, mỗi người mua một lọ, sung sướng hơn trúng xổ số! Nhất là lại mua thêm được một thếp giấy chưa kẻ. Ban ngày, nhân dân chạy máy bay hàng chục lần, nhưng đến đêm chợ kháng chiến vẫn họp đều, đèn dầu hỏa như sao sa, người mua bán toàn cán bộ, bộ đội…
10 giờ rưỡi đêm, vào hàng cà-phê Vỹ uống mỗi người một tách rồi mới thắp đèn bão quay về xóm. Theo lối chân núi Kô-kê, qua những mảnh ruộng ngô, ruộng lúa, về ngôi nhà tranh của bà chủ nhà, một nông dân nghèo. Bỗng có con chồn màu lông nhạt, thấy ánh đèn đứng lại mắt xanh như ngọc bích. Một mùi thơm như hương phấn thoảng qua. Tôi chưa đi ngủ vội, theo anh Vân cùng các bạn nói chuyện tới 12 giờ đêm mới về đi ngủ. Một buổi tối đầy bổ ích, đó là câu chuyện về tình cảm trong tranh, tranh là người… Riêng trong hội họa, kỹ thuật thể hiện cũng là cá tính.
28/4/1952:
Anh Vân nói chuyện ngày hàn vi. Bao nhiêu vui buồn, đau khổ, bao nhiêu hy vọng, nghị lực để đi tới thành công sau này… Nhắc đến một phụ bản báo Xuân của anh vẽ, anh Vân kể lại: Năm ấy, một tờ báo tuần nhờ anh vẽ phụ bản, anh vẽ ba thiếu nữ trên nền đỏ. Lúc đưa nhà in Taupin, thằng Tây làm bản kẽm đã tự tiện chữa cho một cô ngực nở hơn. Anh Vân bắt chữa lại cho đúng nguyên bản. Thằng Tây không nghe, cho như thế đẹp hơn. Anh Vân to tiếng mắng cho nó một trận, rồi không chịu ký bông “đồng ý in”. Năm ấy, báo thiếu phụ bản, và họa sĩ hụt món tiền nhuận bút tiêu Tết!…
Các thầy Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang ở Yên Phú, Yên Bái, 1950. Ký họa của Lê Lam.


17/8/1953:
12 giờ trưa, đi xuống xã với anh Vân… Lúc đèo ba-lô đi trên đường son đỏ đầy nắng của đồi chè Phú Thọ gần Thanh Cù, anh Vân bảo tôi: Anh Linh Chi ạ, chúng ta có cái nghề thật tốt đẹp! Anh có thấy cái bóng tôi và anh in trên đường hoàn toàn không phải là màu đen mà là một màu tím rất đẹp, rất rực rỡ bên cạnh màu hoa hiên đỏ chói lòa của ánh nắng không?
Tôi hỏi anh: Anh có ghét lối vẽ Beaux-Arts không?
Tôi tưởng anh sẽ khó trả lời, vì bản thân anh xuất thân ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cũ, mà gọi tắt là Beaux-Arts. Anh trả lời dứt khoát: Tôi rất ghét. Chỉ có ART (nghệ thuật) thôi, làm gì có Beaux-Arts!…
20/10/1953:
Hai tháng công tác căng thẳng đã qua. Xã Ninh Dân đã đấu xong thằng địa chủ Hiện. Anh Vân mang ra những tranh phục vụ kịp thời, sáng tác trong đợt công tác vừa qua, sang xã tôi triển lãm, đúng lúc bên này vừa mở hội mừng thắng lợi. Anh nói về tranh phục vụ rất rõ ràng: Chính ra chúng mình không khổ gì đâu, không hy sinh gì lắm đâu. Nhân dân lao động đang còn khổ nhiều. Chúng mình chỉ hy sinh cái thích làm tranh cho hả riêng mình để làm những tranh bây giờ nhân dân đang cần. Vả lại, làm những tranh phục vụ kịp thời mình cũng thấy thích kia mà!
24/6/1954 (xã Ninh Dân, Phú Thọ):
Chiều qua, tin dữ, anh Vân hy sinh ở Yên Bái (17-6-54) đến với chúng tôi! Rã rời, đau buồn, cay đắng. Anh Vân mất rồi? Vô lý! Vô lý!… Buổi chiều, Dư Tá, Ngô Minh Cầu, Trần Đông Lương và tôi đi than vãn với nhau… Anh Vân mất đi, mang theo cả bao hy vọng, tin tưởng của bọn trẻ. Anh là người đứng đầu ngành họa, là người anh cả của họa sĩ đương thời, tha thiết đào tạo, hướng dẫn, bênh vực… tất cả anh em. Riêng tôi, tôi thấy mất một người thầy uyên bác, cũng là người bạn tâm giao đầy tình cảm… Tất cả chúng tôi đều đau buồn, bực dọc… Đi nằm sớm. Không ngủ được cho tới rạng đông…
[Trích “Sống bên họa sĩ Tô Ngọc Vân”,
Nhật ký Kháng chiến của Linh Chi (Nguyễn Tài Lương).
Tư liệu của Ngô Mạnh Lân]



Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 26 THÁNG SÁU, 2020.

Trường Mỹ thuật Kháng chiến qua một số trang nhật ký của Linh Chi

Tư liệu của Ngô Mạnh Lân

25/10/1951:
Anh Vân (Tô Ngọc Vân-TCMT) đang vẽ bức tranh lụa “Bộ đội hành quân qua suối” và tranh cổ động tố cáo tội ác của giặc Pháp “Giặc giết”… bằng chì than. Anh để hết tâm trí làm bức tranh lụa này. Một bản hòa tấu màu xanh đang được phác lên: bộ đội hành quân qua suối trong rừng nứa. Tài liệu đầy đủ, cảm hứng súc tích, anh Vân vẽ tranh một cách ung dung, vừa vẽ vừa ngâm thơ se sẽ… (Kiều hay Chinh phụ ngâm?)…
1/11/1951:
Sương rơi nặng trong vườn chuối. Trời mù mịt lạnh cho tới 9 giờ sáng. Buổi trưa nắng to, tôi đi vẽ ký họa người gánh lúa trong cánh đồng rực vàng mùi cơm nếp mới. Những cô thợ gặt, lẳn người trong màu áo nâu cũ, giơ tay dọa: Không được vẽ em vào tranh đấy!
3/11/1951:
Vẫn tìm phác thảo. Anh Cẩn (Trần Văn Cẩn- TCMT) sang buồng vẽ lấy phấn màu của tôi phác lên những người gánh lúa, rất lực lưỡng, rất Việt Nam. Phấn màu trên giấy dó thôi mà đã hứa hẹn thành một tranh mộc bản tuyệt vời…
19/11/1951:
Mấy hôm nay nắng đã phai màu, trời không xanh nữa, mây giăng màu bạc xám của những ngày cuối thu trong lặng. Vừa vẽ vừa nhìn ra sân phơi thóc, nhìn dãy tường hoa rêu phủ, có bóng những cây cam đầy quả chín, ánh sáng long lanh trên vòm lá xanh đậm. Vẽ bà chủ nhà ngồi dệt chiếu sẹ. Mùi sẹ thơm như mùi gừng muối ô mai. […] Sĩ Tốt làm đạn, bắn được một con chim gáy, một cò hương bày ra vẽ tĩnh vật, chiều mới làm thịt. Buổi trưa tôi vẽ gò vầu, Sĩ Tốt lại bắn thêm một gõ kiến, một chim gâu nữa. Tối nay sẽ có món ăn tươi.

Linh Chi qua nét bút của Bùi Xuân Phái, Hà Nội, 1960.


Tháng 3/1952:
Đã về đến Thái Nguyên, trước khi xuống xã, anh em văn nghệ được nghe báo cáo qua về phong trào trong tỉnh, họp với cán bộ tuyên huấn tỉnh, các cụ đại biểu Liên Việt, đại biểu thanh niên, phụ nữ…
17/3/1952:
Buổi sáng nghĩ mẫu Huân chương Hồ Chí Minh. Anh Vân đi họp với các đồng chí Trung ương. Anh có vẽ Bác Hồ. Một số chân dung bằng chì than. Một bức có màu: Bác mặc áo blouson cổ lông, đang nói trên diễn đàn, tay chống trên mặt bàn phủ vải đỏ. Chúng tôi theo tài liệu ấy phác mẫu huân chương. […] Anh Vân vẽ bức tranh “Cày đồi” bằng thuốc nước và chì than. Tranh nhỏ nhưng anh vẽ rất cẩn thận để lúc nào có điều kiện sẽ thể hiện bằng sơn dầu lớn hơn. Anh cũng vẽ ký họa những cô nông dân cấy lúa bằng chì than. Vẽ xong về nhà, anh chọn những hình ưng ý nhất, găng to lên, lấy kéo cắt riêng ra ba cô thợ cấy. Anh xếp đặt mấy hình vẽ đó trên một tờ giấy, tìm bố cục cho bức tranh theo hình thức tranh lụa kakemomo Nhật Bản. Tôi đứng xem anh làm việc, học tập cái thận trọng, nghiêm túc trong sáng tác.
20/3/1952:
Máy bay Doongke của Pháp lượn quanh vùng, khu trục bắn ở xa. Khi 6 máy bay B26 lên thả bom thị xã, anh Vân ra hầm cá nhân ở sau nhà chúng tôi. Bỏ bom hai lượt rồi cả lũ B26 chúi bắn vào đám khói đen mù ở thị xã. Buổi chiều, trong xóm chúng tôi ở, cách thị xã chừng 50 mét có tin 2 người chết: bà Ký Yến 45 tuổi, cô Chính 17 tuổi, đi mua sắm về đến cầu Gia Bảy thì bị bom. Nhà bà Ký ở kế bên nhà tôi và anh Tỵ (Nguyễn Văn Tỵ- TCMT) ở. Tiếng cô Khang khóc mẹ làm chúng tôi tê tái trong lòng…
26/3/1952:
Đi công tác dưới xóm, chúng tôi ở nhà cụ Sỹ. Anh Vân đại diện anh em, vẽ biếu cụ chủ nhà một bức chân dung bằng chì than và sanguine. Buổi tối, uống nước hút thuốc, anh Vân nói về sáng tác… Lúc ấy đã hơn 10 giờ đêm. Anh Vân nói: Những buổi uống nước nói chuyện như thế này về là không ngủ được. Nếu có atelier như ngày xưa là về bật đèn lên vẽ. Trí (Nguyễn Gia Trí) nó thích làm như thế lắm. Đi chơi với anh em xong, hắn về làm việc đến 4,5 giờ sáng mới ngủ…
Tôi hỏi anh một câu định hỏi từ lâu: Bây giờ anh thấy phụ nữ trong kháng chiến, anh còn thích vẽ không?
- Có! Như cô giáo hôm nọ là có thể vẽ được. Cả mấy cô ở Yên Bình nữa…

Tôi lại hỏi: Trong các tranh sơn dầu anh đã vẽ, anh ưng ý bức nào nhất?
Anh Vân không lưỡng lự: Bức nu assis có cerné trait (bức khỏa thân ngồi có viền nét).
Vẽ phụ nữ thì có nhiều họa sĩ vẽ, riêng tranh của anh Vân có một sức hấp dẫn khác hẳn các họa sĩ khác. Tranh của anh đằm thắm một cách trí tuệ, hấp dẫn vì tranh đẹp chứ không phải vì người đẹp trong tranh. Anh Vân lại nói: Nếu sau này tôi có vẽ phụ nữ Hà Nội, tôi sẽ vẽ khác, không vẽ như xưa nữa…
Anh nhắc đến tranh của Derain, Vlaminck, Van Dongen… Nói đến tranh lụa Á Đông, anh Vân nhắc đến tranh cổ Trung Quốc, của mặc hội Nhật Bản. Tranh Á Đông thanh tao, tranh Âu châu vật chất. Nhắc đến tranh lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, có một lần tôi nghe anh Cẩn nói bức nào của Phan Chánh cũng là một bố cục hoàn chỉnh, một bức hội họa, một peinture sur soie, chứ không phải một aquarelle sur soie. Anh Vân cũng thích tranh lụa của Phan Chánh…
Đi vẽ cảnh ở Lăng Quán, Tuyên Quang (Ngô Mạnh Lân và Thục Phi), 1952. Ký họa của Lê Lam.


14/4/1952:
Máy bay địch luôn luôn bay quanh thị xã. B26 bỏ bom xuống phía Phúc Thuận, Phúc Trìu. Đứng bên hầm cá nhân phía bờ tre, đang ôm cặp vẽ tôi ném xuống đất để vỗ tay: một máy bay Hen-cát của địch trúng đạn!
Buổi tối, đi chợ với anh Vân tìm mua mực bút máy Parker đen ở từng hàng xén trong thị xã Thái Nguyên. Của hiếm, rất cần để vẽ ký họa. Tìm được, mỗi người mua một lọ, sung sướng hơn trúng xổ số! Nhất là lại mua thêm được một thếp giấy chưa kẻ. Ban ngày, nhân dân chạy máy bay hàng chục lần, nhưng đến đêm chợ kháng chiến vẫn họp đều, đèn dầu hỏa như sao sa, người mua bán toàn cán bộ, bộ đội…
10 giờ rưỡi đêm, vào hàng cà-phê Vỹ uống mỗi người một tách rồi mới thắp đèn bão quay về xóm. Theo lối chân núi Kô-kê, qua những mảnh ruộng ngô, ruộng lúa, về ngôi nhà tranh của bà chủ nhà, một nông dân nghèo. Bỗng có con chồn màu lông nhạt, thấy ánh đèn đứng lại mắt xanh như ngọc bích. Một mùi thơm như hương phấn thoảng qua. Tôi chưa đi ngủ vội, theo anh Vân cùng các bạn nói chuyện tới 12 giờ đêm mới về đi ngủ. Một buổi tối đầy bổ ích, đó là câu chuyện về tình cảm trong tranh, tranh là người… Riêng trong hội họa, kỹ thuật thể hiện cũng là cá tính.
28/4/1952:
Anh Vân nói chuyện ngày hàn vi. Bao nhiêu vui buồn, đau khổ, bao nhiêu hy vọng, nghị lực để đi tới thành công sau này… Nhắc đến một phụ bản báo Xuân của anh vẽ, anh Vân kể lại: Năm ấy, một tờ báo tuần nhờ anh vẽ phụ bản, anh vẽ ba thiếu nữ trên nền đỏ. Lúc đưa nhà in Taupin, thằng Tây làm bản kẽm đã tự tiện chữa cho một cô ngực nở hơn. Anh Vân bắt chữa lại cho đúng nguyên bản. Thằng Tây không nghe, cho như thế đẹp hơn. Anh Vân to tiếng mắng cho nó một trận, rồi không chịu ký bông “đồng ý in”. Năm ấy, báo thiếu phụ bản, và họa sĩ hụt món tiền nhuận bút tiêu Tết!…
Các thầy Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang ở Yên Phú, Yên Bái, 1950. Ký họa của Lê Lam.


17/8/1953:
12 giờ trưa, đi xuống xã với anh Vân… Lúc đèo ba-lô đi trên đường son đỏ đầy nắng của đồi chè Phú Thọ gần Thanh Cù, anh Vân bảo tôi: Anh Linh Chi ạ, chúng ta có cái nghề thật tốt đẹp! Anh có thấy cái bóng tôi và anh in trên đường hoàn toàn không phải là màu đen mà là một màu tím rất đẹp, rất rực rỡ bên cạnh màu hoa hiên đỏ chói lòa của ánh nắng không?
Tôi hỏi anh: Anh có ghét lối vẽ Beaux-Arts không?
Tôi tưởng anh sẽ khó trả lời, vì bản thân anh xuất thân ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cũ, mà gọi tắt là Beaux-Arts. Anh trả lời dứt khoát: Tôi rất ghét. Chỉ có ART (nghệ thuật) thôi, làm gì có Beaux-Arts!…
20/10/1953:
Hai tháng công tác căng thẳng đã qua. Xã Ninh Dân đã đấu xong thằng địa chủ Hiện. Anh Vân mang ra những tranh phục vụ kịp thời, sáng tác trong đợt công tác vừa qua, sang xã tôi triển lãm, đúng lúc bên này vừa mở hội mừng thắng lợi. Anh nói về tranh phục vụ rất rõ ràng: Chính ra chúng mình không khổ gì đâu, không hy sinh gì lắm đâu. Nhân dân lao động đang còn khổ nhiều. Chúng mình chỉ hy sinh cái thích làm tranh cho hả riêng mình để làm những tranh bây giờ nhân dân đang cần. Vả lại, làm những tranh phục vụ kịp thời mình cũng thấy thích kia mà!
24/6/1954 (xã Ninh Dân, Phú Thọ):
Chiều qua, tin dữ, anh Vân hy sinh ở Yên Bái (17-6-54) đến với chúng tôi! Rã rời, đau buồn, cay đắng. Anh Vân mất rồi? Vô lý! Vô lý!… Buổi chiều, Dư Tá, Ngô Minh Cầu, Trần Đông Lương và tôi đi than vãn với nhau… Anh Vân mất đi, mang theo cả bao hy vọng, tin tưởng của bọn trẻ. Anh là người đứng đầu ngành họa, là người anh cả của họa sĩ đương thời, tha thiết đào tạo, hướng dẫn, bênh vực… tất cả anh em. Riêng tôi, tôi thấy mất một người thầy uyên bác, cũng là người bạn tâm giao đầy tình cảm… Tất cả chúng tôi đều đau buồn, bực dọc… Đi nằm sớm. Không ngủ được cho tới rạng đông…
[Trích “Sống bên họa sĩ Tô Ngọc Vân”,
Nhật ký Kháng chiến của Linh Chi (Nguyễn Tài Lương).
Tư liệu của Ngô Mạnh Lân]



Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 26 THÁNG SÁU, 2020.

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021

Tô Ngọc Vân – Những năm Trường Mỹ thuật Khóa Kháng chiến

Tô Ngọc Vân – Những năm Trường Mỹ thuật Khóa Kháng chiến

Trần Văn Cẩn

Năm 1951, cuộc kháng chiến chống Pháp đã sang năm thứ năm. Trường Mỹ thuật lập lại trong chiến khu Việt Bắc do Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, đã kết thúc tốt niên học đầu của Khóa Kháng chiến.
Mùa hè năm ấy, sau một đợt thực tập sáng tác và triển lãm phục vụ nhân dân thị xã Lào Cai vừa giải phóng, học sinh được nghỉ một tháng. Chúng tôi, bốn người gồm anh Vân, hai cán bộ giảng dạy và một trưởng lớp, họp thành một đoàn, đi thăm lại và lấy tài liệu ở mấy nơi căn cứ cách mạng.
Ra đi từ Tuyên Quang, chúng tôi qua làm việc ở Đình Cả, Bắc Sơn, rồi đi tiếp sang Bình Gia, Văn Mịch, tới Đồng Đăng, trở về qua Lạng Sơn. Chương trình đã định khi ra đi, được thực hiện tốt. Cảnh đẹp, người hiền, anh em tràn đầy phấn khởi, ghi chép được nhiều. Chuyến đi khá vất vả, có những buổi đang trên đường, một hai anh lên cơn sốt, nhưng vẫn không chịu ngừng lại. Màn của người khỏe tập trung lại cuốn tùm lum cho người ốm. Bệnh nhân, răng đánh lập cập, run rẩy vẫn chống gậy đi. Cứ luân phiên nhau như vậy, anh nào cũng đều nộp đủ thuế cho “thần sốt”, ít ra là một lần! Nhưng qua cơn rét run, dứt cơn nóng toát mồ hôi; hồi lại, lại vẽ say sưa đến không biết mệt!
Tô Ngọc Vân ở chiến khu Việt Bắc, khoảng 1948-1949. Bức ảnh cuối cùng Tô Ngọc Vân chụp cùng gia đình trước khi đi lên chiến dịch Điện Biên Phủ, 1954.


Nhớ lại anh Vân dạo đó: Con người vóc dáng nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, giàu nghị lực. Đầu anh to, vầng trán dô cao dưới chiếc mũ tai bèo, cặp mắt to cứ sáng rực khi chăm chú quan sát. Bàn tay anh nhỏ, những ngón khum khum, run run đưa nét chì trên giấy vẽ. Một thỏi chì than đã mòn chỉ còn hơn đốt ngón tay cắm vào một mẩu ống sậy; một mảnh tẩy chì vẹt mòn còn vừa bằng cái vỏ hến, góc dùi lỗ luồn một sợi dây gai lúc nào anh cũng đeo tòn ten ở cúc áo sơ-mi, trước ngực… Những “bảo vật” ấy anh Vân chi chút lắm. Hoàn cảnh chiến tranh, một cây bút chì than, quả quý như vàng. Cứ khi nghỉ, anh Vân lại rút mẩu bút chì ra ngắm nghía, xuýt xoa xem nó mòn thêm bao nhiêu và còn làm bạn với mình được bao lâu nữa?
“Màn trời chiếu đất”, nấu ăn trên đường, nhưng thỉnh thoảng gặp một bản làng gần, rẽ vào, là chúng tôi lại được chất tươi thay bữa cho thịt vụn rang mặn, rau tàu bay; rồi nào vẽ cho một ông ké, một bà mế, để được nhờ con cháu các cụ làm mẫu. Tình đồng bào, cán bộ, lưu luyến chẳng muốn rời đi…
Về môn bếp núc, anh Vân cũng là tay khá thạo nên khi được bà con cho chất gì tươi, anh em dành ưu tiên cho anh cái việc “chế biến” món ăn cho đoàn. Tìm một nơi thuận tiện, kín đáo, để tránh máy bay giặc. Đôi khi gặp một khe suối cỏ cây chen đá, sơn thuỷ hữu tình, thì cái việc bếp núc của cuộc đi vẽ thật quả là sang! Và thường những khi đó, thế nào anh em cũng lại được nghe giọng run run khe khẽ của anh ngâm một câu thơ, rồi thể nào sau cũng tiếp bằng “… đây lắng hồn núi sông ngàn năm” mấy câu trong bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi mà anh rất thích. Và mỗi lần như vậy là dịp để chúng tôi nhắc nhớ lại bao kỷ niệm về thành phố thân yêu, về bè bạn, về tình đời, về những ngày cùng nhau đi cứu đói, cùng nhau vẽ áp-phích trong không khí sôi nổi những ngày tổng khởi nghĩa; nhất là với anh Vân, chính bài hát “Người Hà Nội” đã cho anh cảm hứng để vẽ bức tranh “Hà Nội vùng lên” vào năm đầu kháng chiến.[…].
Nhiều nơi, từ Trung du lên Việt Bắc, người ta đã gặp anh họa sĩ nhanh nhẹn vui tính ấy, khi thì vẽ tranh cổ động kháng chiến trên một mảng tường phố, khi làm hóa trang, trình bày cho một sân khấu lưu động, hoặc khi mài đá lăn lô in tranh truyền đơn dưới tán lá rừng dày đặc, khi làm Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến cũng như khi chạy lo tổ chức lại Trường Mỹ thuật (1949-1950)… Cứ lúc nào hơi rảnh là anh lại luôn tay với mẩu chì, cuốn sổ con thường xuyên mang theo trong xắc-cốt ghi chép người, cảnh vật trong sinh hoạt hàng ngày.
Chiêm Hóa 1951. Đại hội Văn nghệ. Các văn nghệ sĩ kháng chiến tham gia ký “Công ước Hòa bình Thế giới”. Người đang ký là Tô Ngọc Vân.


Sống giữa lòng nhân dân, cùng chung những vui buồn với con người bình thường, chất phác, những chiến sĩ, những người lao động cần mẫn, đã đưa lại cho Tô Ngọc Vân cảm hứng sáng tác đề tài mới: “Hà Nội vùng lên”(1948), “Tản cư trong rừng”, “Giặc đến giặc đi”(1949), “Nữ y tá” (1949)…, làm trong mấy năm đó đã báo hiệu sự chuyển biến bước đầu của anh. Đề tài, đối tượng vẽ đã đổi khác, tiết tấu năng động rộn ràng, chiều hướng đi vào khắc họa tính cách, động dung nhân vật… là những nét mới mẻ. Tuy nhiên, đó đây, đôi khi còn lưu lại những nét hình quen thuộc, sắc thái ưu du của anh thời trước cách mạng, nhất là phong thái người đàn bà thành thị. Có thể nói: giữa cảm xúc tạo hình, giữa tư chất sáng tạo nghệ thuật của anh với nội dung mới đang còn có chỗ chưa ăn khớp.
Đối tượng nghệ thuật của anh đã đổi khác rồi. Anh đến với đối tượng mới ấy với cả niềm chân thành, song những nếp quen, những thích thú, thưởng thức khá phức tạp trước nguyên mẫu trong môi trường xưa của anh, giờ đây lại chính là trở ngại không ít cho anh khi biểu hiện những con người lao động trong môi trường mới với những tương quan xã hội đang biến chuyển mạnh mẽ.
Có thoát ra khỏi những nếp cảm nghĩ, cách làm quen thuộc cũ, để tạo cho mình cái nhìn phù hợp đối với thực tế khách quan mới có thể chuyển hóa thật sự. Chính trong sáng tạo nghệ thuật của anh qua thực tiễn đời sống và quá trình tìm tòi thể nghiệm trong mấy năm, đã chứng minh anh nhận thức ra điều đó. Rồi tiếp trải qua những cuộc tranh luận về những vấn đề “tuyên truyền và nghệ thuật”, “trước mắt và lâu dài”… càng củng cố cho anh nhận thức mới, thấy rõ hơn sai lầm của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” xưa kia.
Tô Ngọc Vân – Xưởng quân giới. 1951. Sơn dầu trên giấy can Tô Ngọc Vân – Đèo Lũng Lô. 1954. Màu nước


Cuộc đấu tranh với chính bản thân mình không phải dễ dàng trong ngày một ngày hai, mà khi âm ỉ, khi sôi động, nó gay go còn hơn việc phấn đấu vượt qua khó khăn gian khổ để thích nghi với hoàn cảnh khách quan của cuộc sống kháng chiến trường kỳ.
Nhớ lời Hồ Chủ tịch dạy trong buổi Người đến thăm lớp nghiên cứu tình hình nhiệm vụ mở cho giới văn nghệ cuối năm 1950: “Có quyết tâm và tín tâm thì việc khó khăn mấy cũng làm được…” Cũng như ý kiến về sáng tác của Người viết trong thư gửi anh chị em họa sĩ vào dịp Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc cuối năm 1951: “Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế mới bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”.
Qua những năm dài chiến đấu, tự rèn luyện trong hoạt động, liên hệ với thực tiễn của anh chị em nghệ sĩ thì đúng như điều Bác đã dạy bài học về quyết tâm và tín tâm được thấm nhuần đã đưa lại cho chúng tôi kết quả rõ ràng; và trường hợp anh Vân có thể nói là một tấm gương tiêu biểu cho ý chí bền bỉ phấn đấu tự thay đổi mình để thay đổi nghệ thuật của con người nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản đi theo cách mạng; song còn rơi rớt ảnh hưởng tự do chủ nghĩa với quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”…
“Học kết hợp với hành”, điều anh nhắc nhở học trò của mình, cũng là điều mà chính bản thân anh tự thực hiện.
Những chuyến đi ngoài thực tế đời sống nhân dân lao động của cả thầy và trò sáng tác và phục vụ ngay tại chỗ, gắn bó mật thiết hơn giữa công chúng và nghệ sĩ đã đưa lại những kết quả tốt đẹp. Đặc biệt là chuyến đi dài ngày mà anh tham gia như một đội viên trong một đội công tác phát động cải cách ruộng đất, về một vùng nông thôn thuộc Vĩnh Phú (Vĩnh Yên và Phú Thọ-TCMT) nơi mà sau đó anh còn trở lại nhiều lần. Thâm nhập đời sống người nông dân lao động qua “ba cùng”, hiểu thấu về những nỗi cơ cực của người dân cày không có ruộng, đồng thời cũng khám phá ra những đức tính tốt đẹp của họ, đã đưa lại cho anh ấn tượng sâu sắc và kết quả thu được trong nghệ thuật của anh là sự đổi mới thật nức lòng. Tuy chỉ là nghiên cứu ghi chép, nhưng anh đã truyền được vào trong đó cảm xúc chân thật của mình đối với đối tượng sáng tác mới ấy. Anh thấy ra được tính cách, và nhất là phẩm chất cao đẹp của những con người nông dân đang vươn lên làm chủ cuộc đời. Với nghề nghiệp sẵn vững vàng của anh, qua những nét màu vẫn nhã thú và trong sáng, khỏe khoắn, giản dị mà trữ tình, nghệ thuật của anh đã đi đến hiện thực, đây là vào năm 1953.
Chân dung Tô Ngọc Vân do Lê Lam vẽ với chữ ký của một số họa sĩ Khóa Kháng chiến. Tô Ngọc Vân – Bừa trên đồi. 1953. Bột màu


Đầu năm 1954, Tô Ngọc Vân lại lên đường trong một chuyến đi mới. Lòng đầy tin tưởng, hào hứng, trong bữa liên hoan tiễn đưa, anh còn đề nghị giao ước thi đua giữa người đi với người ở. Anh muốn được trực tiếp dự vào trận chiến đấu đang thời kỳ ác liệt trên chiến trường Điện Biên. Nhưng tình hình chiến sự diễn tiến quá nhanh. Quân ta thắng giòn giã, bắt sống Đờ-cát-xtri, mà anh còn đang trên đường đi ! Máy bay giặc Pháp ném bom ác liệt dọc đường lên mặt trận hòng cứu cho quân đội của chúng bị bao vây ở lòng chảo Điện Biên. Và tiếc thay! Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong một trận ném bom của giặc. Được tin chẳng lành này, anh em ở nhà nửa tin nửa ngờ, vẫn cố nghĩ rằng, có thể trong khi bị oanh tạc anh đã tránh được ở đâu đó?
Cho đến khi anh Nguyễn Đình Thi cùng mấy chiến sĩ từ mặt trận về đem theo chiếc ba-lô và cái cặp vẽ bất ly thân của anh, bấy giờ mọi người mới tuyệt vọng!
Chiếc cặp vẽ được bọc cẩn thận trong một tấm ni-lông che mưa. Đúng là của anh Vân rồi! Anh vẫn cẩn thận như vậy xưa nay. Anh có thể gội mưa thà mình chịu ướt chứ không chịu để tài liệu ký họa, đồ vẽ của anh không được bảo vệ chu đáo. Mở chiếc cặp vẽ ấy, thật xiết bao cảm động khi thấy trong tập ký họa quý anh ghi dọc đường, có một bức vẽ với những nét chì rung động, ở góc ghi ngày 15-6-1954. Đó là một cảnh đèo Lũng Lô – bức vẽ cuối cùng của đời anh !!!
Tô Ngọc Vân đã qua đời ! Nhưng lòng yêu nước, yêu nghề, yêu cuộc sống, tính tình hoạt bát vui vẻ, năng động của anh, nhất là ý chí phấn đấu kiên trì tự thay đổi con người của mình để thay đổi tư tưởng nghệ thuật là một tấm gương sáng mãi. Nếu như anh chưa “giữa đường đứt gánh” thì với những tài liệu, những ký họa anh để lại, anh sẽ có thể xây dựng những tác phẩm lớn.
Tô Ngọc Vân, ngoài con người nghệ sĩ sáng tác, còn là một cán bộ có tài tổ chức. Cống hiến của anh trong sự nghiệp xây dựng cơ đồ đào tạo lớp trẻ mỹ thuật, là một đóng góp lớn cho phong trào.
Chính để ghi công anh, giữ gìn kỷ niệm về anh, mà chúng tôi đã lấy tên anh để đặt cho khóa học thứ II và cũng là khóa đầu của Trường Mỹ thuật Việt Nam từ chiến khu trở về Thủ đô giải phóng, sau chiến thắng oanh liệt Điên Biên Phủ.
Khóa Tô Ngọc Vân 1955-1957 là khoá học mang tên một họa sĩ chân chính, một trong những người anh lớn của giới mỹ thuật Việt Nam.

Trần Văn Cẩn
Hà Nội, Xuân 1982
(Trích bài viết “Một họa sĩ chân chính” in trong sách “Nhớ Tô Ngọc Vân”,
Tô Ngọc Thành sưu tầm và biên soạn,
Nhà xuất bản Mỹ thuật, 2004.
Đầu đề do Tạp chí Mỹ thuật đặt)



Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 25 THÁNG SÁU, 2020.

Tô Ngọc Vân – Những năm Trường Mỹ thuật Khóa Kháng chiến

Trần Văn Cẩn

Năm 1951, cuộc kháng chiến chống Pháp đã sang năm thứ năm. Trường Mỹ thuật lập lại trong chiến khu Việt Bắc do Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, đã kết thúc tốt niên học đầu của Khóa Kháng chiến.
Mùa hè năm ấy, sau một đợt thực tập sáng tác và triển lãm phục vụ nhân dân thị xã Lào Cai vừa giải phóng, học sinh được nghỉ một tháng. Chúng tôi, bốn người gồm anh Vân, hai cán bộ giảng dạy và một trưởng lớp, họp thành một đoàn, đi thăm lại và lấy tài liệu ở mấy nơi căn cứ cách mạng.
Ra đi từ Tuyên Quang, chúng tôi qua làm việc ở Đình Cả, Bắc Sơn, rồi đi tiếp sang Bình Gia, Văn Mịch, tới Đồng Đăng, trở về qua Lạng Sơn. Chương trình đã định khi ra đi, được thực hiện tốt. Cảnh đẹp, người hiền, anh em tràn đầy phấn khởi, ghi chép được nhiều. Chuyến đi khá vất vả, có những buổi đang trên đường, một hai anh lên cơn sốt, nhưng vẫn không chịu ngừng lại. Màn của người khỏe tập trung lại cuốn tùm lum cho người ốm. Bệnh nhân, răng đánh lập cập, run rẩy vẫn chống gậy đi. Cứ luân phiên nhau như vậy, anh nào cũng đều nộp đủ thuế cho “thần sốt”, ít ra là một lần! Nhưng qua cơn rét run, dứt cơn nóng toát mồ hôi; hồi lại, lại vẽ say sưa đến không biết mệt!
Tô Ngọc Vân ở chiến khu Việt Bắc, khoảng 1948-1949. Bức ảnh cuối cùng Tô Ngọc Vân chụp cùng gia đình trước khi đi lên chiến dịch Điện Biên Phủ, 1954.


Nhớ lại anh Vân dạo đó: Con người vóc dáng nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, giàu nghị lực. Đầu anh to, vầng trán dô cao dưới chiếc mũ tai bèo, cặp mắt to cứ sáng rực khi chăm chú quan sát. Bàn tay anh nhỏ, những ngón khum khum, run run đưa nét chì trên giấy vẽ. Một thỏi chì than đã mòn chỉ còn hơn đốt ngón tay cắm vào một mẩu ống sậy; một mảnh tẩy chì vẹt mòn còn vừa bằng cái vỏ hến, góc dùi lỗ luồn một sợi dây gai lúc nào anh cũng đeo tòn ten ở cúc áo sơ-mi, trước ngực… Những “bảo vật” ấy anh Vân chi chút lắm. Hoàn cảnh chiến tranh, một cây bút chì than, quả quý như vàng. Cứ khi nghỉ, anh Vân lại rút mẩu bút chì ra ngắm nghía, xuýt xoa xem nó mòn thêm bao nhiêu và còn làm bạn với mình được bao lâu nữa?
“Màn trời chiếu đất”, nấu ăn trên đường, nhưng thỉnh thoảng gặp một bản làng gần, rẽ vào, là chúng tôi lại được chất tươi thay bữa cho thịt vụn rang mặn, rau tàu bay; rồi nào vẽ cho một ông ké, một bà mế, để được nhờ con cháu các cụ làm mẫu. Tình đồng bào, cán bộ, lưu luyến chẳng muốn rời đi…
Về môn bếp núc, anh Vân cũng là tay khá thạo nên khi được bà con cho chất gì tươi, anh em dành ưu tiên cho anh cái việc “chế biến” món ăn cho đoàn. Tìm một nơi thuận tiện, kín đáo, để tránh máy bay giặc. Đôi khi gặp một khe suối cỏ cây chen đá, sơn thuỷ hữu tình, thì cái việc bếp núc của cuộc đi vẽ thật quả là sang! Và thường những khi đó, thế nào anh em cũng lại được nghe giọng run run khe khẽ của anh ngâm một câu thơ, rồi thể nào sau cũng tiếp bằng “… đây lắng hồn núi sông ngàn năm” mấy câu trong bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi mà anh rất thích. Và mỗi lần như vậy là dịp để chúng tôi nhắc nhớ lại bao kỷ niệm về thành phố thân yêu, về bè bạn, về tình đời, về những ngày cùng nhau đi cứu đói, cùng nhau vẽ áp-phích trong không khí sôi nổi những ngày tổng khởi nghĩa; nhất là với anh Vân, chính bài hát “Người Hà Nội” đã cho anh cảm hứng để vẽ bức tranh “Hà Nội vùng lên” vào năm đầu kháng chiến.[…].
Nhiều nơi, từ Trung du lên Việt Bắc, người ta đã gặp anh họa sĩ nhanh nhẹn vui tính ấy, khi thì vẽ tranh cổ động kháng chiến trên một mảng tường phố, khi làm hóa trang, trình bày cho một sân khấu lưu động, hoặc khi mài đá lăn lô in tranh truyền đơn dưới tán lá rừng dày đặc, khi làm Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến cũng như khi chạy lo tổ chức lại Trường Mỹ thuật (1949-1950)… Cứ lúc nào hơi rảnh là anh lại luôn tay với mẩu chì, cuốn sổ con thường xuyên mang theo trong xắc-cốt ghi chép người, cảnh vật trong sinh hoạt hàng ngày.
Chiêm Hóa 1951. Đại hội Văn nghệ. Các văn nghệ sĩ kháng chiến tham gia ký “Công ước Hòa bình Thế giới”. Người đang ký là Tô Ngọc Vân.


Sống giữa lòng nhân dân, cùng chung những vui buồn với con người bình thường, chất phác, những chiến sĩ, những người lao động cần mẫn, đã đưa lại cho Tô Ngọc Vân cảm hứng sáng tác đề tài mới: “Hà Nội vùng lên”(1948), “Tản cư trong rừng”, “Giặc đến giặc đi”(1949), “Nữ y tá” (1949)…, làm trong mấy năm đó đã báo hiệu sự chuyển biến bước đầu của anh. Đề tài, đối tượng vẽ đã đổi khác, tiết tấu năng động rộn ràng, chiều hướng đi vào khắc họa tính cách, động dung nhân vật… là những nét mới mẻ. Tuy nhiên, đó đây, đôi khi còn lưu lại những nét hình quen thuộc, sắc thái ưu du của anh thời trước cách mạng, nhất là phong thái người đàn bà thành thị. Có thể nói: giữa cảm xúc tạo hình, giữa tư chất sáng tạo nghệ thuật của anh với nội dung mới đang còn có chỗ chưa ăn khớp.
Đối tượng nghệ thuật của anh đã đổi khác rồi. Anh đến với đối tượng mới ấy với cả niềm chân thành, song những nếp quen, những thích thú, thưởng thức khá phức tạp trước nguyên mẫu trong môi trường xưa của anh, giờ đây lại chính là trở ngại không ít cho anh khi biểu hiện những con người lao động trong môi trường mới với những tương quan xã hội đang biến chuyển mạnh mẽ.
Có thoát ra khỏi những nếp cảm nghĩ, cách làm quen thuộc cũ, để tạo cho mình cái nhìn phù hợp đối với thực tế khách quan mới có thể chuyển hóa thật sự. Chính trong sáng tạo nghệ thuật của anh qua thực tiễn đời sống và quá trình tìm tòi thể nghiệm trong mấy năm, đã chứng minh anh nhận thức ra điều đó. Rồi tiếp trải qua những cuộc tranh luận về những vấn đề “tuyên truyền và nghệ thuật”, “trước mắt và lâu dài”… càng củng cố cho anh nhận thức mới, thấy rõ hơn sai lầm của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” xưa kia.
Tô Ngọc Vân – Xưởng quân giới. 1951. Sơn dầu trên giấy can Tô Ngọc Vân – Đèo Lũng Lô. 1954. Màu nước


Cuộc đấu tranh với chính bản thân mình không phải dễ dàng trong ngày một ngày hai, mà khi âm ỉ, khi sôi động, nó gay go còn hơn việc phấn đấu vượt qua khó khăn gian khổ để thích nghi với hoàn cảnh khách quan của cuộc sống kháng chiến trường kỳ.
Nhớ lời Hồ Chủ tịch dạy trong buổi Người đến thăm lớp nghiên cứu tình hình nhiệm vụ mở cho giới văn nghệ cuối năm 1950: “Có quyết tâm và tín tâm thì việc khó khăn mấy cũng làm được…” Cũng như ý kiến về sáng tác của Người viết trong thư gửi anh chị em họa sĩ vào dịp Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc cuối năm 1951: “Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế mới bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”.
Qua những năm dài chiến đấu, tự rèn luyện trong hoạt động, liên hệ với thực tiễn của anh chị em nghệ sĩ thì đúng như điều Bác đã dạy bài học về quyết tâm và tín tâm được thấm nhuần đã đưa lại cho chúng tôi kết quả rõ ràng; và trường hợp anh Vân có thể nói là một tấm gương tiêu biểu cho ý chí bền bỉ phấn đấu tự thay đổi mình để thay đổi nghệ thuật của con người nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản đi theo cách mạng; song còn rơi rớt ảnh hưởng tự do chủ nghĩa với quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”…
“Học kết hợp với hành”, điều anh nhắc nhở học trò của mình, cũng là điều mà chính bản thân anh tự thực hiện.
Những chuyến đi ngoài thực tế đời sống nhân dân lao động của cả thầy và trò sáng tác và phục vụ ngay tại chỗ, gắn bó mật thiết hơn giữa công chúng và nghệ sĩ đã đưa lại những kết quả tốt đẹp. Đặc biệt là chuyến đi dài ngày mà anh tham gia như một đội viên trong một đội công tác phát động cải cách ruộng đất, về một vùng nông thôn thuộc Vĩnh Phú (Vĩnh Yên và Phú Thọ-TCMT) nơi mà sau đó anh còn trở lại nhiều lần. Thâm nhập đời sống người nông dân lao động qua “ba cùng”, hiểu thấu về những nỗi cơ cực của người dân cày không có ruộng, đồng thời cũng khám phá ra những đức tính tốt đẹp của họ, đã đưa lại cho anh ấn tượng sâu sắc và kết quả thu được trong nghệ thuật của anh là sự đổi mới thật nức lòng. Tuy chỉ là nghiên cứu ghi chép, nhưng anh đã truyền được vào trong đó cảm xúc chân thật của mình đối với đối tượng sáng tác mới ấy. Anh thấy ra được tính cách, và nhất là phẩm chất cao đẹp của những con người nông dân đang vươn lên làm chủ cuộc đời. Với nghề nghiệp sẵn vững vàng của anh, qua những nét màu vẫn nhã thú và trong sáng, khỏe khoắn, giản dị mà trữ tình, nghệ thuật của anh đã đi đến hiện thực, đây là vào năm 1953.
Chân dung Tô Ngọc Vân do Lê Lam vẽ với chữ ký của một số họa sĩ Khóa Kháng chiến. Tô Ngọc Vân – Bừa trên đồi. 1953. Bột màu


Đầu năm 1954, Tô Ngọc Vân lại lên đường trong một chuyến đi mới. Lòng đầy tin tưởng, hào hứng, trong bữa liên hoan tiễn đưa, anh còn đề nghị giao ước thi đua giữa người đi với người ở. Anh muốn được trực tiếp dự vào trận chiến đấu đang thời kỳ ác liệt trên chiến trường Điện Biên. Nhưng tình hình chiến sự diễn tiến quá nhanh. Quân ta thắng giòn giã, bắt sống Đờ-cát-xtri, mà anh còn đang trên đường đi ! Máy bay giặc Pháp ném bom ác liệt dọc đường lên mặt trận hòng cứu cho quân đội của chúng bị bao vây ở lòng chảo Điện Biên. Và tiếc thay! Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong một trận ném bom của giặc. Được tin chẳng lành này, anh em ở nhà nửa tin nửa ngờ, vẫn cố nghĩ rằng, có thể trong khi bị oanh tạc anh đã tránh được ở đâu đó?
Cho đến khi anh Nguyễn Đình Thi cùng mấy chiến sĩ từ mặt trận về đem theo chiếc ba-lô và cái cặp vẽ bất ly thân của anh, bấy giờ mọi người mới tuyệt vọng!
Chiếc cặp vẽ được bọc cẩn thận trong một tấm ni-lông che mưa. Đúng là của anh Vân rồi! Anh vẫn cẩn thận như vậy xưa nay. Anh có thể gội mưa thà mình chịu ướt chứ không chịu để tài liệu ký họa, đồ vẽ của anh không được bảo vệ chu đáo. Mở chiếc cặp vẽ ấy, thật xiết bao cảm động khi thấy trong tập ký họa quý anh ghi dọc đường, có một bức vẽ với những nét chì rung động, ở góc ghi ngày 15-6-1954. Đó là một cảnh đèo Lũng Lô – bức vẽ cuối cùng của đời anh !!!
Tô Ngọc Vân đã qua đời ! Nhưng lòng yêu nước, yêu nghề, yêu cuộc sống, tính tình hoạt bát vui vẻ, năng động của anh, nhất là ý chí phấn đấu kiên trì tự thay đổi con người của mình để thay đổi tư tưởng nghệ thuật là một tấm gương sáng mãi. Nếu như anh chưa “giữa đường đứt gánh” thì với những tài liệu, những ký họa anh để lại, anh sẽ có thể xây dựng những tác phẩm lớn.
Tô Ngọc Vân, ngoài con người nghệ sĩ sáng tác, còn là một cán bộ có tài tổ chức. Cống hiến của anh trong sự nghiệp xây dựng cơ đồ đào tạo lớp trẻ mỹ thuật, là một đóng góp lớn cho phong trào.
Chính để ghi công anh, giữ gìn kỷ niệm về anh, mà chúng tôi đã lấy tên anh để đặt cho khóa học thứ II và cũng là khóa đầu của Trường Mỹ thuật Việt Nam từ chiến khu trở về Thủ đô giải phóng, sau chiến thắng oanh liệt Điên Biên Phủ.
Khóa Tô Ngọc Vân 1955-1957 là khoá học mang tên một họa sĩ chân chính, một trong những người anh lớn của giới mỹ thuật Việt Nam.

Trần Văn Cẩn
Hà Nội, Xuân 1982
(Trích bài viết “Một họa sĩ chân chính” in trong sách “Nhớ Tô Ngọc Vân”,
Tô Ngọc Thành sưu tầm và biên soạn,
Nhà xuất bản Mỹ thuật, 2004.
Đầu đề do Tạp chí Mỹ thuật đặt)



Nguồn: TẠP CHÍ MỸ THUẬT - 25 THÁNG SÁU, 2020.

Làng Xuân Cầu trong tranh Tô Ngọc Vân

Làng Xuân Cầu trong tranh Tô Ngọc Vân


Làng Xuân Cầu trong tranh Tô Ngọc Vân


Gương mặt nghệ sĩ Hưng Yên: Họa sĩ Tô Ngọc Vân - Video

Gương mặt nghệ sĩ Hưng Yên: Họa sĩ Tô Ngọc Vân



Truyền hình Hưng Yên - HYTV
15 thg 11, 2021


Gương mặt nghệ sĩ Hưng Yên: Họa sĩ Tô Ngọc Vân



Truyền hình Hưng Yên - HYTV
15 thg 11, 2021


Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

Bản phục chế kỹ thuật số tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ

Bản phục chế kỹ thuật số tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ

Tác giả Shinstyle


Với một tình yêu lớn, một sự kính trọng họa sĩ Tô Ngọc Vân các họa sĩ của chúng tôi đã tiến hành phục chế lại 1 bản kỹ thuật số cho riêng mình. một kiệt tác hội hoa đã bị mất của Việt Nam. Trong quá trình phục chế chúng tôi có tìm rất nhiều nguồn ảnh từ các nước có lưu trữ nhiều về văn hóa Việt như Pháp, Nga, Nhật Bản và quyết định chọn 1 tác phẩm được cho là giống với bản gốc nhất.

Hiện tại khi tìm kiếm tranh của Tô Ngọc Vân trên google hình ảnh cho rất ít hình ảnh có kích thước lớn, tối đa chi 600px chiều ngang và bị vỡ, nhòe hình. Để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu của học sinh, sinh viên và người yêu hội họa chúng tôi đã phục chế để cho ra hình ảnh khá sắc nét với chiều ngang 2500px. Mật độ điểm ảnh 300px/inch. In đẹp trên chất liệu Canvas kích thước khoảng 50x66cm.

Bức tranh được cho là đã được bán ra nước ngoài vào năm 1983 bởi một nhà sưu tập tranh Việt Nam. Đây là điều đáng tiếc bởi theo các chuyên gia bức tranh có bố cục hoàn hảo, một kiệt tác của thế hệ vàng họa sĩ của Việt Nam. Các bức hình hiện nay trên mạng đều là tranh chép lại tác phẩm gốc.

Bức hình chúng tôi chọn để phục chế dựa trên nghiên cứu màu sắc, bút pháp từ các tác phẩm còn lại của ông tại bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam

Kính mời những người yêu nghệ thuật chiêm ngưỡng 1 lần nữa tác phẩm của ông.

Chúng tôi sẵn sàng cung cấp file gốc phục chế lớn nhất cho những yêu nghệ thuật nước nhà, yêu mến họa sĩ Tô Ngọc Vân.


Nguồn: Tranh-dep.com. - 21 August 2019 06:55




Bản phục chế kỹ thuật số tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ

Tác giả Shinstyle


Với một tình yêu lớn, một sự kính trọng họa sĩ Tô Ngọc Vân các họa sĩ của chúng tôi đã tiến hành phục chế lại 1 bản kỹ thuật số cho riêng mình. một kiệt tác hội hoa đã bị mất của Việt Nam. Trong quá trình phục chế chúng tôi có tìm rất nhiều nguồn ảnh từ các nước có lưu trữ nhiều về văn hóa Việt như Pháp, Nga, Nhật Bản và quyết định chọn 1 tác phẩm được cho là giống với bản gốc nhất.

Hiện tại khi tìm kiếm tranh của Tô Ngọc Vân trên google hình ảnh cho rất ít hình ảnh có kích thước lớn, tối đa chi 600px chiều ngang và bị vỡ, nhòe hình. Để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu của học sinh, sinh viên và người yêu hội họa chúng tôi đã phục chế để cho ra hình ảnh khá sắc nét với chiều ngang 2500px. Mật độ điểm ảnh 300px/inch. In đẹp trên chất liệu Canvas kích thước khoảng 50x66cm.

Bức tranh được cho là đã được bán ra nước ngoài vào năm 1983 bởi một nhà sưu tập tranh Việt Nam. Đây là điều đáng tiếc bởi theo các chuyên gia bức tranh có bố cục hoàn hảo, một kiệt tác của thế hệ vàng họa sĩ của Việt Nam. Các bức hình hiện nay trên mạng đều là tranh chép lại tác phẩm gốc.

Bức hình chúng tôi chọn để phục chế dựa trên nghiên cứu màu sắc, bút pháp từ các tác phẩm còn lại của ông tại bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam

Kính mời những người yêu nghệ thuật chiêm ngưỡng 1 lần nữa tác phẩm của ông.

Chúng tôi sẵn sàng cung cấp file gốc phục chế lớn nhất cho những yêu nghệ thuật nước nhà, yêu mến họa sĩ Tô Ngọc Vân.


Nguồn: Tranh-dep.com. - 21 August 2019 06:55




Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

Danh họa Tô Ngọc Vân: Cần thêm chút thân tình với hội họa

Danh họa Tô Ngọc Vân: Cần thêm chút thân tình với hội họa

Huyền Minh


Danh họa Tô Ngọc Vân cất tiếng khóc chào đời ở Hà Nội nhưng quê gốc xứ Đông, xã Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông hy sinh ngày 17/6/1954 ở km 41 Ba Khe, bên kia đèo Lũng Lô, gần chiến trường Điện Biên Phủ. Ông đã được truy tặng danh hiệu liệt sĩ và được cải táng trong nghĩa trang Mai Dịch…



Vừa là một trong những người có công đặt nền móng cho hội họa hiện đại nước nhà, vừa là một nhà lý luận nghệ thuật bậc thầy, Tô Ngọc Vân đã trải qua những tháng ngày sống và sáng tạo rất không dễ dàng, trong những năm tháng dân tộc và đất nước vượt lên những thử thách khắc nghiệt của thời kháng chiến. Không phải mọi điều ông làm và nói đều được những người đồng thời hiểu đúng, nhưng Tổ quốc cuối cùng vẫn đánh giá đúng cống hiến to lớn của ông. Tô Ngọc Vân là họa sĩ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên năm 1996. Tên họ ông được đặt cho nhiều con đường ở Việt Nam. Một ngọn núi lửa trên sao Thủy cũng mang tên ông…

Tài năng từ trẻ

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906. Năm 20 tuổi, ông thi đỗ vào học khóa II Khoa Sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tới năm 1931, sau khi tốt nghiệp, mặc dù đã nổi tiếng và có tranh được giải thưởng ở Pháp nhưng ông đã phải lần hồi kiếm sống bằng chính nghề vẽ thuê và minh họa cho các báo. Rồi năm 1935, ông được bổ nhiệm làm giáo viên dạy vẽ ở Phnom Penh. Năm 1938, ông chuyển về Hà Nội, dạy ở trường cũ…

Những tác phẩm đầu tiên của Tô Ngọc Vân thiên về phong cảnh, tuy cũng thu hút được sự chú ý của xã hội nhưng phải tới đầu những năm 1940, ông mới thực sự được đánh giá cao với những bức tranh thiếu nữ như Buổi trưa và Thiếu nữ bên hoa huệ (cả hai đều được vẽ năm 1943), Thiếu nữ bên hoa (1944)… Ở ông, những tri thức hội họa phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam. Ông là một trong những họa sĩ người Việt hiếm hoi từng vẽ tem ngay trong thời Pháp thuộc. Những cảm xúc từ xứ sở Ăngco đã giúp ông tạo nên mẫu tem Ápsara. Đó là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư và cũng là duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam…

Tô Ngọc Vân được đánh giá là một tài năng xuất sắc, một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nhiệt huyết và tình yêu quê hương, đất nước nóng bỏng, có công đầu trong việc sử dụng sơn dầu vào hội họa hiện đại. Ông từng được xếp ở vị trí thứ ba trong câu truyền tụng về “tứ bất tử” của nền hội họa Việt Nam thế kỷ XX: “Nhất Trí” (Nguyễn Gia Trí), “nhì Lân” (Nguyễn Tường Lân), “tam Vân” (Tô Ngọc Vân), “tứ Cẩn” (Trần Văn Cẩn)...

Họa sĩ chiến sĩ

Đi theo cách mạng, Tô Ngọc Vân cũng đã có những đóng góp nổi bật cho nền nghệ thuật nước nhà. Trong Phòng triển lãm Hội họa Kháng chiến 1947-1948, khai mạc ngày 18-7-1948 (ngày Văn nghệ trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc) có trưng bày tác phẩm của ông. Theo lời tường thuật trên Tạp chí Văn nghệ, “Tô Ngọc Vân cũng vận dụng cái đẹp của người con gái để diễn tả cảm xúc của mình. Trong bức tranh Thủ đô kháng chiến, họa sĩ dùng hình cô thiếu nữ để tượng trưng cho cái đẹp của Thủ đô”. Những ký họa kháng chiến của ông mang đậm hơi thở nóng bỏng của thời cuộc nhưng vẫn toát lên những cảm xúc nhân văn sâu sắc.

Danh họa Tô Ngọc Vân còn là nhà lý luận lớn, đầy tự trọng về mỹ thuật. Ông quan niệm rất tỉnh táo và đúng mực về vai trò của hội họa:
“Người ngoài nghề hội họa thường không rõ hội họa với văn chương tuy có nhiều đồng tính trên đất nghệ thuật, nhưng khả năng khác nhau và không thể thay thế lẫn nhau một cách thỏa mãn. Văn chương diễn đạt tư tưởng đến một chỗ tế nhị. Hội họa chỉ có thể khơi gợi tư tưởng mà không diễn đạt nổi. Thay tập Pensées của Pascal bằng tập tranh để người xem tranh thấu hiểu tư tưởng ông mà không đọc đến tập Pensées là việc cả thế giới hội họa đều chịu. Khi nhà họa sĩ xã hội đặt ở cùng bức họa người đói rách cạnh kẻ phú hào, ý thức về sự bất công trong xã hội có thể GỢI lên được. Còn truy tầm đến căn nguyên của vấn đề, thâm diễn mọi khía cạnh của nó, hội họa chịu. Kể lại một gương chiến đấu của ta trong cuộc vật lộn với kẻ thù ngày nay, văn chương có khả năng để làm. Hội họa chỉ có thể trình ra một cách chiến đấu để GỢI ý người xem. Hội họa so với văn chương bất lực để diễn ý, nhưng sở năng diễn TÌNH”...

Hiểu biết sâu sắc về mỹ thuật thế giới nhưng Tô Ngọc Vân luôn lấy hồn vía dân tộc làm căn bản. Trong buổi thuyết trình trước Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày Văn nghệ 19-7-1948, ông đã nói về sơn mài và khẳng định:
“Dư luận Âu châu thắc mắc hỏi: hội họa nên hướng về đâu?

Chúng tôi đáp: Hướng về Việt Nam!

Hội họa thế giới, theo ý chúng tôi, sẽ thấy lối cải sinh cho mình trong sơn mài... Sơn mài được điêu luyện trong tay người Việt Nam, sẽ trao như kỷ niệm của những người đã chiến đấu cho tự do, hòa bình, trao sang tay các nghệ sĩ trên thế giới, góp một phần vào sự xây dựng một nền nghệ thuật mới của nhân loại”.

“Tranh đấu bằng quân sự, chính trị để chứng tỏ chúng ta có khả năng sánh vai với các nước độc lập trên thế giới chưa đủ. Còn cần đoạt được tinh thần độc lập trong văn nghệ.

Công chúng mới của chúng ta không chỉ Việt Nam. Thành quách đô hộ bịt quanh tô giới nước Việt Nam đã sụp. Người thế giới đã nhìn thấy Việt Nam rồi. Giá trị địa phương không còn đủ là một giá trị hoàn toàn.

Muốn nói thứ tiếng văn nghệ quốc tế nhất là hội họa với một giọng độc lập, giới họa sĩ Việt Nam thấy cần phải hướng về tính dân tộc...

Chớ ai lấy nê sự giao thông ngày nay đã nối giòng liền những dân tộc khác tính và xa nhau, mà quan niệm một kiểu nghệ thuật thế giới xóa nhòa bản chất dân tộc...”
(Bài báo Bao giờ mới có hội họa Việt Nam, in trên Tạp chí Văn nghệ số mùa xuân năm 1949).

Đối với Tô Ngọc Vân, sáng tạo là quá trình phấn đấu, tu luyện không ngừng nghỉ. Ông tâm sự trên số tháng Tư năm 1948 Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) mà nhà thơ Tố Hữu làm Thư ký Tòa soạn:
“Riêng phần tôi, mỗi bức xong là kèm theo bất mãn và có khi thất vọng. Tác phẩm lúc còn ở trong óc mình, sao nó đẹp và to thế! Mỗi bức tranh sinh sau là một sự cố gắng ước mong hơn để cố nhích một chút trên đường nghệ thuật. Bọn nghệ sĩ chúng tôi cứ thế mà đi, chưa hề tưởng mình đã “đến”, quan niệm sáng tác là lẽ sống của mình, là sự cần sống của mình. Còn câu chuyện “huy chương”, phỏng có trọng lượng gì?”.
Tô Ngọc Vân cũng xác định rất rõ về sứ mệnh của người nghệ sĩ. Trong bài viết đã dẫn trên Tạp chí Văn nghệ, tranh luận với học giả Đặng Thai Mai về tranh tuyền truyền và hội họa, ông đã nhấn mạnh:

“Để “kết luận “vài ý nghĩ” của ông, ông Đặng Thai Mai nêu ra một vấn đề nghệ thuật mà ông coi là “chính”, ông hỏi: “Ta đã thiệt cảm thông với đề tài, với độc giả, với khán giả của ta chưa? Ta đã cầm chắc được những nhận xét thấu đáo về tri thức, về khoa học và bút pháp kỹ thuật cần cho sự biểu hiện của thiên tài chưa?”.

Nhưng tôi nói:

“Sống! Sống thêm nữa! Với đau khổ! Hứng cảm của mọi người!

Rồi sáng tác và sáng tác! Với tất cả tấm lòng thiết tha yêu mến”.

- Thế còn “thiên tài”?

- A, thiên tài. Thế anh sáng tác cho anh hay để làm thiên tài?”

Thật chí lý và hóm hỉnh!

Tô Ngọc Vân đã sớm bộc lộ quan điểm của mình về tính quần chúng trong hội họa nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Tháng 2-1949, trong báo Họa: Học hay không học?, ông đã đưa ra những bàn luận của cá nhân mình về bài viết của đồng chí Trường Chinh Mấy vấn đề thắc mắc về văn nghệ, trong đó khẳng định: “Quần chúng là giám khảo sáng suốt nhất”. Cũng chính đồng chí Trường Chinh đã đặt ra câu hỏi: “Quần chúng có cần học nghệ thuật rồi mới phê bình được không?” rồi tự trả lời: “Thưa không… Bởi vì quần chúng gồm nhiều tai mắt, óc khôn và cảm giác chung đấu lại…”. Thế nhưng, theo Tô Ngọc Vân,
“quần chúng phải học nghệ thuật hội họa mới thưởng thức sâu rộng được hội họa, phải học tiếng nói của hình sắc mới nghe được hình sắc kể lể những gì. Có tai mắt, dù là của nhiều người, mà chỉ quen biết cái vỏ ngoài của bức họa; có óc không, dù là của số đông, dù khôn ở đâu đâu ấy, nhưng lạc vào một địa hạt bỡ ngỡ, xa lạ, có cảm giác; dù là của đại chúng, nếu không được luyện tập để đồng điệu với mỹ cảm, thời tai mắt, óc khôn, cảm giác ấy chưa có gì bảo đảm để hướng dẫn người chuyên môn hội họa trên đường sáng tác”.
Và danh họa khẳng định:
“Khi quần chúng đã gây dựng được vốn tri thức về hội họa rồi, quần chúng đủ lẽ để có quyền hưởng thụ, mạt sát hay ca tụng. Khi ấy, người họa sĩ sẽ tin cậy ở quần chúng, sẽ do nơi quần chúng mà kiểm tra sản phẩm của mình. Lúc đó thì, còn đâu là thắc mắc của người sáng tác đứng giữa hai cái mình phụng sự dân tộc đại chúng và phụng sự nghệ thuật, khi đó đã kết tinh thành một! Lúc ấy, họa sĩ sẽ tin tưởng: “Quần chúng là quan giám khảo... sáng suốt nhất”...
Để kín kẽ hơn trong lập luận khi đưa ra một ý kiến không trùng khít với lãnh đạo, Tô Ngọc Vân đã ý vị nhấn mạnh:
“Thực ra ông Trường Chinh cũng không nghĩ khác tôi đâu. Ông đã nhận trình độ văn nghệ của quần chúng nước ta hiện nay kém. Khuyên nhà văn nghệ đừng “quên dùng tác phẩm của mình đưa trình độ nhân dân lên một mực cao hơn. Ông đã đề ra một lối luyện học cho quần chúng. Tôi chỉ muốn thêm vào lối này một phần học hỏi dầy hơn, nhiều sự chú ý về hội họa nữa, và cái chất này cần lắm: một chút thân tình với hội họa”.

Bây giờ đọc lại nhiều bài viết của Tô Ngọc Vân, càng thấm thía sự đúng đắn và đúng mực của ông trong tư duy về nghệ thuật…

Huyền Minh
Nguồn: Báo Đại Đoàn Kết - 14:05:13 08/01/2020

Danh họa Tô Ngọc Vân: Cần thêm chút thân tình với hội họa

Huyền Minh


Danh họa Tô Ngọc Vân cất tiếng khóc chào đời ở Hà Nội nhưng quê gốc xứ Đông, xã Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông hy sinh ngày 17/6/1954 ở km 41 Ba Khe, bên kia đèo Lũng Lô, gần chiến trường Điện Biên Phủ. Ông đã được truy tặng danh hiệu liệt sĩ và được cải táng trong nghĩa trang Mai Dịch…



Vừa là một trong những người có công đặt nền móng cho hội họa hiện đại nước nhà, vừa là một nhà lý luận nghệ thuật bậc thầy, Tô Ngọc Vân đã trải qua những tháng ngày sống và sáng tạo rất không dễ dàng, trong những năm tháng dân tộc và đất nước vượt lên những thử thách khắc nghiệt của thời kháng chiến. Không phải mọi điều ông làm và nói đều được những người đồng thời hiểu đúng, nhưng Tổ quốc cuối cùng vẫn đánh giá đúng cống hiến to lớn của ông. Tô Ngọc Vân là họa sĩ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên năm 1996. Tên họ ông được đặt cho nhiều con đường ở Việt Nam. Một ngọn núi lửa trên sao Thủy cũng mang tên ông…

Tài năng từ trẻ

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906. Năm 20 tuổi, ông thi đỗ vào học khóa II Khoa Sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tới năm 1931, sau khi tốt nghiệp, mặc dù đã nổi tiếng và có tranh được giải thưởng ở Pháp nhưng ông đã phải lần hồi kiếm sống bằng chính nghề vẽ thuê và minh họa cho các báo. Rồi năm 1935, ông được bổ nhiệm làm giáo viên dạy vẽ ở Phnom Penh. Năm 1938, ông chuyển về Hà Nội, dạy ở trường cũ…

Những tác phẩm đầu tiên của Tô Ngọc Vân thiên về phong cảnh, tuy cũng thu hút được sự chú ý của xã hội nhưng phải tới đầu những năm 1940, ông mới thực sự được đánh giá cao với những bức tranh thiếu nữ như Buổi trưa và Thiếu nữ bên hoa huệ (cả hai đều được vẽ năm 1943), Thiếu nữ bên hoa (1944)… Ở ông, những tri thức hội họa phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam. Ông là một trong những họa sĩ người Việt hiếm hoi từng vẽ tem ngay trong thời Pháp thuộc. Những cảm xúc từ xứ sở Ăngco đã giúp ông tạo nên mẫu tem Ápsara. Đó là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư và cũng là duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam…

Tô Ngọc Vân được đánh giá là một tài năng xuất sắc, một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nhiệt huyết và tình yêu quê hương, đất nước nóng bỏng, có công đầu trong việc sử dụng sơn dầu vào hội họa hiện đại. Ông từng được xếp ở vị trí thứ ba trong câu truyền tụng về “tứ bất tử” của nền hội họa Việt Nam thế kỷ XX: “Nhất Trí” (Nguyễn Gia Trí), “nhì Lân” (Nguyễn Tường Lân), “tam Vân” (Tô Ngọc Vân), “tứ Cẩn” (Trần Văn Cẩn)...

Họa sĩ chiến sĩ

Đi theo cách mạng, Tô Ngọc Vân cũng đã có những đóng góp nổi bật cho nền nghệ thuật nước nhà. Trong Phòng triển lãm Hội họa Kháng chiến 1947-1948, khai mạc ngày 18-7-1948 (ngày Văn nghệ trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc) có trưng bày tác phẩm của ông. Theo lời tường thuật trên Tạp chí Văn nghệ, “Tô Ngọc Vân cũng vận dụng cái đẹp của người con gái để diễn tả cảm xúc của mình. Trong bức tranh Thủ đô kháng chiến, họa sĩ dùng hình cô thiếu nữ để tượng trưng cho cái đẹp của Thủ đô”. Những ký họa kháng chiến của ông mang đậm hơi thở nóng bỏng của thời cuộc nhưng vẫn toát lên những cảm xúc nhân văn sâu sắc.

Danh họa Tô Ngọc Vân còn là nhà lý luận lớn, đầy tự trọng về mỹ thuật. Ông quan niệm rất tỉnh táo và đúng mực về vai trò của hội họa:
“Người ngoài nghề hội họa thường không rõ hội họa với văn chương tuy có nhiều đồng tính trên đất nghệ thuật, nhưng khả năng khác nhau và không thể thay thế lẫn nhau một cách thỏa mãn. Văn chương diễn đạt tư tưởng đến một chỗ tế nhị. Hội họa chỉ có thể khơi gợi tư tưởng mà không diễn đạt nổi. Thay tập Pensées của Pascal bằng tập tranh để người xem tranh thấu hiểu tư tưởng ông mà không đọc đến tập Pensées là việc cả thế giới hội họa đều chịu. Khi nhà họa sĩ xã hội đặt ở cùng bức họa người đói rách cạnh kẻ phú hào, ý thức về sự bất công trong xã hội có thể GỢI lên được. Còn truy tầm đến căn nguyên của vấn đề, thâm diễn mọi khía cạnh của nó, hội họa chịu. Kể lại một gương chiến đấu của ta trong cuộc vật lộn với kẻ thù ngày nay, văn chương có khả năng để làm. Hội họa chỉ có thể trình ra một cách chiến đấu để GỢI ý người xem. Hội họa so với văn chương bất lực để diễn ý, nhưng sở năng diễn TÌNH”...

Hiểu biết sâu sắc về mỹ thuật thế giới nhưng Tô Ngọc Vân luôn lấy hồn vía dân tộc làm căn bản. Trong buổi thuyết trình trước Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày Văn nghệ 19-7-1948, ông đã nói về sơn mài và khẳng định:
“Dư luận Âu châu thắc mắc hỏi: hội họa nên hướng về đâu?

Chúng tôi đáp: Hướng về Việt Nam!

Hội họa thế giới, theo ý chúng tôi, sẽ thấy lối cải sinh cho mình trong sơn mài... Sơn mài được điêu luyện trong tay người Việt Nam, sẽ trao như kỷ niệm của những người đã chiến đấu cho tự do, hòa bình, trao sang tay các nghệ sĩ trên thế giới, góp một phần vào sự xây dựng một nền nghệ thuật mới của nhân loại”.

“Tranh đấu bằng quân sự, chính trị để chứng tỏ chúng ta có khả năng sánh vai với các nước độc lập trên thế giới chưa đủ. Còn cần đoạt được tinh thần độc lập trong văn nghệ.

Công chúng mới của chúng ta không chỉ Việt Nam. Thành quách đô hộ bịt quanh tô giới nước Việt Nam đã sụp. Người thế giới đã nhìn thấy Việt Nam rồi. Giá trị địa phương không còn đủ là một giá trị hoàn toàn.

Muốn nói thứ tiếng văn nghệ quốc tế nhất là hội họa với một giọng độc lập, giới họa sĩ Việt Nam thấy cần phải hướng về tính dân tộc...

Chớ ai lấy nê sự giao thông ngày nay đã nối giòng liền những dân tộc khác tính và xa nhau, mà quan niệm một kiểu nghệ thuật thế giới xóa nhòa bản chất dân tộc...”
(Bài báo Bao giờ mới có hội họa Việt Nam, in trên Tạp chí Văn nghệ số mùa xuân năm 1949).

Đối với Tô Ngọc Vân, sáng tạo là quá trình phấn đấu, tu luyện không ngừng nghỉ. Ông tâm sự trên số tháng Tư năm 1948 Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) mà nhà thơ Tố Hữu làm Thư ký Tòa soạn:
“Riêng phần tôi, mỗi bức xong là kèm theo bất mãn và có khi thất vọng. Tác phẩm lúc còn ở trong óc mình, sao nó đẹp và to thế! Mỗi bức tranh sinh sau là một sự cố gắng ước mong hơn để cố nhích một chút trên đường nghệ thuật. Bọn nghệ sĩ chúng tôi cứ thế mà đi, chưa hề tưởng mình đã “đến”, quan niệm sáng tác là lẽ sống của mình, là sự cần sống của mình. Còn câu chuyện “huy chương”, phỏng có trọng lượng gì?”.
Tô Ngọc Vân cũng xác định rất rõ về sứ mệnh của người nghệ sĩ. Trong bài viết đã dẫn trên Tạp chí Văn nghệ, tranh luận với học giả Đặng Thai Mai về tranh tuyền truyền và hội họa, ông đã nhấn mạnh:

“Để “kết luận “vài ý nghĩ” của ông, ông Đặng Thai Mai nêu ra một vấn đề nghệ thuật mà ông coi là “chính”, ông hỏi: “Ta đã thiệt cảm thông với đề tài, với độc giả, với khán giả của ta chưa? Ta đã cầm chắc được những nhận xét thấu đáo về tri thức, về khoa học và bút pháp kỹ thuật cần cho sự biểu hiện của thiên tài chưa?”.

Nhưng tôi nói:

“Sống! Sống thêm nữa! Với đau khổ! Hứng cảm của mọi người!

Rồi sáng tác và sáng tác! Với tất cả tấm lòng thiết tha yêu mến”.

- Thế còn “thiên tài”?

- A, thiên tài. Thế anh sáng tác cho anh hay để làm thiên tài?”

Thật chí lý và hóm hỉnh!

Tô Ngọc Vân đã sớm bộc lộ quan điểm của mình về tính quần chúng trong hội họa nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Tháng 2-1949, trong báo Họa: Học hay không học?, ông đã đưa ra những bàn luận của cá nhân mình về bài viết của đồng chí Trường Chinh Mấy vấn đề thắc mắc về văn nghệ, trong đó khẳng định: “Quần chúng là giám khảo sáng suốt nhất”. Cũng chính đồng chí Trường Chinh đã đặt ra câu hỏi: “Quần chúng có cần học nghệ thuật rồi mới phê bình được không?” rồi tự trả lời: “Thưa không… Bởi vì quần chúng gồm nhiều tai mắt, óc khôn và cảm giác chung đấu lại…”. Thế nhưng, theo Tô Ngọc Vân,
“quần chúng phải học nghệ thuật hội họa mới thưởng thức sâu rộng được hội họa, phải học tiếng nói của hình sắc mới nghe được hình sắc kể lể những gì. Có tai mắt, dù là của nhiều người, mà chỉ quen biết cái vỏ ngoài của bức họa; có óc không, dù là của số đông, dù khôn ở đâu đâu ấy, nhưng lạc vào một địa hạt bỡ ngỡ, xa lạ, có cảm giác; dù là của đại chúng, nếu không được luyện tập để đồng điệu với mỹ cảm, thời tai mắt, óc khôn, cảm giác ấy chưa có gì bảo đảm để hướng dẫn người chuyên môn hội họa trên đường sáng tác”.
Và danh họa khẳng định:
“Khi quần chúng đã gây dựng được vốn tri thức về hội họa rồi, quần chúng đủ lẽ để có quyền hưởng thụ, mạt sát hay ca tụng. Khi ấy, người họa sĩ sẽ tin cậy ở quần chúng, sẽ do nơi quần chúng mà kiểm tra sản phẩm của mình. Lúc đó thì, còn đâu là thắc mắc của người sáng tác đứng giữa hai cái mình phụng sự dân tộc đại chúng và phụng sự nghệ thuật, khi đó đã kết tinh thành một! Lúc ấy, họa sĩ sẽ tin tưởng: “Quần chúng là quan giám khảo... sáng suốt nhất”...
Để kín kẽ hơn trong lập luận khi đưa ra một ý kiến không trùng khít với lãnh đạo, Tô Ngọc Vân đã ý vị nhấn mạnh:
“Thực ra ông Trường Chinh cũng không nghĩ khác tôi đâu. Ông đã nhận trình độ văn nghệ của quần chúng nước ta hiện nay kém. Khuyên nhà văn nghệ đừng “quên dùng tác phẩm của mình đưa trình độ nhân dân lên một mực cao hơn. Ông đã đề ra một lối luyện học cho quần chúng. Tôi chỉ muốn thêm vào lối này một phần học hỏi dầy hơn, nhiều sự chú ý về hội họa nữa, và cái chất này cần lắm: một chút thân tình với hội họa”.

Bây giờ đọc lại nhiều bài viết của Tô Ngọc Vân, càng thấm thía sự đúng đắn và đúng mực của ông trong tư duy về nghệ thuật…

Huyền Minh
Nguồn: Báo Đại Đoàn Kết - 14:05:13 08/01/2020

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

Bánh cốm và...

Bánh cốm và...

Hoàng Quốc Hải


Những nhà văn nhà vẽ ấy, chắc chẳng ai ngờ mình đã lưu lại ấn tượng trên bánh cốm!
Cái thời con người ta biết “chuộng sự tinh tế” trong miếng ăn miếng uống, nó qua lâu rồi nhỉ.

(Thu Tứ)

Cụ bà Nguyên Ninh ở số 11 Hàng Than (…) Đất làng Thạch Khối xưa, nay là phố Hàng Than. Gia đình cụ từ làng Yên Ninh chuyển sang. Ðể nhớ về làng cũ (...) tên hiệu lấy là NGUYÊN NINH (...) Ðó chính là nơi (...) phát minh ra chiếc bánh cốm. Cụ bà Nguyên Ninh không phải là tác giả, mà chỉ là con dâu của dòng họ Nguyễn (...) kế tục (...) hoàn thiện nghề bánh cốm đạt tới đỉnh cao của “Miếng ngon Hà Nội” (...) Nghề bánh cốm của dòng họ Nguyễn (...) đã có từ trên một trăm năm (...)

- Cậu thấy bánh cốm nhà Nguyên Ninh thế nào?” (...)

- Cháu (...) thấy ngon, dẻo nhưng hơi đanh, thơm mùi cốm nhưng thỉnh thoảng có hạt cưng cứng, nhai kỹ có mùi ngầy ngậy. Nhưng thưa cụ, cháu không thấy mùi hương bưởi như bánh cốm Nguyên Ninh ngày trước (...)

- Cậu tinh đấy. Cái mà cậu bảo là cứng cứng ấy chính là những hạt cốm dọn, mầu nó trăng trắng, nó lặn vào với các hạt cốm nhuyễn kia, nom lốm đốm như trứng cá, mà ông Vũ Bằng nhà văn gọi là “cốm trứng cá”. Ông thích ăn loại cốm này. Bao giờ đến chơi với ông nhà tôi, ông Vũ Bằng cũng chỉ đòi ăn “bánh cốm trứng cá”. Còn ông Tô Ngọc Vân lại đòi bằng được cháy bánh cốm. Thật ra các ông ấy về cái mặt ăn uống thì rành lắm, kỹ tính lắm. Ông Nguyễn Tuân sành ăn thế nào tôi không được biết, chứ như ông Vũ Bằng thì tôi thấy ông ấy tinh như ma, chẳng có cái gì qua được mắt ông ấy. Ông Thạch Lam có qua đây. Lâu ngày tôi không còn nhớ rõ về ông (...) Ông (...) hay giữ ý, khó khăn lắm mới mời được ông nếm bánh. Chiếc bánh bằng cái lưỡi mèo xắt tư, ông chỉ xắn có một góc. Ông ăn ít, nhưng ông ngắm chiếc bánh cốm khi chưa bóc thật là say mê. Nom ông ngồ ngộ như một đứa trẻ vừa thấy món đồ chơi lạ (...)

Nghe cụ nói, tôi giật mình, trong khi nhà văn Thạch Lam quan sát chiếc bánh cốm, thì cụ quan sát nhà văn (...)

Trở lại chi tiết tôi phàn nàn về chiếc bánh cốm ngày nay không có hương vị ngan ngát của hương hoa bưởi, cụ bà Nguyên Ninh đổi ngay sắc diện. Tôi nom cụ buồn hẳn đi (...)

- Cái mùi hương bưởi ấy mất đi từ mấy chục năm rồi (...) Ngày trước (mất mấy chữ) mùa bánh cốm là phải (...) dặn các lái hoa. Cữ giêng hai khi mùa hoa bưởi rộ, người ta gánh về đây kìn kìn. Lò chưng cất nước hoa bưởi nấu suốt ngày đêm. Cả cái làng Thạch Khối có phố Hàng Than này, nhà nào cũng như được ướp tẩm bằng hương hoa bưởi. Người đi đường cũng phải dừng lại hít hà hương thơm (...) Người bây giờ ít chuộng sự tinh tế như người xưa. Ðúng là mỗi thời mỗi khác.

Thoắt đã mười năm từ cái buổi tôi được cụ cho nghe đôi điều về nghề làm bánh cốm (...)


Láng Thượng 28-12-1999


(Hoàng Quốc Hải, Ký sự ven hồ, nxb. Hà Nội, 2004, tr. 169-176. Nhan đề phần trích tạm đặt.)




Nguồn: Góc Nhìn -

Bánh cốm và...

Hoàng Quốc Hải


Những nhà văn nhà vẽ ấy, chắc chẳng ai ngờ mình đã lưu lại ấn tượng trên bánh cốm!
Cái thời con người ta biết “chuộng sự tinh tế” trong miếng ăn miếng uống, nó qua lâu rồi nhỉ.

(Thu Tứ)

Cụ bà Nguyên Ninh ở số 11 Hàng Than (…) Đất làng Thạch Khối xưa, nay là phố Hàng Than. Gia đình cụ từ làng Yên Ninh chuyển sang. Ðể nhớ về làng cũ (...) tên hiệu lấy là NGUYÊN NINH (...) Ðó chính là nơi (...) phát minh ra chiếc bánh cốm. Cụ bà Nguyên Ninh không phải là tác giả, mà chỉ là con dâu của dòng họ Nguyễn (...) kế tục (...) hoàn thiện nghề bánh cốm đạt tới đỉnh cao của “Miếng ngon Hà Nội” (...) Nghề bánh cốm của dòng họ Nguyễn (...) đã có từ trên một trăm năm (...)

- Cậu thấy bánh cốm nhà Nguyên Ninh thế nào?” (...)

- Cháu (...) thấy ngon, dẻo nhưng hơi đanh, thơm mùi cốm nhưng thỉnh thoảng có hạt cưng cứng, nhai kỹ có mùi ngầy ngậy. Nhưng thưa cụ, cháu không thấy mùi hương bưởi như bánh cốm Nguyên Ninh ngày trước (...)

- Cậu tinh đấy. Cái mà cậu bảo là cứng cứng ấy chính là những hạt cốm dọn, mầu nó trăng trắng, nó lặn vào với các hạt cốm nhuyễn kia, nom lốm đốm như trứng cá, mà ông Vũ Bằng nhà văn gọi là “cốm trứng cá”. Ông thích ăn loại cốm này. Bao giờ đến chơi với ông nhà tôi, ông Vũ Bằng cũng chỉ đòi ăn “bánh cốm trứng cá”. Còn ông Tô Ngọc Vân lại đòi bằng được cháy bánh cốm. Thật ra các ông ấy về cái mặt ăn uống thì rành lắm, kỹ tính lắm. Ông Nguyễn Tuân sành ăn thế nào tôi không được biết, chứ như ông Vũ Bằng thì tôi thấy ông ấy tinh như ma, chẳng có cái gì qua được mắt ông ấy. Ông Thạch Lam có qua đây. Lâu ngày tôi không còn nhớ rõ về ông (...) Ông (...) hay giữ ý, khó khăn lắm mới mời được ông nếm bánh. Chiếc bánh bằng cái lưỡi mèo xắt tư, ông chỉ xắn có một góc. Ông ăn ít, nhưng ông ngắm chiếc bánh cốm khi chưa bóc thật là say mê. Nom ông ngồ ngộ như một đứa trẻ vừa thấy món đồ chơi lạ (...)

Nghe cụ nói, tôi giật mình, trong khi nhà văn Thạch Lam quan sát chiếc bánh cốm, thì cụ quan sát nhà văn (...)

Trở lại chi tiết tôi phàn nàn về chiếc bánh cốm ngày nay không có hương vị ngan ngát của hương hoa bưởi, cụ bà Nguyên Ninh đổi ngay sắc diện. Tôi nom cụ buồn hẳn đi (...)

- Cái mùi hương bưởi ấy mất đi từ mấy chục năm rồi (...) Ngày trước (mất mấy chữ) mùa bánh cốm là phải (...) dặn các lái hoa. Cữ giêng hai khi mùa hoa bưởi rộ, người ta gánh về đây kìn kìn. Lò chưng cất nước hoa bưởi nấu suốt ngày đêm. Cả cái làng Thạch Khối có phố Hàng Than này, nhà nào cũng như được ướp tẩm bằng hương hoa bưởi. Người đi đường cũng phải dừng lại hít hà hương thơm (...) Người bây giờ ít chuộng sự tinh tế như người xưa. Ðúng là mỗi thời mỗi khác.

Thoắt đã mười năm từ cái buổi tôi được cụ cho nghe đôi điều về nghề làm bánh cốm (...)


Láng Thượng 28-12-1999


(Hoàng Quốc Hải, Ký sự ven hồ, nxb. Hà Nội, 2004, tr. 169-176. Nhan đề phần trích tạm đặt.)




Nguồn: Góc Nhìn -

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2020

Danh hoạ Tô Ngọc Vân tài hoa và uyên bác

Danh hoạ Tô Ngọc Vân tài hoa và uyên bác

infographics.vn



Hà Nội (TTXVN 16/6)
48 năm tuổi đời, 28 năm tuổi nghề với những đóng góp lớn lao không mệt mỏi, đầy nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình và trọng trách, Tô Ngọc Vân thực sự đã bắc được những nhịp cầu nhân ái và trí thức từ nghệ thuật với các thế hệ nối tiếp, vì tương lai văn hóa nước nhà*.
Danh hoạ Tô Ngọc Vân mất ngày 17/6/1954, cách đây 65 năm.





Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam - Ngày: 16/06/2019

Danh hoạ Tô Ngọc Vân tài hoa và uyên bác

infographics.vn



Hà Nội (TTXVN 16/6)
48 năm tuổi đời, 28 năm tuổi nghề với những đóng góp lớn lao không mệt mỏi, đầy nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình và trọng trách, Tô Ngọc Vân thực sự đã bắc được những nhịp cầu nhân ái và trí thức từ nghệ thuật với các thế hệ nối tiếp, vì tương lai văn hóa nước nhà*.
Danh hoạ Tô Ngọc Vân mất ngày 17/6/1954, cách đây 65 năm.





Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam - Ngày: 16/06/2019

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

Bất ngờ với gánh hàng rong Hà Nội xưa trong tranh 'họa sĩ triệu đô' Lê Phổ

Bất ngờ với gánh hàng rong Hà Nội xưa trong tranh 'họa sĩ triệu đô' Lê Phổ

THIÊN ĐIỂU
TTO - Ít ai ngờ, một thế giới sống động của những gánh hàng rong rảo bước khắp các phố phường Hà Nội xưa với những tiếng rao như thể một điệu hát đã từng được hiện hiện trong những bộ phác thảo đầu đời của những danh họa như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân…


Bất ngờ với gánh hàng rong Hà Nội xưa trong tranh họa sĩ triệu đô Lê Phổ - Ảnh 1.

Bất ngờ với gánh hàng rong Hà Nội xưa trong tranh 'họa sĩ triệu đô' Lê Phổ

THIÊN ĐIỂU
TTO - Ít ai ngờ, một thế giới sống động của những gánh hàng rong rảo bước khắp các phố phường Hà Nội xưa với những tiếng rao như thể một điệu hát đã từng được hiện hiện trong những bộ phác thảo đầu đời của những danh họa như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân…


Bất ngờ với gánh hàng rong Hà Nội xưa trong tranh họa sĩ triệu đô Lê Phổ - Ảnh 1.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

Ký họa "DÁNG HÌNH"

DÁNG HÌNH

Tô Ngọc Vân (1906-1954)




Mã: 21446 Lot: 05043
Phiên đấu giá: PI Auction House - Phiên số 05 "Hướng Dương"
Nhà đấu giá: PI Auction House
Ngày giờ đấu: 15:51 - 29/10/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Tên vật phẩm: DÁNG HÌNH
Nguồn gốc: Tô Ngọc Vân (1906-1954)
Chất liệu: Chì trên giấy
Kích thước: 28x20 cm
Giá khởi điểm: 20.000.000 đ
Giá gõ búa: 20.000.000 đ


Nguồn: PI Auction House - Phiên số 05 "Hướng Dương" - 29/10/2018

DÁNG HÌNH

Tô Ngọc Vân (1906-1954)




Mã: 21446 Lot: 05043
Phiên đấu giá: PI Auction House - Phiên số 05 "Hướng Dương"
Nhà đấu giá: PI Auction House
Ngày giờ đấu: 15:51 - 29/10/2018
Nhóm sản phẩm: Tranh
Tên vật phẩm: DÁNG HÌNH
Nguồn gốc: Tô Ngọc Vân (1906-1954)
Chất liệu: Chì trên giấy
Kích thước: 28x20 cm
Giá khởi điểm: 20.000.000 đ
Giá gõ búa: 20.000.000 đ


Nguồn: PI Auction House - Phiên số 05 "Hướng Dương" - 29/10/2018